ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ - LUẬT
BỘ MÔN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
o0o
Môn học: Tài chính quốc tế
Đề tài:
Diễn biến và nguyên nhân khủng hoảng tài chính
1997 - 1998
GVHD: TS. Lê Tuấn Lộc
Nhóm thực hiện:
1.Ngô Thị Mỹ Linh K074020319
2.Bùi Thị Hải Nhạn K074020340
3.Trần Minh Phú K074020350
4.Đặng Thị Thanh Thi K074020364
5.Đỗ Thị Ngọc Thịnh K074020367
6.Cao Thị Minh Trang K074020373
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
Mục lục
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………. 2
I.Diễn biến cuộc khủng hoảng …………………………………………………………. 3
1. Tình hình tại Thái Lan ……………………………………………………………… 3
a. Những năm 80 của thế kỷ XX ……………………………………………………… 3
b. Đầu năm 1997 ……………………………………………………………………… 3
2. Diễn biến cụ thể tại các nước ……………………………………………………… 7
2.1 HongKong ………………………………………………………………………… 7
2.2 Hàn Quốc …………………………………………………………………………… 7
2.3 Malaysia ……………………………………………………………………………. 8
2.4 Indonesia …………………………………………………………………………… 8
3.Hậu quả từ cuộc khủng hoảng tài chính đến các nền kinh tế ………………………… 9
II.Nguyên nhân cuộc khủng hoảng ………………………………………………… 10
1. Nguyên nhân chủ quan …………………………………………………………… 10
“Con hổ Đông Á”. Vậy điểu gì đã tạo nên thương tích trên những “Con hổ Đông Á” ấy?
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á 1997 – 1998
3
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
I/ DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOẢNG:
1.Tình hình tại Thái Lan:
a.Những năm 80 của thế kỉ XX:
Giai đoạn này Thái Lan nổi lên như một nền kinh tế năng động nhất Châu Á. Từ 1985
đến 1995, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan đạt 8,5% hàng năm, mức độ lạm phát
trung bình hàng năm 5% (so sánh trong cùng thời kì kinh tế Mỹ tăng trưởng 1,3% và lạm
phát 3,2%). Tăng trưởng kinh tế rất nóng do sự bùng nổ đầu tư vào kinh doanh nhà
xưởng, bất động sản, cơ sở hạ tầng du lịch.
Nhu cầu về bất động sản tăng rất nhanh tại Bangkok, văn phòng làm việc và các tòa
nhà chọc trời mọc lên khắp nơi trên thành phố. Các tổ chức tài chính tiếp tục cho các
công ty kinh doanh bất động sản vay vốn vì giá bất động sản liên tục tăng.
Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh
tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế có thể không giữ được lâu. Cũng
trong thời gian này, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh, cả mức
vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi.
b.Đầu năm 1997:
- Sự bùng nổ về xây dựng nhà ở và văn phòng kinh doanh đã lên tới đỉnh
điểm khi lượng cung vượt quá cầu. Ước tính 365.000 căn hộ bỏ trống ở Bankok vào
cuối năm 1996, cùng với 100.000 căn hộ khác sẽ được đưa vào sử dụng năm 1997
đã làm cho cung vượt xa cầu trên thị trường bất động sản
- Trong thời gian đó, bùng nổ đầu tư của Thái Lan vào cơ sở hạ tầng, khu
công nghiệp, khu thương mại làm tăng lượng hàng nhập khẩu với tỷ lệ cao chưa
từng thấy. Để xây dựng Thái Lan phải nhập các thiết bị đắc tiền,vật liệu từ Mỹ,
Châu Âu, Nhật. Kết quả tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán thâm hụt mạnh
trong suốt giữa những năm 90. Trong giai đoạn này xuất khẩu tăng nhưng nhập
khẩu càng tăng nhanh hơn . Trong năm 1995 thâm hụt cán cân thanh toán là 8,1% so
tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan vào ngày 11/8. Đến ngày 20/8, IMF thông qua một gói cứu trợ
nữa trị giá 3,9 tỷ dollar.
Tuy nhiên, khủng hoảng vẫn nhanh chóng lan ra Hàn Quốc, Malaysia và Indonesia.
Đồng Ringgit (Malaysia) và Rupiah (Indonesia) đều chịu sức ép và sau cùng đều bị phá
giá. Đồng won Hàn Quốc, do cơ chế tỷ giá linh hoạt, nên đã mất giá từ năm 1996.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa chính thức (nội tệ/USD)
Hàn Quốc (Won) Thái Lan (Baht) Indonesia (Rupiah)
5
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
Malaysia (Ringgit) Philippines (Peso) Singapore (S-dollar)
Nguồn: NHTG, “World Development Indicators”, 2002.
Chỉ số tỷ giá hối đoái với USD
- Dòng vốn ngắn hạn đã chảy vào các nước Đông Á, giờ ồ ạt chảy ra. Cả
các nhà đầu tư đều muốn chuyển vốn ra. Ngân hàng đòi lại vốn cho vay, từ chối đảo
nợ và ngưng cho vay mới.
- Các nhà đầu tư chứng khoán thì bán chứng khoán, đổi ra ngoại tệ và
chuyển ra nước ngoài. Riêng trong năm 1997, hơn 20 tỷ USD ròng được đưa ra khỏi
5 nước Đông Á chịu khủng hoảng, trong khi trong năm 1996 vẫn còn nhận được gần
66 tỷ USD.
6
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
- Thị trường bất động sản tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia sụp đổ.
Hình 8: Chỉ số giá cao ốc văn
phòng tại Thái Lan và
Indonesia
Nguồn: Marcus Miller và
Pongsak Luangaram (1998)
- Chỉ số chứng khoán tụt giảm mạnh ở hầu hết các nước Đông Á.
- Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở
mức 7,8 : 1.
2.2 Hàn Quốc:
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng nợ
nước ngoài khổng lồ. Các công ty, tập đoàn lớn nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng
trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài. Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra. Khi thị trường châu
Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc ở
quy mô lớn.
- Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ
hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống
B2. Điều này góp phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá.
- Riêng trong ngày 7 tháng 11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4%. Ngày
24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các
chính sách thắt chặc tiền tệ.
8
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000
KRW/USD.
2.3 Malaysia:
Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997), đồng Ringgit
của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh.
Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar. Phần lớn
sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở
nước ngoài. Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở
trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sự giảm giá của đồng Ringgit trong
tương lai.
Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy
ra nước ngoài. Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm
1997.
2.4 Indonesia:
người mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp Philippines từ 9,5% (năm 96) tăng lên 10,4%
(năm 97), tại Hàn Quốc từ 2,5 (năm 97) tăng vọt lên 8,6% (tháng 7/98).
Thu nhập bình quân đầu người sụt giảm mạnh, cho đến năm 2002 vẫn chưa thể hồi
phục bằng mức của năm 1996.
SO SÁNH MỨC TNBQ/NGƯỜI NĂM 1996 VÀ NĂM 2002
10
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
Sự rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư, người cho vay trong và ngoài nước
khiến nguồn vốn tín dụng cạn kiệt, thị trường chứng khoán trầm lắng xảy ra ở hầu
hết các nước Đông Á.
Khủng hoảng tiền tệ dẫn đến khủng hoảng xã hội và khủng hoảng
chính trị. Điều này dẫn đến việc ông Suharto buộc phải từ chức tổng thống
Indonesia vào giữa năm 1998.
III/ NGUYÊN NHÂN CUỘC KHỦNG HOẢNG:
Như vậy nhìn vào diễn biến trên ta có thể thấy được nguyên nhân của cuộc khủng
hoảng xuất phát từ các yếu tố chủ quan và khách quan:
1.Nguyên nhân chủ quan:
1.1 Nền kinh tế vĩ mô yếu kém đưa đến sự bùng nổ tín dụng, tài khoản vãng lai thâm
hụt:
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản
cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nên cao quá mức. Các
nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản
của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Quá trình toàn cầu hóa các thị
trường tài chính đã diễn ra với tốc độ chóng mặt. Chỉ riêng giai đoạn từ 1990-1997 , vốn
tư nhân đưa vào các nước đang phát triển đã tăng hơn 5 lần, từ 42 triệu USD năm 1990
tới 256 triệu USD năm 1997. Trong khi thương mại thế giới chỉ tăng gần 5%/năm thì
dòng vốn tư nhân tăng gần 30%/năm. Những hình thức huy động vốn nhanh chóng nhất
11
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
như vay nợ từ các ngân hàng thương mại và đầu tư gián tiếp chính là những yếu tố tạo
khiên cưỡng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc phá giá hàng loạt các đồng tiền khu
vực. Mặc dù khởi phát từ việc thả nổi đồng baht Thái Lan dấn đến hiệu ứng lan tỏa sang
các đồng Peso, Ringgit và Rupiah, nhưng trong thực tế trong chừng mực nào đó,các đồng
nội tệ này đã bị giảm giá trước xu hướng ngày càng tăng của đồng USD.
12
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
Xét về phương diện lý thuyết, chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo hệ thống Bretton
Woods, có ý nghĩa tích cực trong việc ổn định hóa đồng tiền nội tệ và hỗ trợ cho quá
trình tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu lạm dụng quá nhiều vào tỷ giá cố định trong
điều kiện đồng nội tệ trên thực tế bị giảm giá so với đồng tiền mạnh khác cũng như cơ
cấu kinh tế mất cân đối lớn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng. Đáng lẽ ngay từ năm 1996,
khi những triệu chứng thâm hụt tài khoản vãng lai xuất hiện, Thái Lan và các nước Đông
Nam Á khác phải thực hiện chính sách thả nổi đồng nội tệ, trả lại giá đích thực của nó,
kết hợp với chính sách thắt chặt tài chính, chắc chắn nguy cơ khủng hoảng bị dập tắp.
Thay vì chính chính sách kìm giữ một cách giả tạo đồng nội tệ để thu hút vốn nước ngoài
Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo
ra sức ép tăng giá nội tệ. Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam
Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm
phát nhằm bù đắp lỗ hỏng của tài khoản vãng lai và kiềm chế lạm phát.
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế
gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời. Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình
vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn). Kinh tế
phát. Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô
hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế.
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ
việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm
1987. Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu
của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng. Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại
theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn.
Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước
Tỷ giá hối đoái cố định mà nhiều chính phủ Đông Á duy trì cũng là yếu tố khuyến khích
dòng vốn nuớc ngoài do rủi ro tỷ giá đuợc loại bỏ.
Dòng vốn nuớc ngoài đã taọ nên sự bùng nổ tín dụng trong khu vực. Trong thập niên
1990,tín dụng ngân hàng cấp cho khu vực tư nhân tăng lên nhanh chóng. Từ cuối năm
1996, tổng giá trị nợ tài chính của khu vực tư nhân trên GDP lên tới 140% ở Hàn Quốc
và Thái Lan. Mức cung tiền M2 ở Hàn Quốc, Thái Lan, Phillippines, Malaysia và
Indonesia tăng gần 20%/năm trong năm 96-97.
Bảng số liệu:Nợ tài chính của khu vực tư nhân so với GDP (%)
1991 1992 1993 1994 1995 1996
Korea 103.1 110.
7
121.
3
128.
8
133.
5
140.9
Thailand 88.6 98.4 110.
8
128.
1
142.
0
141.9
Nguồn: Radelet và Sachs (1998).
14
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
Một điểm đáng lưu ý nữa là hầu hết các khoảng vay nứơc ngoài ngắn hạn được đầu tư
dài hạn. Nợ ngắn hạn nuớc ngoài luôn luôn lớn hơn so với dự trữ ngoại tệ của các nuớc
Nhật Bản là một trong những thị truờng xuất khẩu lớn nhất của Châu Á bị trì trệ từ
đầu thập niên 1990. Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm 1994 cùng
nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất
khẩu cùng loại của Đông Nam Á. Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục
lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới sự
lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát.
Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước ở
Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn
cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ. Và do đồng tiền của các nước Đông Nam Á được
neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh dẫn đến tài
khoản vãng lai của họ bị suy yếu.
Bảng số liệu: thâm hụt tài khoản vãng lai (%GDP)
1994 1995 1996
Hàn Quốc -0.96 -1.74 -4.42
Thái Lan -5.59 -8.05 -8.05
Malaysia -6.07 -9.73 -4.42
Indonesia -1.58 -3.18 -3.37
Philippines -4.60 -2.67 -3.77
Nguồn: NHTG; “chỉ số phát triển thế giới năm 2002”
2.3 Hoạt động tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt:
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc
tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á. Khi phát hiện những dấu
hiệu suy thoái của hệ thống ngân hàng- tài chính khu vực, nhiều nhà đầu cơ nước ngoài
đã tăng cường hoạt động đầu cơ tiền tệ.
Theo nguồn tin nước ngoài thì rất nhiều nhà đầu cơ trong tổng số 2300 quỹ tín dụng
tư nhân ở Mỹ, với tài sản trên 100 tỷ USD đã nhảy vào thị trường khu vực này trong 2
tháng 7-8/1997. Ngoài các quỹ do Soros kiểm soát còn có các quỹ tín dụng lớn như
Tiger, Orbis, Pumar, Panther và Jaguar. Họ mua đồng Baht sau đó Peso, Ringgit, Rupiah
kể cả SGD ước tính 10-15 tỷ USD để đầu cơ, cả dự trữ ngoại hối nhà nước cạn kiệt càng
làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.
• Thực chất cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á là khủng hoảng nợ nước ngoài,
đặc biệt là vốn vay tư nhân và ngắn hạn, dẫn tới cầu về USD tăng cao, vượt
quá cung và đồng nội tệ mất giá nhanh chónh dẫn đến mất khả năng trả nợ. Vì
vậy, bài học đầu tiên là Việt Nam phải có chiến lược, qui hoạch và biện pháp
để quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài( ODA, vốn vay ngắn hạn và dài
hạn) một cách hiệu quả nhất, cũng đảm bảo hoàn trả vốn vay đúng thời hạn.
Việt Nam cần có khung luật pháp nghiêm minh và hệ thống quản lý của Nhà
nước chặt chẽ nhằm kiểm soát những khoản vay nước ngoài ngày càng gia
tăng. Chính sách vay vốn nước ngoài cần khuyến khích hướng vào vay vốn dài
17
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
hạn, hạn chế và quản lý chặt chẽ vốn ngắn hạn; cần phải thận trọng vớI những
luồng chu chuyển vốn ngắn hạn ồ ạt.
• Trong chiến lược phát triển kinh tế cũng như điều hành vĩ mô, cần duy trì một
thế cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế vĩ mô như: lạm phát, tăng
ttrưởng , tỷ giá hối đoái, lãi suất, ngân sách, cán cân thương mạI và cán cân
thanh toán. Các chính sách kinh tế vĩ mô cần được điều hành một cách linh
hoạt, đồng bộ và phói hợp chặt chẽ và bổ sung cho nhau.
• Lựa chọn một cách tập trung và phù hợp vớI các mục tiêu ưu tiên trong quá
trình phát triển (lựa chọn vùng, ngành, sản phẩm, thị trường, qui mô các dự án
và nhịp độ tăng trưởng). Nhà nước phải có định hướng đầu tư của toàn xã hội
theo một cơ cấu hợp lý.
• Tiếp tục đổi mới và mở cửa nền kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường hiện
đạI, quốc tế hoá nền kinh tế và phát huy cao độ nội lực để tăng trưởng nhanh
và phá triển bền vững, đối phó tốt với các “cú sốc” từ bên ngoài.
• Sự thâm hụt của cán cân vãng lai là một vấn đề cần được quan tâm thường
xuyên và có biện pháp điều chỉnh thích hợp.Kinh nghiệm của các nước:
Malaysia, Indonesia cho thấy, mặc dù tỷ lệ thâm hụt cán cân vãng lai so với
GDP thấp hơn của Thái Lan; mặc dù có dự trữ ngoại tệ tương đối lớn, song
cũng không ngăn cản được phản ứng dây chuyền của khủng hoảng tài chính ở
có lợi lẫn bất lợi với nền kinh tế của họ. Do đó, nhiều chính phủ đã ban hành những quy
chế nhằm điều tiết các dòng vốn này. Thêm vào đó,những thỏa thuận ở cấp khu vực
nhằm phát triển một hệ thống phòng ngừa khủng hoảng tái diễn đã được thúc đẩy ở châu
Á, ví dụ như Sáng kiến Chiang Mai, Tiến trình Đánh giá và Đối thoại Kinh tế ASEAN+3,
Sáng kiến Thị trường Trái phiếu Châu Á, Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu kinh tế
đã nhận thấy sự hạn chế của các mô hình lý luận về khủng hoảng tiền tệ trước đây trong
việc giải thích nguồn gốc và sự lây lan của khủng hoảng tài chính châu Á. Đã có nhiều nỗ
lực nhằm đưa ra một mô hình mới về khủng hoảng tiền tệ, chẳng hạn như mô hình
phương pháp tiếp cận bảng cân đối tài sản, lý thuyết bong bóng, lý thuyết về nguồn gốc
khủng hoảng từ chính sách tài chính và chính sách tiền tệ. Việt Nam trước khủng hoảng
cần rút ra được bài học kinh nghiêm từ thực tiễn và đưa ra những biện pháp phòng ngừa
cho nền kinh tế vẫn còn non trẻ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Nguyễn Thiện Nhân, Khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á 1997 – 1999: Nguyên
nhân, hậu quả và bài học với Việt Nam, NXB ĐHQG TP HCM, 2002.
20
Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 Diễn biến và nguyên nhân
2.Triệu Thành Nam (dịch), Đông Á phục hưng, NXB Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 2007
3.http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BB%A7ng_ho%E1%BA%A3ng_t%C3%A0i_ch
%C3%ADnh_ch%C3%A2u_%C3%81_1997
4. http://www.saga.vn/view.aspx?id=3473
5. http://www.scribd.com/doc/16501724/FinancialKhng-hong-tai-chinh-ong-A-19971998
6. http://kinhtehoc.net/forum/showthread.php?tid=419
7. http://dantri.com.vn/c36/s36-185815/chau-a-hoc-duoc-gi-tu-cuoc-khung-hoang-tai-
chinh-1997.htm
8.http://ktdoingoai.com/diendan
21