Nghiên cứu ảnh hưởng của thương mại đến an toàn giao thông trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 33

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THƯƠNG MẠI ĐẾN
AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài
Phát triển đô thị một cách bền vững là sự phát triển đồng đều và hài hòa trên
3 phương diện kinh tế – môi trường – công bằng xã hội. Thực tế Hà Nội hiện nay
cho thấy các hoạt động kinh doanh thương mại như buôn bán hàng hóa, dịch vụ ăn
uống, dịch vụ vận tải… có ảnh hưởng không nhỏ đến an toàn giao thông của thành
phố, bên cạnh các yếu tố như cơ sở hạ tầng, ý thức người tham gia giao thông…
Trong những năm gần đây, khi thương mại của Hà Nội càng ngày càng phát triển
và chiếm tỷ trọng lớn hơn trong cơ cấu kinh tế của thành phố, hiện tượng ùn tắc và
tai nạn giao thông gây ra bởi những hoạt động kinh doanh thương mại đang là mối
quan tâm sâu sắc của Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải và UBND thành phố Hà
Nội. Dù đã có nhiều giải pháp nhằm hạn chế tình trạng buôn bán hàng hóa trên vỉa
hè, lòng đường, hạn chế chở hàng hóa cồng kềnh, tăng cường an toàn, trật tự giao
thông đô thị nhưng vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả cao. Do đó việc nghiên cứu
về ảnh hưởng của thương mại đến an toàn giao thông đô thị ở Hà Nội là một điều
cần thiết và cấp bách, tạo tiền đề trước mắt cho việc phát triển hệ thống giao thông
đô thị cho Hà Nội và là đòn bẩy cho việc tăng trưởng và phát triển bền vững của
thủ đô.
Từ những lý do đó, chúng em xin được lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh
hưởng của thương mại đến an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm
đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu : Trên cơ sở nghiên cứu khái quát chung về một số hoạt
động kinh doanh thương mại trên địa bàn Hà Nội, chỉ ra mối liên hệ giữa các hoạt
động đó với số lượng tai nạn giao thông trên địa bàn , từ đó đề tài đã đề xuất một
số giải pháp cải thiện tình hình an toàn giao thông của thành phố Hà Nội.


5. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần lời mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục từ viết tắt và danh
mục bảng biểu, nội dung của đề tài được chia làm ba phần như sau:
Chương 1: Một số khía cạnh ảnh hưởng của thương mại đến an toàn giao
thông


Chương 2: Phân tích những ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh thương
mại đến an toàn giao thông trên địa bàn Hà Nội
Chương 3: Một số đề xuất sau khi nghiên cứu


CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÍA CẠNH ẢNH HƯỞNG CỦA
THƯƠNG MẠI ĐẾN AN TOÀN GIAO THÔNG
1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm thương mại
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại: “Hoạt động thương mại là hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Và theo
các hiệp định trong khuôn khổ WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì
(BTA), các hoạt động thương mại được chia thành 4 nhóm là: thương mại hàng
hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và hoạt
động đầu tư có tính chất thương mại.
Theo quy định của Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế (được
UNCITRAL – Uỷ ban Liên hợp quốc tế Luật thương mại quốc tế thông qua ngày
21/6/1985), những quan hệ có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới
hạn ở: giao dịch thương mại về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; hợp
đồng phân phối; đại diện hoặc đại lí thương mại; sản xuất; cho thuê; xây dựng
công trình; tư vấn; thiết kế kĩ thuật; li – xăng; đầu tư, cấp vốn; ngân hàng; bảo
hiểm; hợp đồng khai thác hoặc đặc nhượng; liên doanh và các hình thức hợp tác

không quan tâm đến chất lượng dịch vụ và an toàn giao thông. Vì vậy chất lượng
dịch vụ vận tải thấp, tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng do xe ô tô kinh
doanh vận tải gây ra còn nhiều.
Không chỉ vậy, các bến bãi, kho hàng cũng chưa phát triển và quy hoạch
chưa đầy đủ. Theo Tổng cục Đường bộ Việt Nam, đến tháng 6-2014, cả nước có
457 bến xe các loại được công bố theo Thông tư số 24/2010/TTBGTVT hoặc theo


quy chuẩn Việt Nam (QCVN), trong đó, có 26 bến xe khách xếp loại một, 42 bến
xe xếp loại hai, 58 bến xe loại ba, còn lại thuộc loại bốn, năm, sáu. Hiện tại có 213
bến xe khách do các đơn vị ngoài Nhà nước đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác
kinh doanh theo hình thức xã hội hóa (chiếm 46,6%). Đối với công tác quản lý nhà
nước về hoạt động của các bến xe khách và các xe tải vận chuyển hàng hóa còn rất
nhiều bất cập.
Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm an toàn giao thông và đặc
biệt là nạn trở quá tải hàng hóa… diễn ra phổ biến. Hiện tượng xe dù, bến cóc, đón
trả khách không đúng nơi quy định, tranh giành khách, bán khách,… vẫn tồn tại; công
tác quản lý nhà nước về vận tải tuy không ngừng được hoàn thiện và đã đạt được
những kết quả nhất định nhưng chưa thật sự được đổi mới, chưa theo kịp với sự phát
triển và những diễn biến của hoạt động vận tải; công tác quản lý của các đơn vị vận tải
còn nhiều yếu kém cần khắc phục.
Trong lĩnh vực hoạt động đường sắt, các ảnh hưởng chủ yếu của kinh doanh
thương mại là việc lấn chiếm hành lang an toàn đường sắt – một tình trạng hết sức
phổ biến không chỉ ở thành thị mà cả ở các nông thôn. Đường sắt Việt Nam ra đời
năm 1881 đến nay đã có 134 năm phát triển về mạng lưới và quy mô vận chuyển
hàng hóa. Tuy ít xảy ra các vụ tai nạn và ít bị ảnh hưởng hơn nhưng toàn giao
thông đường sắt cũng giống như an toàn giao thông đường bộ bị ảnh hưởng
nghiêm trọng chủ yếu là do các hoạt động thương mại như họp chợ, kinh doanh
hàng hóa trên hành lang đường sắt, đồng thời việc đặt, xây dựng các biển quảng
cáo thương mại gây nguy hiểm lớn về tầm nhìn. Đặc biệt trên địa bàn Hà Nội với

động di chuyển khi tham gia giao thông.Đơn giản hãy nhìn vào khu vực nhà thờ
Lớn khi đêm xuống. Các dịch vụ kinh doanh tràn lan hết vỉa hè, tràn xuống lòng
đường khiến mật độ giao thông thay đổi, gây tắc đường, mất cảnh quan, gây nguy
hiểm về an toàn giao thông.
Không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến giao thông hàng hóa, thương mại
dịch vụ còn có rất nhiều những ảnh hưởng gián tiếp. Các loại hình kinh doanh chất


rượu bia, chất có cồn như nhà hàng, quán bar… cung cấp cho khách hàng các loại
chất gây ảo giác, làm người sử dụng mất tỉnh táo mà không hề có phương pháp nào
để phòng ngừa đảm bảo khách hàng sau khi sử dụng hàng hóa dịch vụ có thể tham
gia giao thông an toàn. Đây là một trong những yếu tố hết sức nguy hiểm trong các
tai nạn giao thông. Chắc chắn chưa hề có một cơ sở kinh doanh nhà hàng nào
khuyên khách hàng của mình uống ít rượu, không bán chất có cồn hay thực hiện
việc đưa đón khách hàng sau khi sử dụng về nhà.
1.3 CÁC QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LIÊN
QUAN ĐẾN AN TOÀN GIAO THÔNG
1.3.1 Các quy định xử phạt hành vi kinh doanh thương mại ảnh hưởng an
toàn giao thông đường bộ
Xử phạt xe chở hàng hóa quá tải
Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định:
-

Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi chở hàng vượt
quá trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Giấy chứng nhận
kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường nhưng chưa vượt quá 10%
đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và 5% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở
lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

-

tấn và từ 5 - 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ
mi rơ moóc); tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng nếu chở quá
trên 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và trên 30% đối với xe có trọng
tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).
Xử lý vi phạm về nồng độ cồn khi tham gia giao thông
Điều 8 Luật Giao thông đường bộ (GTĐB) quy định về nhóm các hành vi bị

nghiêm cấm đối với người điều khiển phương tiện xe cơ giới, trong đó có hành vi
điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc
hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililit máu hoặc 0,25 miligam/
1lít khí thở.
Việc xử phạt quy định đối với người điều khiển xe ô tô vi phạm nồng độ cồn
được quy định cụ thể tại Nghị định 171/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và
đường sắt như sau:
-

Điểm b Khoản 5 Điều 5: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng
đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có


nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7,
Điểm a Khoản 8 điều này.
-

Điểm b Khoản 7 Điều 5: Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng
đối với người điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có
nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililit máu hoặc
vượt quá 0,25 đến 0,4 miligam/1 lít khí thở.


miligam/1 lít khí thở.


-

Điểm b Khoản 6 Điều 6: với những trường hợp người điều khiển xe
không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người
kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ
2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

-

Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện các hành vi vi
phạm trên còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Thực hiện
hành vi quy định tại Điểm b Khoản 5 Điều 6 bị tước giấy phép lái xe 01
tháng; Thực hiện hành vi quy định tại Điểm e Khoản 6 Điều 6 bị tước
giấy phép lái xe 02 tháng.

Xử lý vi phạm về đỗ dừng xe lòng đường mua bán hàng hóa
Nghị định 171/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ quy định mức phạt với các hành vi dừng đỗ xe sai quy định như
sau:
-

Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng với người bán hàng rong
hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các
tuyến phố có quy định cấm bán hàng.

-


phép và được CSGT, Sở GTVT cấp phép. Thủ tục xin cấp giấy phép đi
vào đường cấm phải có đơn của chủ xe hoặc người lái xe (kèm theo hồ
sơ) gửi đến Phòng CSGT đường bộ của công an tỉnh. Trong đơn phải ghi
rõ tên chủ xe, số đăng ký xe, loại xe, đi vào đường nào, phố nào thuộc
phường hoặc quận nào, vì lý do gì, đi vào ngày nào, thời gian nào trong
ngày...

Quy định về xử phạt hoạt động dịch vụ vận tải hành khách
Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: đối với các phương tiện ô tô
kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định phải chấp hành đầy đủ các quy
định về thể lệ vận tải. Hình thức xử phạt trường hợp vi phạm thực hiện theo Nghị
định số 107/2014/NĐ-CP ngày 17/11/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 171/2013/NĐ-CP (gọi tắt NĐ 171), có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2015,
quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và
đường sắt:
-

Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy
định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở
hành khách, ô tô chở người (trừ xe buýt) thực hiện hành vi vi phạm: Chở quá


từ 2 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 3 người trở lên trên xe
10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 4 người trở lên trên xe 16 chỗ
ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 5 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi.
-

Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1 triệu đồng trên mỗi người vượt quá quy
định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở
hành khách chạy tuyến có cự ly lớn hơn 300 km thực hiện hành vi vi phạm


Điểm c khoản 1: cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng
đối với cá nhân, từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với tổ chức thực
hiện một trong các hành vi vi phạm thực hiện mua bán hàng hóa, họp chợ,
thả trâu, bò, gia súc trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an

-

toàn giao thông đường sắt.
Khoản 2: phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân,
từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi:
điểm a - để phương tiện, thiết bị, vật liệu, hàng hóa, chất phế thải hoặc các
vật phẩm khác trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn
giao thông đường sắt (trừ phương tiện, thiết bị, vật liệu phục vụ thi công, sửa
chữa công trình đường sắt); điểm b - Dựng lều quán, nhà tạm, công trình
tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường sắt; điểm c - Đặt,
treo biển quảng cáo, các vật che chắn khác trong phạm vi đất dành cho

-

đường sắt;
Khoản 3: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá
nhân, từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện
hành vi vi phạm dựng biển quảng cáo trong phạm vi đất dành cho đường sắt.

Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi
phạm còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
-

Thực hiện hành vi quy định tại điểm c khoản 2: bị buộc phải tự dỡ bỏ và di

ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Các mặt văn hoá xã hội, giáo dục, y tế và con
người đạt được nhiều thành tựu. An ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân Thủ đô dần được cải thiện.
Giai đoạn 2009 - 2014, kinh tế Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chịu
ảnh hưởng khá nặng nề của suy thoái kinh tế thế giới, tình hình sản xuất kinh
doanh và đời sống có nhiều biến động bất thường (dịch bệnh, suy giảm nhập khẩu
toàn cầu, tiêu thụ và đầu tư giảm sút...). Tuy nhiên, do Chính phủ và Thành phố đã
có những chủ trương, chính sách kịp thời nên kinh tế Hà Nội duy trì được tốc độ
tăng trưởng khá. Bình quân giai đoạn 2009-2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt
9,4%/năm. Trong đó, các ngành dịch vụ tăng 10,1%/năm.
Bảng 1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2009 – 2013
Đơn vị tính: %


Tổng số
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ

2009
7,5

2010
11,3

2011
10,7

2012
9,0

2013).
Bảng 3: Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2009 – 2013
Đơn vị tính: %

Tổng số
Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp và xây dựng
Dịch vụ

2009
2010
2011
2012
2013
100,0 100,0
100,0
100,0 100,0
6,2
5,8
5,9
5,5
4,9
41,5
41,8
41,7
41.5
41,7
52,3
52.4
52,4

8,1%/năm. Hà Nội tiếp tục là nơi thu hút khách du lịch quốc tế lớn của cả nước.
Doanh thu kinh doanh du lịch, lữ hành, khách sạn năm 2013 đạt 18,6 nghìn tỷ
đồng, tăng 17,9%/năm.
Biều đồ 1: Số doanh nghiệp thương nghiệp, lưu trú, ăn uống và dịch vụ trên
địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 – 2013

Nguồn: Cục thống kê thành phố Hà Nội


Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng lớn, trình độ cao, chất
lượng cao tiếp tục được phát triển: Ngân hàng, thông tin, bưu chính viễn thông...
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng được củng cố, hoàn thiện mô hình tổ chức quản
lý và mở rộng mạng lưới hoạt động. Đã từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ tài
chính - ngân hàng, chọn lọc và tập trung phát triển một số loại hình, sản phẩm dịch
vụ tài chính - ngân hàng trình độ cao, đặc biệt là dịch vụ chứng khoán. Phát triển
qui mô của thị trường giao dịch cổ phiếu, trái phiếu và kết nối thị trường trái phiếu
với thị trường tiền tệ. Hệ thống tài chính, tín dụng, ngân hàng được hiện đại hoá,
ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến, địa bàn, qui mô các hình tức thanh toán tự động
được mở rộng, tăng cường kết nối, liên kết và rút ngắn thời gian thực hiện các giao
dịch liên thông giữa các tổ chức tài chính, tín dụng. Từng bước xây dựng xây dựng
Hà Nội thành trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu ở khu vực phía Bắc và có
vai trò quan trọng trong cả nước. Hệ thống bưu chính, viễn thông được nâng cấp,
đạt tiêu chuẩn tiên tiến. Hà Nội là địa phương đứng đầu cả nước về tỷ lệ số thuê
bao điện thoại (79,4 máy/100 dân) và số người sử dụng internet. Năm 2013, Hà
Nội có 82,1 triệu thuê bao điện thoại, trong đó có 2,6 triệu thuê bao điện thoại di
động.
Dịch vụ vận tải được quan tâm phát triển, nhất là vận tải công cộng. Số lượt
hành khách vận chuyển trên địa bàn năm 2013 đạt 889,9 triệu người. Số lượt hành
khách luân chuyển trên địa bàn đạt 19064 triệu người.km. Mạng lưới xe buýt công
cộng được bố trí ở khắp các tuyến đường quan trọng, các khu dân cư. Đến nay, hệ

những giờ cao điểm nên hầu hết các nút giao thông đều vượt quá khả năng thông
xe. Hiện tại các tuyến nút giao thông đều quá tải khoảng 200%. Vào giờ cao điểm
các phương tiện tham gia giao thông chỉ còn biết nhích từng centimet.
Ước tính, hiện nay thành phố có 207.090 xe ô tô các loại, 1.921.822 xe máy,
1.000.000 xe đạp, 300 xe xích lô, chưa kể đến các phương tiện đăng kí ngoại tỉnh
lưu hành trong thành phố. Với hiện trạng giao thông hiện nay thì 1 km đường Hà
Nội phải chịu tải trên 500 ô tô và 6000 xe máy. Với tốc độ phát triển phương tiện
la 12 - 15%/năm như hiện nay thì tình trạng ùn tắc và tai nạn sẽ càng nghiêm trọng
hơn.


2.3 Đánh giá những ảnh hưởng của thương mại dịch vụ đến ATGT trên địa
bàn Hà Nội
Nhóm nghiên cứu đánh giá tác động của thương mại dịch vụ đến ATGT trên
địa bàn Hà Nội theo 2 lĩnh vực: kinh doanh hàng hóa và các dịch vụ vận tải. Do
hạn chế về số liệu có thể thu thập được, trong lĩnh vực kinh doanh hàng hóa, nhóm
nghiên cứu chỉ đánh giá tác động của một loại hình kinh doanh là ăn uống – nhà
hàng. Đây là loại hình kinh doanh có thể coi là có ảnh hưởng lớn nhất đến ATGT.
Mặc dù vậy, do không có một số liệu nào trực tiếp thể hiện mối tương quan này
(như số lượng các hàng quán trên địa bàn, phân loại cụ thể các nguyên nhân gây tai
nạn trên địa bàn qua từng tháng hoặc năm…) nên chỉ có thể phân tích một cách
gián tiếp mối liên hệ này. Vì thế, nhóm nghiên cứu đã tập hợp số liệu về số tai nạn,
doanh thu của lĩnh vực khách sạn – nhà hàng, khối lượng hàng hóa luân chuyển và
khối lượng hành khách luân chuyển trên địa bàn, sau đó hồi quy bằng công cụ toán
học của Microsoft Excel để kiểm tra sự tương quan giữa các yếu tố này, từ đó suy
ra mối liên hệ giữa thương mại dịch vụ với ATGT.
Biểu dưới đây là tập hợp số liệu về 4 yếu tố trên mà nhóm nghiên cứu đã thu
thập được.
Biểu 1: Tập hợp một vài chỉ số giai đoạn 2012 – 01/2015


3070
3150.2
3230
3340
3370
3561

Khối lượng hàng
hóa luân chuyển
(triệu tấn.Km)
1493.3
2309.4
2374.6
2458.9
2500.5
2562.6
2643.1
2706.9
2837

Khối lượng hành
khách luân chuyển
(triệu HK.Km)
1345.9
1377
1438.1
1483.1
1530.8
1593.5
1664.8

12/14
01/15
01/15

45
162
148
181
159
118
174
154
196
169
173
156
168
274
152
179
152
129
147
184
174
165
164
173
186
182

4139
4318.2
4320

2874.6
1529.4
2633.1
1993.8
2736.5
1595.2
2820.3
1650.2
2840.5
1662.9
2903.6
1674.9
2923.4
1688.4
2945
1701
2950.4
1712.1
2959
1718
2966
1722
2973
2171.4
2977
2432

3870
3916
Nguồn: Cục thống kê thành phố Hà Nội
Tiến hành hồi quy tương quan với biến phụ thuộc là “Số tai nạn”; biến độc

lập lần lượt là các biến “Doanh thu khách sạn – nhà hàng” (X1), “Khối lượng hàng
hóa luân chuyển” (X2) và “Khối lượng hành khách luân chuyển” (X3), thu được
các kết quả như sau:
Bảng 3: Kết quả hồi quy giữa Số tai nạn với Doanh thu khách sạn – nhà hàng
trên địa bàn giai đoạn 2012 – 01/2015


Regression Statistics
Multiple R
R Square
Adjusted R Square
Standard Error
Observations

0.696591473
0.48523968
0.470940782
44.1790094
38

ANOVA
df
Regression
Residual
Total

2

t Stat
3.74274705
4
5.82541504
4

F
33.9354604
4

P-value
0.00063402
3
1.18925E-06

Hệ số R2 và P – value của biến độc lập X1 cho thấy mối tương quan ở mức
độ tương đối lớn giữa biến phụ thuộc và biến độc lập. Hệ số β của biến X1 là xấp
xỉ 0.1036 cho thấy biến “Doanh thu khách sạn – nhà hàng” tỷ lệ thuận với biến “Số
tai nạn”. Kết quả hồi quy cho thấy rằng, với mỗi 103,6 triệu đồng tăng thêm từ
doanh thu khách sạn – nhà hàng, số tai nạn sẽ tăng thêm 1 vụ, với điều kiện các
yếu tố khác giữ nguyên.
Bảng 4: Kết quả hồi quy giữa Số tai nạn với Khối lượng hàng hóa luân chuyển
trên địa bàn giai đoạn 2012 – 01/2015
Regression Statistics
Multiple R
R Square
Adjusted R Square
Standard Error

Coefficients
Intercept
Khối lượng hàng hóa luân chuyển (X2)

28.58733094

31.63068981

0.03102175

0.008955881

MS
34120.8961
9
2843.83548
6

F
11.9981962
2

t Stat
0.90378461
9
3.46384125
2

P-value
0.37211797


36
37

97991.73831
136498.9737

Coefficients
Intercept

45.21318652

Standard
Error
25.07070373

MS
38507.2353
7
2721.99273
1

F
14.1467076
4

t Stat

P-value
0.07969578


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status