ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Đặng Đình Đức NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG
CHO LƢU VỰC SÔNG NHUỆ - ĐÁY
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành: Thủy văn học
Mã số: 60 44 90
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN NGỌC ANH Hà Nội – Năm 2012
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
CHƢƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI LƢU
VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY, PHẦN THUỘC ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ
NỘI 10
1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 10
1.1.1. Vị trí địa lý 10
1.1.2. Địa hình địa mạo 11
NGẬP LỤT LƢU VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY, TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI 66
4.1. Xây dựng bản đồ độ lộ diện trước hiểm họa lũ, ngập lụt lưu vực sông Nhuệ
Đáy, trên địa bàn thành phố Hà Nội 66
4.2. Xây dựng bản đồ khả năng chống chịu của người dân 71
4.3. Thành lập bản đồ tính dễ bị tổn thương do ngập lụt trên lưu vực sông Nhuệ
Đáy, phần thuộc thành phố Hà Nội 74
KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 77
KIẾN NGHỊ VỀ NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
4
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Bản đồ lƣu vực hệ thống sông Nhuệ Đáy 12
Hình 2: Các bƣớc xác định tính tổn thƣơng lũ 33
Hình 3: Các thành phần theo phƣơng x và y 40
Hình 4: Hộp thoại khai báo các thông số lƣu vực 45
Hình 5: So sánh giữa kết quả tính toán hiệu chỉnh mô hình mƣa dòng chảy với
số liệu lƣu lƣợng thực đo, trạm Ba Thá 47
Hình 6: So sánh giữa kết quả tính toán hiệu chỉnh mô hình mƣa dòng chảy với
số liệu lƣu lƣợng thực đo, trạm Hƣng Thi 47
Hình 7: So sánh giữa kết quả tính toán kiểm định mô hình mƣa dòng chảy với
số liệu lƣu lƣợng thực đo, trạm Ba Thá. 48
Hình 8: So sánh giữa kết quả tính toán kiểm định mô hình mƣa dòng chảy với
số liệu lƣu lƣợng thực đo, trạm Hƣng Thi 49
Hình 9: Sơ đồ mạng sông trong MIKE 11 50
Hình 10: Sơ đồ mạng lƣới thủy lực 1D 51
Hình 11: Giới hạn miền tính toán 2D 53
Hình 12: Lƣới tính khu vực nghiên cứu 53
lƣu vực sông Nhuệ Đáy (phần thuộc thành phố Hà Nội) 76
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Khí hậu tại Hà Nội (1898-2011) 18
Bảng 2: Một số các yếu tố khí tƣợng khác tại trạm Láng (1961-2010) 18
Bảng 3: Một số đặc trƣng hình thái sông ngòi, kênh mƣơng lƣu vực sông
Nhuệ Đáy (phần thuộc thành phố Hà Nội) 21
Bảng 4: Các hồ chính trên địa bàn Thành phố Hà Nội 22
Bảng 5: Các trạm mƣa đƣợc sử dụng để tính toán dự báo thuỷ văn cho các
trạm thƣợng nguồn hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long 44
Bảng 6: Các trạm lƣu lƣợng đƣợc sử dụng để tính toán dự báo thuỷ văn cho
các trạm thƣợng nguồn hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long 44
Bảng 7: Giá trị các thông số mô hình mƣa- dòng chảy (NAM) 46
Bảng 8: Kết quả hiệu chỉnh mô hình mƣa - dòng chảy 47
Bảng 9: Kết quả kiểm nghiệm mô hình mƣa - dòng chảy 48
Bảng 10: Các biên sử dụng trong mô hình 51
Bảng 11: Các kết nối đã thực hiện trong MIKE FLOOD 53
Bảng 12: Diện tích ngập lớn nhất tính toán và thực tế trong trận mƣa 2008 57
Bảng 13: Giá trị mƣa 2 ngày lớn nhất ứng với các tần suất thiết kế 58
Bảng 14: Trọng số của các yếu tố tạo lên nguy cơ lũ 63
Bảng 15: Tính dễ bị tác động của nhóm sử dụng đất 68
Bảng 16: Ma trận tính toán sự lộ diện của các đối tƣợng trƣớc lũ, ngập lụt 69
Bảng 17: Ma trận tính toán mức độ tổn thƣơng do lũ, ngập lụt 75
Bảng 18: Thống kê diện tích tổn thƣơng theo các cấp độ 75
7
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HD: Hydraulic Dynamic (Thủy động lực)
Khác với nguyên nhân gây lũ lụt miền Trung chủ yếu là do nước tràn bờ, các địa
phương đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt thành phố Hà Nội thường xuyên bị úng ngập
gây ra bởi mưa nội đồng, nguyên nhân do đã có hệ thống đê kiên cố vừa ngăn
không cho nước dâng từ sông vào nhưng lại khiến việc tiêu úng nội đồng gặp nhiều
khó khăn. Để tăng cường ứng phó với ngập úng ngoài các biện pháp công trình (đê
kè, hồ chứa thượng lưu, các trạm bơm tiêu ) thì các biện pháp phi công trình đóng
vai trò rất quan trọng, mà phần lớn trong số đó có tính dài hạn và bền vững như các
biện pháp quy hoạch sử dụng đất và bố trí dân cư, nâng cao nhận thức của người
dân. Mặt khác, ứng phó nhanh với lũ lụt bằng các biện pháp tức thời như cảnh báo,
dự báo vùng ngập, di dời và sơ tán dân cư đến khu vực an toàn, đã tỏ ra rất hiệu
quả trong việc hạn chế những thiệt hại về người và tài sản.
Việc nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương gây ra do ngập lụt trên khu vực
nghiên cứu là rất cần thiết. Để đánh giá được tính dễ bị tổn thương do lũ lụt tác
động tới kinh tế - xã hội thì hướng tiếp cận đa ngành trong công tác quản lý tổng
hợp rủi ro thiên tai là cần thiết để xây dựng các giải pháp nhằm giảm nhẹ tác hại của
lũ gây ra. Đây cũng là lý do dẫn đến sự hình thành luận văn “Nghiên cứu xây dựng
bản đồ tính dễ bị tổn thƣơng cho lƣu vực sông Nhuệ Đáy trên địa bàn thành
phố Hà Nội”. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học, thực tiễn cho các nhà quản
9
lý, các nhà hoạch định chính sách xác định chiến lược phát triển bền vững và đảm
bảo an ninh xã hội.
Cấu trúc luận văn gồm có:
Mở đầu
Chương 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội lưu vực sông Nhuệ
Đáy, phần thuộc địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 2. Tổng quan về các nghiên cứu tổn thương và các bước đánh giá
tính dễ bị tổn thương do lũ, ngập lụt
Chương 3. Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD mô phỏng ngập lụt lưu vực
sông Nhuệ Đáy trên địa bàn thành phố Hà Nội
Mai An Tiêm (nơi có sông Tống gặp sông Cầu Hội) và tiếp theo là sông Càn
dài 10 km rồi đổ ra biển tại cửa Càn.
- Phía Đông và Đông Nam là biển Đông có chiều dài khoảng 95 km từ cửa
Ba Lạt tới cửa Càn.
Trong đó sông Đáy là dòng sông chính của lưu vực, bắt nguồn từ sông Hồng
thông qua hệ thống phân chứa lũ Vân Cốc thuộc huyện Phúc Thọ chảy qua các tỉnh
Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định trước khi đổ ra biển Đông tại cửa Đáy.
Sông Đáy có chiều dài khoảng 250 km.[3]
Sông Nhuệ là một phụ lưu lớn của sông Đáy, cũng lấy nước từ sông Hồng
qua cống Liên Mạc ở Từ Liêm, Hà Nội chảy qua các các quận: Cầu Giấy, Hà Đông,
huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Hoài Đức, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên rồi đổ
vào sông Đáy tại Phủ Lý (Hình 1).
Ngoài ra, trên lưu vực còn có nhiều các sông nhỏ, là phụ lưu của sông Đáy
hoặc sông Nhuệ, một số phụ lưu chính như: Sông Bùi (Hòa Bình, Hà Nội); sông
11
Thanh Hà (Mỹ Đức); sông Hoàng Long (Ninh Bình); sông Vân, sông Sắt, sông Đào
(Nam Định)
Phần lớn diện tích thành phố Hà Nội thuộc lưu vực sông Nhuệ Đáy, trừ Quận
Gia Lâm, một phần Quận Long Biên, huyện Mê Linh và Sóc Sơn. Khu vực nghiên
cứu nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng,
có vị trí từ 20
0
34’ đến 21
0
17’ độ vĩ Bắc và 105
0
17’ đến 106
0
00’ kinh độ Đông (Hình
Hình 1: Bản đồ lƣu vực hệ thống sông Nhuệ Đáy
13
Địa hình đồi được tách ra với địa hình núi và đồng bằng bởi độ chênh cao
<100m, độ phân cắt sâu từ 15 - 100m. Trong phạm vi lưu vực sông Nhuệ Đáy, địa
hình đồi chỉ chiếm khoảng 10% diện tích có độ cao phần lớn dưới 200m, phân bố
chuyển tiếp từ vùng núi xuồng đồng bằng. Theo đặc điểm hình thái, có thể chia
thành 2 khu vực: Vùng đồi phía Bắc và vùng đồi phía Nam.
Vùng đồng bằng
Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 60% lãnh thổ, địa hình khá bằng
phẳng có độ cao <20m và thấp dần từ Tây sang Đông, từ Tây Bắc xuống Đông
Nam. Bề mặt đồng bằng lại bị chia cắt bởi hệ thống sông và kênh mương chằng
chịt. Có thể chia đồng bằng thành 4 khu vực có đặc điểm khác nhau: Vùng đồng
bằng phía Bắc, Vùng đồng bằng trung tâm, Vùng đồng bằng phía Nam, Vùng đồng
bằng thung lũng.
Bề mặt lưu vực có hướng dốc thay đổi, đầu nguồn hệ thống sông hướng Bắc
- Nam; trung và hạ nguồn hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Thượng lưu hệ thống sông uốn khúc, quanh co, hẹp và dốc, nhiều thác
ghềnh, nước chảy xiết, là nguy cơ tạo nên các hiện tượng xói lở, lũ quét Trung lưu
và hạ lưu lòng sông được mở rộng, dòng sông chảy chậm, khả năng thoát nước kém
dẫn đến tình trạng ngập lũ mỗi khi xuất hiện mưa lớn.
Địa hình khu vực nghiên cứu chủ yếu là vùng đồng bằng nhờ phù sa bồi đắp
(chiếm 4/5 diện tích tự nhiên toàn khu vực), độ cao địa hình giảm dần theo hướng
từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ +5 đến +20m so với
mực nước biển. Phía Tây Bắc là vùng núi Ba Vì là thượng nguồn của sông Tích
(một nhánh của sông Đáy), phía Đông là khu vực nội thành thành phố Hà Nội, với
mật độ dân cư và các công trình dày đặc, cũng là khu vực thường xuyên xảy ra ngập
lụt khi mưa lớn. Phía Tây Nam là khu vực các huyện Ứng Hòa, Phú Xuyên, Thường
Tín đây là vùng trũng nhất.
Ngoài địa hình đồng bằng thì khu vực nghiên cứu cũng có một dạng địa hình
kcal/cm
2
/tháng) và cực tiểu thường xảy ra vào tháng II (5,2 kcal/cm
2
/tháng).
Số giờ nắng hàng năm dao động trong khoảng từ 1300 đến 1700 giờ. Theo tài
liệu thống kê số liệu từ năm 2005 – 2009, tại hai trạm Láng thuộc nội thành và Sơn
Tây của cục thống kê thành phố Hà Nội trong niên giám thống kê Hà Nội năm 2009
cho thấy: trung bình một năm tại trạm Láng có số giờ nắng 1338,6 giờ và tại trạm
15
Sơn Tây là 1341,9 giờ. Nhiều nhất là vào các tháng mùa hè đặc biệt là tháng VII
tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm trung bình 165,4 giờ đối với Láng và 175,6 giờ
đối với Sơn Tây. Còn vào các tháng mùa đông (II - III) có nhiều ngày âm u mưa
phùn nên số giờ nắng trung bình một năm là ít khoảng 42,7 giờ đối với Láng; 40,9
giờ đối với Sơn Tây.
Nhiệt độ
Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tới 42,8
0
C, thấp nhất tuyệt đối chỉ
2,7
0
C, trung bình năm dao động trong khoảng 23 24
0
C với cơ chế hoàn lưu gió đã
tạo ra sự phân hóa rõ rệt theo hai mùa:
- Mùa nóng từ tháng V-X, có nhiệt độ trung bình tháng từ 24,0
0
C đến 29,3
0
quanh, lượng mưa trung bình năm khoảng 1608,19 mm. Do ảnh hưởng của địa hình
đô thị nên vùng nội thành có lượng mưa năm lớn hơn vùng ngoại thành. Lượng mưa
năm lớn nhất tại Hà Nội là 2977,9 mm (2008, đo tại trạm Hà Đông). Lượng mưa
năm nhỏ nhất tại Hà Nội là 917,84 mm (1976, đo tại trạm Sóc Sơn). Lượng mưa
năm lớn nhất nhiều gấp 3,2 lần lượng mưa năm nhỏ nhất. Mỗi năm trung bình có
khoảng trên dưới 114 ngày có mưa. Lượng mưa phân phối rất không đều theo thời
gian trong năm. Một năm hình thành hai mùa mưa và khô rất rõ rệt.
Mùa mưa thường kéo dài 5 tháng, từ tháng V đến tháng X với tổng lượng
mưa chiếm tới xấp xỉ 85% tổng lượng mưa năm. Tháng mưa nhiều nhất thường là
VII hoặc VIII với lượng mưa chiếm tới trên 34,8% tổng lượng mưa năm. Ba tháng
liên tục có mưa lớn nhất trong năm là VII, VIII, IX. Tổng lượng mưa của ba tháng
này chiếm tới trên 49% tổng lượng mưa năm.
Mùa khô thường kéo dài 7 tháng, từ tháng XI đến tháng IV năm sau với tổng
lượng mưa chỉ chiếm khoảng 14,7% lượng mưa của cả năm. Tháng ít mưa nhất
thường là tháng XII hoặc tháng I với lượng mưa chỉ chiếm trên dưới 1,2% tổng
lượng mưa năm. Ba tháng liên tục mưa ít nhất là các tháng XII, I và II. Tổng lượng
mưa của ba tháng này chỉ chiếm khoảng 4,1% tổng lượng mưa năm.
Nguyên nhân gây mưa lớn ở khu vực nghiên cứu có nhiều: bão, áp thấp nhiệt
đới, rãnh áp thấp nóng phía Tây bị nén bởi cao áp phía Bắc kết hợp với sự xâm lấn
của áp thấp vịnh Bắc Bộ và cao áp Thái Bình Dương, dải hội tụ nhiệt đới, bão kết
hợp với không khí lạnh và xoáy thấp vịnh Bắc Bộ, đường đứt kết hợp với rãnh áp
thấp nóng phía Tây bị nén và xoáy thuận tầng cao. Ngoài ra, hoạt động của gió mùa
Tây Nam hoặc Đông Nam cũng gây ra những trận mưa rào, mưa dông có cường độ
lớn. Hàng năm, khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của 8 10 cơn bão hoặc áp
thấp nhiệt đới. 17
Bốc hơi
N. độ
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
Cao
kỷ lục
33,2
33,9
36,8
39,1
42,8
39,9
40,3
36,8
37,8
36,4
36,3
36,5
42.8
TB tối
kỷ lục
2,7
6,1
7,2
9,9
15,6
21,1
21,9
20,7
16,6
14,1
7,3
5,4
2.7
Lượng
mưa
18.6
26.2
43.8
90.1
188.5
239.9
288.2
318.0
265.4
130.7
43.4
23.4
1676.2
Bảng 2: Một số các yếu tố khí tƣợng khác tại trạm Láng (1961-2010) [2]
Độ ẩm
nhỏ nhất
17
18
23
35
23
37
40
43
28
24
17
25
17
Số giờ
nắng
73
48.8
47.2
91
180
167.9
189.7
171
173
163,6
13 9
121,.5
1562
Hướng
gió
chính
NE
NE
NNE
W
SW
WNW
N
NE
ENE
NE
NE
NE
N
1.1.5. Đặc điểm thủy văn
Lưu vực sông Nhuệ Đáy nằm bên bờ hữu sông Hồng gồm có 2 sông chính là
sông Đáy và sông Nhuệ. Ngoài ra, nối sông Đáy với sông Nhuệ còn có các sông nhỏ
như sông La Khê (qua thành phố Hà Đông), sông Vân Đình, sông Duy Tiên, sông
Ngoại Độ v.v.
Sông Đáy là phân lưu tự nhiên của sông Hồng, rút nước từ sông Hồng
ra vịnh Bắc Bộ. Sông Đáy chảy gọn trong vùng đồng bằng Bắc Bộ với dòng sông
chảy song song bên hữu ngạn hạ lưu sông Hồng. Sông Đáy có chiều dài khoảng
19
240 km
2
và lưu vực có diện tích 7665 km
20
Sông Nhuệ tức Nhuệ Giang là một con sông nhỏ dài 74 km, diện tích lưu
vực khoảng 1075 km
2
(phần bị các đê bao bọc) chảy ngoằn ngoèo gần như theo
hướng Bắc Tây Bắc - Nam Đông Nam qua địa phận thành phố Hà Nội và tỉnh Hà
Nam. Điểm bắt đầu của nó là cống Liên Mạc, lấy nước từ sông Hồng trong địa phận
huyện Từ Liêm (thành phố Hà Nội) và điểm kết thúc của nó là cống Phủ Lý khi hợp
lưu với sông Đáy gần thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam). Sông chảy qua các
quận, huyện, thị gồm quận Cầu Giấy, Hà Đông, huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Hoài
Đức, Thường Tín, Thanh Oai, Phú Xuyên và cuối cùng đổ vào sông Đáy qua cống
Lương Cổ ở khu vực thành phố Phủ Lý. Về mùa kiệt, cống Liêm Mạc luôn mở để
lấy nước sông Hồng vào sông Nhuệ, còn về mùa lũ chỉ mở khi mực nước sông
Hồng dưới báo động cấp I và trong đồng có nhu cầu cấp nước. Cống Lương Cổ về
mùa lũ luôn luôn mở để tiêu nước và chỉ đóng lại khi có phân lũ qua đập Đáy.
Nối sông Đáy với sông Nhuệ còn có các sông nhỏ như sông La Khê (qua
thành phố Hà Đông), sông Vân Đình, sông Duy Tiên, sông Ngoại Độ và một số
sông nhỏ khác tạo thành một mạng lưới tưới tiêu tự chảy cho hệ thống khi điều kiện
cho phép . Sông Duy Tiên dài 21 km, mặt cắt sông rất rộng có chỗ lên tới gần 100m
nhưng lại rất nông do ít được nạo vét, cao độ đáy hiện nay cao hơn thiết kế từ 2,0m
đến 3,0m. Sông Vân Đình dài 11,8 km nối sông Nhuệ với sông Đáy qua cống Vân
Đình. Sông La Khê dài 6,8 km được nối với sông Đáy qua công La Khê.
Mạng lưới sông, các kênh tiêu trong khu vực nghiên cứu khá phức tạp, lại có
các hướng tiêu thoát khác nhau, vì thế để có thể mô phỏng được vấn đề ngập lụt một
cách chính xác cần phải xây dựng một hệ thống mạng tính toán bao quát được hết
các chế độ thủy văn, các điều kiện tiêu thoát của cả sông Đáy, sông Nhuệ, các sông
nối sông Đáy với sông Nhuệ và toàn bộ các kênh tiêu nội đồng.
Ngoài hai con sông lớn đó, khu vực nghiên cứu còn có nhiều dòng chảy khác,
tuy nhỏ và ngắn, song gắn chặt với lịch sử lâu đời của Hà Nội. Đó là sông Tô Lịch,
5,8
20 - 30
2 - 4
S. Sét
6,7
20 - 30
3 - 4
S. Kim Ngưu
10,8
20 - 30
3 - 4
S. Nhuệ
29,0 1,53
S. Đáy
250,0
Khu vực nghiên cứu cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, mang dấu
vết của các con sông cổ. Toàn thành phố có trên 80 hồ và ao (tính kể cả những ao có
diện tích mặt nước từ 1ha trở lên). Trong khu vực nội thành, Hồ Tây, Hồ Trúc. Cùng
với Hồ Tây, trong khu vực Hà Nội còn có các hồ nổi tiếng như Trúc Bạch, Thiền
Quang, Thủ Lệ và các đầm lớn như Kim Liên, Liên Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô,
Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn (Bảng 4). Các hồ tự nhiên này
Hồ Suối Hai
1000.0
2
Hồ Bách Thảo
1.0
35
Hồ Tiền
0.5
67
Hồ Tha
̣
ch Sa
37.9
3
Hồ Trúc Bạch
26.0
36
Hồ Linh Đàm
67.5
68
Đầm Long
50.0
4
Hồ Giảng Võ
6.0
37
Hồ Định Công
17.0
69
Hồ Cẩm Quy
8
Hồ Thành Công
6.8
41
Hồ Đồng Khuyến
2.7
73
Hồ Cua
11.6
9
Hồ Ngọc Hà
0.4
42
Đầm Bông
1.2
74
Đầm Dương
124.1
10
Hồ Đầm
0.7
43
Đầm Đỗi
14.3
75
Hồ Tân Xã
58.2
11
Hồ Nghĩa Đô
5.2
Hồ Đống Đa
18.6
47
Hồ Đi
̣
nh Công
17.5
79
Hồ Hưng Thịnh
13.9
15
Hồ Xã Đàn
4.5
48
Hồ Tây
567.0
80
Hồ Kỳ Viên
11.3
16
Hồ Thiền Quang
Tĩnh
0.6
49
Hồ Quảng Bá
6.1
81
Hồ Dương Kỳ
6.2
17
Hồ Lấn nhỏ
1.2
85
Hồ Miễu
17.2
21
Hồ Khương
Thượng
0.3
54
Hồ Rẻ Quạt
4.4
86
Hồ Quan Sơn va
̀
Tuy Lai
850.0
23
1.2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ- XÃ HỘI
Khu vực nghiên cứu là phần lớn thành phố Hà Nội, trung tâm chính trị, hành
chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế của cả nước nên tập trung các cơ quan đầu
não của Chính phủ, các sứ quán nước ngoài và các tổ chức quốc tế; có nhiều đầu
mối giao thông, dễ thông thương với bên ngoài.
Có nguồn và chất lượng lao động khá tốt và đồng đều, có tiềm lực khoa học
kỹ thuật lớn mạnh, có nền tảng và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tốt cùng với
nguồn tài nguyên du lịch dồi dào, có khả năng thu hút và hấp dẫn lượng khác du lịch
trong và ngoài nước. Đặc biệt hội tụ đầy đủ điều kiện và tiềm lực hội nhập với các
khu vực tam giác phát triển của Châu Á và trên thế giới.
89
Hồ Văn Quán
5.7
25
Hồ Hố Mẻ
1.3
58
Đầm Chuối
3.3
90
Đầm Khê
4.5
26
Hồ Phương Liệt 1
0.9
59
Hồ Sắp Lấp
0.8
91
Hồ Văn Yên
0.9
27
Hồ Phương Liệt 2
0.8
60
Hồ Lấn Đoa
̀
i
0.8
Hồ Thanh Nhàn 2
2.0
65
Hồ Xuân Khanh
104.0
33
Hồ Dần Mất
0.5
24
tỉnh trong toàn lưu vực là 10.929.470 người (2009), mật độ dân số trung bình đạt
989 người/km
2
.
Khu vực nghiên cứu có diện tích: 2361 km
2
, dân số khoảng 5,7 triệu người.
Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 38.936 người/km
2
, trong khi đó, ở
những huyện như ngoại thành như Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km
2
.[2]
1.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đây là khu vực có dân cư, KT - XH phát triển liên tục từ rất lâu đời, cho đến
ngày nay vùng hữu ngạn sông Hồng vẫn là một vùng kinh tế - xã hội phát triển nhất
châu thổ đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế cả