Khủng hoảng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Diễn biến và nguyên nhân - Pdf 67

1
MỤC LỤC
2
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................................... 2
I.TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KINH TẾ VIỆT NAM TỪ 2008 –
NAY ....................................................................................................................................... 3
1.Kinh tế thế giới ........................................................................................................................................... 3
2.Kinh tế Việt Nam ........................................................................................................................................ 8
II.KHỦNG HOẢNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TỪ
2008 – NAY ......................................................................................................................... 13
1.Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam 2008 – nay ...................................................................... 13
3.1.Nguyên nhân khách quan ................................................................................................................. 18
3.2.Nguyên nhân chủ quan ..................................................................................................................... 18
III.HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM .. 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 22
DANH SÁCH NHÓM ...................................................................................................... 23
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức kỷ niệm sinh nhật lần thức 11
ngày 20/7/2011.
Với những nhà đầu tư đã trải qua quãng đường suốt 11 năm trời ròng rã cùng với thị
trường, biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn đã đến và đi. Được đấy và cũng mất đấy, đồ thị
dao động tâm trạng của nhà đầu tư cũng hệt như biến động hình sin của thị trường trong
vòng 10 năm.
3
Con sóng đầu tiên từ thuở "khai sinh lập địa" đã làm cho mỗi nhà giàu ở Hà Nội
được cộng thêm một chiếc Mercedes vào tài sản cá nhân cứ sau một phiên thị trường tăng
nóng. Nó đã mang lại lợi lộc cho không biết bao nhiêu người.
Dĩ nhiên, lợi lộc của người này lại là mất mát của người nọ - quy luật bất biến và
cũng là bài toán bù trừ trong TTCK. Song ít gì, trong 10 năm đầu, thị trường có xuống có
lên, chủ thuyết đầu tư dài hạn ít ra còn có tác dụng đối với những người kiên nhẫn. Tài sản
không đến nỗi đội nón ra đi không bao giờ trở lại. Hoàn toàn không giống với những gì đã

nỗi lo này càng giảm bớt cùng với sự đi xuống nhanh chưa từng có của giá nhiên liệu.Thế
giới lại phải đương đầu với một mối đe dọa mới là giảm phát,giá cả lương thực giảm, dẫn
tới hạn chế đầu tư phát triển diện tích trồng trọt, dẫn tới nguồn cung eo hẹp,đe dọa nghiêm
trọng cuộc sống của tầng lớp dân nghèo.
Chính sách tiền tệ: Từ chủ trương thắt chặt tiền tệ để chống khủng hoảng, thế giới
đã chuyển sang nới lỏng mạnh mẽ chính sách này để chống khủng hoảng và hỗ trợ tăng
trưởng.Cùng với việc hạ lãi suất, các nước cũng liên tục bơm tiền với khối lượng lớn vào
hệ thống tài chính và nền kinh tế để tăng cường tính thanh khoản cho thị trường.
Hai mặt hàng được quan tâm nhiều là vàng và dầu thô đều cùng đạt đỉnh cao lịch sử
trong năm nay, với mức trên 1.030 USD/oz đối với giá vàng vào thời điểm tháng 3, và mức
trên 147 USD/thùng đối với giá dầu vào giữa tháng 7. Sau đó, giá cả hai mặt hàng này
cùng trượt dốc dài.
 Năm 2009
Nền kinh tế thế giới đã dần sáng trở lại sau cơn bão tài chính. Cuộc khủng hoảng đã
khép lại khi các trung tâm kinh tế tài chính lớn phát đi những tín hiệu phục hồi. Những
biện pháp quyết liệt trong chính sách tiền tệ nới lỏng và tài khóa mở rộng của các chính
phủ được nhận định là nguyên nhân chính đem lại sự phục hồi nhanh chóng của kinh tế thế
giới.
Các nước trên thế giới đã có sự liên kết hợp tác trong hành động ứng cứu nền kinh
tế, mà đặc biệt quan trọng là chương trình hành động của các quốc gia nhóm G20. Theo số
liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) những nước nhóm G20 đã chi tổng cộng khoảng 10
nghìn tỉ USD để kìm hãm đà suy giảm. Trong đó, Anh là nước chi nhiều nhất, đến 94%
5
GDP, kế đến là Mỹ, 25% GDP. Cục dữ trữ liên bang Mỹ đã duy trì lãi suất FED ở mức
thấp gần 0% để kích thích tiêu dùng và sản xuất nhằm vực dậy nền kinh tế.
Kinh tế toàn cầu đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi từ trong quý II/2009. Hầu hết các
quốc gia trên thế giới đã có tốc độ tăng trưởng GDP dương trong quý III và quý IV/2009.
Chỉ số giá tiêu dùng CPI của nhiều quốc gia cũng bắt đầu tăng trưởng dương cho thấy dấu
hiệu phục hồi trở lại của nhu cầu tiêu dùng. Nhiều chỉ báo kinh tế khác như chỉ số lòng tin
người tiêu dùng, tăng trưởng công nghiệp,doanh số bán nhà, số đơn đặt hàng cũng được

3,75% vào hai quý cuối năm (IMF, 2011). Trong sự phục hồi chung của nền kinh tế toàn
cầu, có sự tương phản rõ rệt giữa sự tăng trưởng mạnh của các nước đang phát triển (thậm
chí tăng trưởng nóng tại một số nước châu Á như Trung Quốc) với sự chững lại của các
nước phát triển (Mỹ, EU và Nhật).
Tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao ở hầu hết các nước: Khoảng 27,6 triệu người đã
mất việc từ khi cuộc Đại Suy thoái xảy ra, nâng tổng số người thất nghiệp trên toàn thế
giới lên tới 205 triệu người. Ở các nền kinh tế chủ chốt, dù kinh tế đang phục hồi nhưng tỷ
lệ thất nghiệp vẫn chưa được cải thiện nhiều.
Ngân sách thâm hụt trầm trọng và nợ công gia tăng: Thâm hụt ngân sách lớn hạn
chế Chính phủ thực thi chính sách tài khóa và đẩy một số nước vào nguy cơ khủng hoảng
nợ công, làm tăng chi phí vay vốn và là mầm mống cho bất ổn trong thị trường tài chính.
Thâm hụt ngân sách cũng tạo ra nguy cơ tăng tỷ lệ thất nghiệp khi Chính phủ phải thắt
lưng buộc bụng và sa thải lao động trong khu vực công.
Lạm phát và lãi suất ở mức thấp ở các nước phát triển, ở mức trung bình ở các
nước đang phát triển nhưng tăng mạnh trở lại từ cuối năm 2010: NHTW nhiều nước cùng
với chính sách “nới lỏng định lượng” khẩn cấp đã tiến hành phối hợp cắt giảm mạnh lãi
suất chính sách,và cam kết duy trì lãi suất thấp.Trong suốt năm 2010, lạm phát ở mức thấp
tại các nước phát triển. Theo như ước tính của IMF, tỷ lệ lạm phát toàn phần trung bình cả
năm 2010 ở các nước phát triển là 1,5%. Do ảnh hưởng của sự tăng giá của hàng hóa trên
thế giới, kinh tế đang trên đà phục hồi mạnh, cùng với tác động của các dòng vốn và nguồn
tiền nóng, lạm phát toàn phần tại các nước đang phát triển đã trở lại mức trung bình cao
(6,3% theo IMF 2011) và đang có xu hướng tăng lên ở mức đáng ngại từ cuối năm 2010.
NHTW một số nước đang phát triển đã bắt đầu tiến hành nâng lãi suất và thắt chặt tiền tệ
để kiềm chế lạm phát.
Thương mại toàn cầu năm 2010 phục hồi nhưng chưa như mong đợi: Sau khi sụt
giảm trầm trọng hơn 11% vào năm 2009, thương mại toàn cầu năm 2010 đã phục hồi với
mức tăng ước tính khoảng 10,5%. Thương mại toàn cầu đang có xu hướng dịch chuyển
trọng tâm sang các nước đang phát triển đặc biệt là Trung Quốc
7
WTO và đàm phán thương mại đa phương vẫn bế tắc, đàm phán thương mại khu

trong quí II-2011 và có khả năng tăng nhanh hơn trong 6 tháng cuối năm.Các rủi ro chính
đe dọa tiến trình phục hồi tăng trưởng kinh tế cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô toàn cầu
8
năm 2011 bao gồm: sự mất cân bằng kéo dài trong khu vực tài chính và khu vực tài khóa
tại các nền kinh tế phát triển gây ra những bất ổn về kinh tế vĩ mô và hoạt động tài chính-
ngân hàng toàn cầu; giá dầu tăng cao làm tăng chi phí đầu vào và tình trạng thất nghiệp tại
các nước phát triển vẫn chưa được cải thiện nhiều; nguy cơ khủng hoảng nợ công lan rộng
sang nhiều nước tại khu vực châu Âu gây rủi ro đối với hệ thống tài chính khu vực và toàn
cầu; trong khi đó nhiều quốc gia đang phát triển và mới nổi lại đang bước vào giai đoạn
tăng trưởng kinh tế nóng với áp lực lạm phát cao là dấu hiệu của việc kinh tế có thể tăng
trưởng chậm lại.
Lạm phát: đã tăng lên mức cao và đe dọa cản trở tốc độ phục hồi kinh tế thế giới
cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô của các nước. Lạm phát ở các quốc gia phát triển có dấu
hiệu tăng nhanh hơn các quốc gia đang phát triển. Mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
so với cùng kỳ năm trước tính đến cuối tháng 5-2011 tại Mỹ là 3,6%, cao nhất kể từ tháng
7/2008, tại Anh là 4,5%, Singapore là 4,48%, Canada là 3,7%; tính đến cuối tháng 6-2011
tại khu vực Eurozone là 2,7% và tại Hàn Quốc là 4,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Trung
Quốc bất chấp rất nhiều các biện pháp thắt chặt tiền tệ như liên tiếp tăng các mức lãi suất
chính sách, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhưng CPI của nước này tính đến cuối tháng 6-2011
vẫn tăng ở mức kỷ lục 6,4%. Các nước đang phát triển khác như Nga, Ấn Độ, cũng có tốc
độ tăng CPI tính đến cuối tháng 5 ở mức cao, lần lượt là 9,6%, 8,9% so với cùng kỳ năm
ngoái.
Đô la Mỹ liên tục giảm giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trên thế giới ngoại
trừ đợt phục hồi nhẹ trong tháng 5-2011.
Tăng lãi suất để ứng phó: NHTƯ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia
đang phát triển, đều đang điều chỉnh lãi suất chính sách theo chiều hướng tăng dần nhằm
đối phó với áp lực lạm phát.
2. Kinh tế Việt Nam
 Tăng trưởng GDP
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010

14 15 16 20 26 32 39 48 62 57 71
Nhập khẩu (tính theo tỷ
USD, làm tròn)
15 16 19 25 31 36 44 62 80 69 84
Chênh lệch–nhập siêu (tính
theo tỷ USD, làm tròn)
-1 -1 -3 -5 -5 -4 -5 -14 -18 -12 -13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status