NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU ĐỐI VỚI XE ĐẠP ĐIỆN
MỞ ĐẦU
1.Giới thiệu chung
1.1 Bối cảnh
Thực trạng giao thông, môi trường tại thành phố Hà Nội thật tồi tệ. Kẹt xe
diễn ra liên tục. Không khí đầy khói bụi. Thiết nghĩ, nếu người dân thành phố sử
dụng xe đạp điện nhiều hơn cho nhu cầu đi lại của cuộc sống thì tình trạng ô nhiễm
bầu không khí sẽ đỡ hơn, nạn kẹt xe cũng sẽ bớt căng thẳng hơn.
Xe đạp điện có rất nhiều ưu điểm so với xe máy: giá rẻ hơn; tiết kiệm hơn rất
nhiều, đặc biệt trong thời buổi giá xăng dầu tăng cao như hiện nay; vận tốc tối đa
có thể đạt đến 50 km/h, đủ để đáp ứng nhu cầu đi lại trong thành phố, và hoàn toàn
không gây ô nhiễm môi trường.
1.2Lý do chọn đề tài
Thị trường xe đạp điện ngày càng trở nên hấp dẫn và cạnh tranh khốc liệt ở
nước ta.Theo thời gian nhu cầu của con người cũng thay đổi, mỗi người có một cách
thức di chuyển và nhu cầu phương tiện riêng, tiến hành cuộc nghiên cứu để khảo sát
thi trường về nhu câu xe đạp điện , tìm các cơ hội kinh doanh về xe đạp điện cho
doanh nghiệp. Cuộc nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao trong tình hình hiện nay ,
các doanh nghiệp luôn muốn tìm kiếm thông tin về thị trường đang rất hấp dẫn này.
1.3 Vấn đề nghiên cứu
Nhu cầu về xe đạp điện của giới trẻ Hà Nội
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
-
1.5 Mục tiêu nghiên cứu
-Tìm ra nhu cầu sử dụng xe đạp điện thay thế cho các phương tiện khác.
-Chỉ ra lí do tại sao chọn xe đạp điện làm phương tiện di chuyển
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu : Nhu cầu sử dụng xe đạp điện.
-Đối tượng điều tra :Đối tượng chính là những người đã, đang và sẽ sở hữu một
chiếc xe đạp điện. Tuy nhiên do thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên sẽ thực hiện khảo
sát đối với các bạn trẻ dưới 18 đến trên 27 trên địa bàn thành phố Hà Nội
nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo
trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có
những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được.
Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì
khả năng chi phối con người càng cao. Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu
đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức
có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu
cầu).
Nhu cầu của một cá nhân, đa dạng và vô tận. Về mặt quản lý, người quản lý
chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Việc
thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định
hướng của nhà quản lý, do đó người quản lý luôn có thể điều khiển được các cá
nhân.
Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất
cân bằng của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu
tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại,
phát triển và tiến hóa
1.2 Đặc trưng của nhu cầu
• Không ổn định, biến đổi;
• Năng động;
• Biến đổi theo quy luật;
• Không bao giờ thỏa mãn cùng một lúc mọi nhu cầu;
• Ham muốn không có giới hạn.
1.3 Các loại nhu cầu
• Vật chất: nhu cầu bẩm sinh (thở, đói, tình dục), nhu cầu thông thường (ăn, uống,
không khí, bài tiết, ).
• Cảm xúc: tình thương yêu, tán thành, kính trọng, thừa nhận
• Xã hội: giáo dục, tôn giáo, giải trí
1.4 Các yếu tố tác động tới nhu cầu
THỰC TRẠNG VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG XE ĐẠP ĐIỆN
Để nắm bắt được nhu cầu đối với xe đạp điện trên địa bàn thành phố Hà Nội, chúng
tôi đã tiến hành 1 cuộc khảo sát bằng bảng hỏi gồm 45 phần tử trên các quận Hai Bà
Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Đống Đa…( một vài phiếu điều tra được lấy từ các
quận khác nhưng với số lượng nhỏ). Sau khi điều tra chính thức được 45 phần tử,
chúng tôi đã tiến hành xử lý và phân tích số liệu trên phần mềm Excel. Và sau đây là
kết quả có được.
Bài tiểu luận này được tiến hành trên số quan sát nhỏ nhưng khá tiêu biểu, mong
rằng có thể đưa ra những ý kiến khách quan nhất về nhu cầu đối với Xe đạp điện.
2.1 Thực trạng sử dụng phương tiện giao thông hiện nay
2.1.1 Thực trạng chung
Từ biểu đồ trên, có thể thấy rằng phương tiện giao thông được sử dụng
thường xuyên phổ biến nhất là Xe máy ( chiếm 42.22%), sau đó là phương tiện công
cộng, xe đạp điện, xa đạp và các phương tiện khác.
2.1.2 Thực trạng sử dụng xe đạp điện
Qua nghiên cứu chúng tôi đã tìm ra con số tương đối khách quan, có 62.22 %
số mẫu quan sát chưa từng sử dụng xe đạp điện, tuy nhiên thái độ đối với việc sử
dụng xe đạp điện trong tương lai lại khá tích cực. Điều này chứng tỏ thị trường kinh
doanh xe đạp điện ở Hà Nội khá có triển vọng.
Hiện nay chỉ có 15.56% số mẫu quan sát có kết quả là đang dùng xe đạp điện.
Con số phản ánh, hiện nay lượng xe đạp điện đang được sử dụng hiện khiêm tốn. Số
lượng đã dùng và chuyển sang phương tiện khác chiếm tới 13.33%.
Và chiếm con số không nhỏ- lên tới 8.89% là số người không thích dùng xe đạp
điện.
Để hiểu rõ hơn thực trạng sử dụng xe đạp điện hiện nay, cũng như nhu cầu đối
với phương tiện di chuyển này, chúng ta có những phân tích sâu hơn về mặt hàng
này.
2.2 Những ưu điểm và những hạn chế của Xe đạp điện
2.2.1 Ưu điểm
Có 37.78% số người nói: “nhiều kiểu dáng hiện đại”.
Trong khi đó, thông thường công suất tiêu thụ điện của bộ nạp khoảng 100W,
nạp liên tục năm giờ thì đầy điện. Lượng điện tiêu thụ mỗi lần nạp cho ba bình
ăcquy là 0,5kWh (100W x 5 giờ = 500W = 0,5kWh). Với đơn giá 1kWh điện sinh
hoạt trong 100kWh đầu tiên là 650 đồng (gồm 10% thuế giá trị gia tăng), nên số tiền
điện để nạp điện cho ăcquy trong hai năm khoảng 181.500 đồng (0,5kWh x 650đồng
x 600 lần nạp điện). Tính ra chi phí tiền điện cần cho xe đạp điện chạy được 1km
khoảng 10 đồng (181.500 đồng: 18.000km).
Còn tiêu hao xăng cho một xe gắn máy với cùng điều kiện nói trên: cứ tính
giá xăng A92 là 19.000 đồng/lít (tính tròn) với điều kiện đường sá trong TP, trung
bình 1 lít xăng chạy được 40km. Vậy tiền xăng cho 1km là 475 đồng. Để chạy
quãng đường 18.000km (so sánh cùng quãng đường với xe đạp điện), tổng cộng tiền
xăng là 8.550.000 đồng.
Như vậy, so với xe đạp điện, với cùng một quãng đường, cùng một khối
lượng chuyên chở (75kg), cùng vận tốc trung bình thì chi phí cho xăng của xe gắn
máy gấp 47,5 lần (475 đồng: 10 đồng).
Về mặt xã hội, với quãng đường 18.000km trong hai năm, với 1 triệu xe đạp
điện thì tiền điện cho việc nạp ăcquy là 181,5 tỉ đồng. Trong khi đó, chi phí tiền
xăng cho 1 triệu xe gắn máy chạy cùng quãng đường thì tốn đến 8.550 tỉ đồng. Tính
ra, số tiền chênh lệch về chi phí nhiên liệu năng lượng cho hai loại phương tiện này
lên đến 8.368,5 tỉ đồng. Có thể xem đây là số tiền xã hội có khả năng tiết kiệm được
từ việc không dùng xăng, nếu có 1 triệu xe đạp điện thay thế hoàn toàn 1 triệu xe
gắn máy.
2.2.2 Hạn chế của xe đạp điện
Qua biểu đồ trên, có thể thấy rằng đánh giá về nhược điểm của người dân về
xe đạp điện chủ yếu trên phương diện giá thành sản phẩm: 51.11% cho rằng giá của
1 chiếc xe đạp điện còn ở mức khá cao, điều này cản trở sự tiếp cận của người dân
với mặt hàng hữu ích này. Bên cạnh đó cũng có 35.56% ý kiến đánh giá khoảng
cách di chuyển của 1 lần sạc đầy pin còn thấp, không đáp ứng hết nhu cầu đi lại, di
chuyển giữa các địa điểm, vì thế đây cũng là một rào cản để xe đạp điện thực sự đi
vào đời sống. Một số ít (31.11%) ý kiến cho rằng tốc độ chậm ( khoảng 20-25km/h)
vụ nào và mặt hàng xe đạp điện cũng không ngoại lệ. Mức giá càng thấp thì hàng
hóa tiêu thụ càng dễ dàng và ngược lại. Song không phải giá càng thấp càng hấp
dẫn, mà đi cùng đó là chất lượng sản phẩm. Hai yếu tố này cùng tác động tới lượng
cầu hàng hóa. Như biểu đồ, thấy rằng: mức giá hợp lý để người dân quyết định mua
một chiếc xe đạp điện dao động trong khoảng 7.000.000-9.000.000 (chiếm tới 44%).
Mức giá này không quá thấp cũng không quá cao, tại đó chất lượng sản phẩm làm
cho khách hàng yên tâm sử dụng sản phẩm. Tuy nhiên mức giá dưới 7.000.000 cũng
là mong muốn của 40% khách hàng khác, họ chủ yếu là tầng lớp học sinh, sinh viên,
họ mong muốn có thể tối thiểu hóa chi phí đi lại, tối đa hóa lợi ích sử dụng phương
tiện và cũng mong muốn đầu tư ban đầu không quá cao. Bên cạnh đó, mức giá cao :
9.000.000- 15.000.000 và trên 15.000.000 cũng có tới 16% khách hàng riêng. Họ
mong muốn có thể sử dụng sản phẩm chất lượng cao hơn.
3.2 Nguồn gốc xuất xứ ảnh hưởng tới nhu cầu đối với xe đạp điện
Xã hội ngày càng phát triển, chất lượng hàng hóa càng được nâng cao hơn, và
một đòi hỏi khác cùng ngày càng gắt gao hơn, đó là : nguồn gốc sản phẩm. Nguồn
gốc, xuất xứ của sản phẩm có thể đảm bảo lòng tin khách hàng khi quyết định mua
sản phẩm bất kỳ.
Theo quan sát, 69% người dân mong muốn được sử dụng xe đạp có nguồn
gốc từ Nhật Bản, 11% từ Hàn Quốc, chỉ 4% là sản phẩm đến từ Trung Quốc. Sản
phẩm của Việt Nam ngày càng có chỗ đứng riêng và chiếm được lòng tin của người
tiêu dùng, cụ thể có tới 16% người được khảo sát mong muốn được sỡ hữu chiếc xe
đạp điện của Việt Nam. Đây là thành công bước đầu của ngành sản xuất xe đạp điện
Việt Nam, tuy nhiên cũng phải nói rằng, hàng Việt đang phải cạnh tranh khá gay gắt
với mặt hàng mang nhãn hiệu của Nhật Bản. Nhật Bản đã khẳng định chỗ đứng trên
thị trưởng với chất lượng sản phẩm cao nhiều năm nay, hơn thế sản phẩm của họ còn
liên tục đổi mới mẫu mã, hình thức và tính năng làm cho thị trường phong phú hơn.
Bên cạnh đó, các mặt hàng của Hàn Quốc cũng khá thu hút người tiêu dùng. Đặc
điểm nổi bất của sản phẩm nước này là hình thức trẻ trung, cá tính song hành cùng
chất lượng ổn định, uy tính. Dòng sản phẩm có nguồn gốc Trung Quốc có ưu điểm
giá rẻ, hình thức tốt song chất lượng hạn chế đang dần bị kém ưa chuộng tại thị
người thân đã , đang sử dụng xe đạp điện, và họ cũng tỏ ra hết sức tin tưởng vào
những thông tin được tiếp nhận từ bạn bè và người thân. Họ quan niệm rằng, quảng
cáo có thể chỉ ra những điểm ưu việt của sản phẩm mà che đậy đi những yếu điểm
của sản phẩm đó, nhưng sự trải nghiệm sản phẩm mới thật sự giúp họ có cái nhìn
đúng đắn và chân thật nhất về sản phẩm đó.
Từ những nhận định trên, khách quan có thể kết luận rằng: các doanh nghiệp
kinh doanh xe đạp điện chưa thật sự quan tâm nhiều tới hiệu quả của việc quảng cáo
sản phẩm của mình. Mặc dù phương thức truyền thông gián tiếp qua khách hàng là
một nhân tố tiềm ẩn hiểu quả nhưng nó cũng mang khá nhiều rủi ro khi những khách
hàng đó chưa thật sự hiểu hết sản phẩm của doanh nghiệp làm cho việc truyền tin
cho người khác sai lệch, trực tiếp làm ảnh hưởng đến thương hiệu của doanh nghiệp
đó. Vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xe đạp điện hiện nay cần xây
dựng những chiến lược marketing hợp lý ,hiệu quả để nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp mình.
KẾT LUẬN CHUNG CHO THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Qua việc khảo sát, đánh giá, phân tích các thông tin về nhu cầu đối với xe
đạp điện ta có thể rút ra các kết luận khách quan:
Thứ nhất, thị trường xe đạp điện Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung chưa thật
sự phổ biến. Thành phần dân cư biết đến xe đạp điện nhiều nhưng tỷ lệ đã và đang
sử dụng xe đạp điện là khá thấp.
Thứ hai, người dân chưa thật sự tin tưởng sử dụng xe đạp điện để di chuyển đi lại,
mà phần nhiều vẫn đang sử dụng với các phương tiện truyền thống.
Thứ ba, thị trường Việt Nam có nhiều đặc điểm giúp thị trường xe đạp điện phát
triển: sở thích, thị hiếu tiêu dùng hiện đại, nhận thức về các vấn đề kinh tế môi
trường được nâng cao, tiêu dùng phong trào…
Thứ tư, các biện pháp quảng cáo, truyền thôngchỉ phát huy ở mức nhất định, chưa
đạt được kỳ vọng của các doanh nghiệp trong việc thúc đẩy bán hàng, tăng nhu cầu
đối với xe đạp điện.
Dự báo
Việt Nam trở thành thành viên của WTO, sẽ có thêm đầu tư nước ngoài trong