nghiên cứu khu hệ chim vườn quốc gia tràm chim và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn - Pdf 25

1
MỞ ĐẦU
Khu Ramsar Tràm Chim - nơi bảo tồn loài Sếu đầu đỏ ở Việt Nam đã và
đang được nhiều tổ chức BTTN quốc tế hết sức quan tâm, đặc biệt là tổ chức
Sếu Quốc tế (International Crane Foundation/ICF). Với tổng diện tích khoảng
7.313 ha, trong đó có gần 3.000 ha rừng tràm và khoảng 1.000 ha là nơi sinh
sống của các loài thực vật hoang dã khác còn tồn tại ở đây như lúa trời, sen,
súng và cỏ năng…
Thành phần loài chim của VQG Tràm Chim khá phong phú, nhất là các
loài chim nước và phụ thuộc đất ngập nước, với nhiều loài đã và đang bị đe
doạ tuyệt chủng ở mức độ khác nhau, trong đó có loài Sếu đầu đỏ hay Sếu cổ
trụi, được coi là loài biểu tượng của Tràm Chim. Ngày nay khu hệ chim VQG
Tràm Chim đang hàng ngày phải chịu nhiều áp lựcvà bị đe dọa nghiêm trọng
về nhiều mặt như suy giảm và thu hẹp vùng cư trú, nơi kiếm ăn, số lượng cá
thể v.v. đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại tài nguyên chim hoang dại trong
VQG và trong toàn vùng, ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động quản lý bảo
tồn của Vườn.
Để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững ĐDSH đặc biệt là khu hệ chim
hoang dã, việc tăng cường điều tra nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho các giải
pháp quản lý bảo vệ và phục hồi các sinh cảnh tự nhiên, số lượng các loài chim
quý hiếm, có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng đối với vùng ĐBSCL và VQG
Tràm Chim đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Để góp phần thực hiện các mục tiêu
chung đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu khu hệ chim Vườn Quốc
gia Tràm Chim và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn”.
Mục tiêu của đề tài:
1. Xác định tính đa dạng về thành phần loài và độ phong phú của khu hệ chim
VQG Tràm Chim.
2. Xác định tầm quan trọng bảo tồn của khu hệ chim ở VQG Tràm Chim.
3. Xác định các đe dọa đối với khu hệ chim và đề xuất các giải pháp quản lí bảo
tồn khu hệ chim ở VQG Tràm Chim.
Nội dung nghiên cứu:

các đơn vị phân loại, các họ, giống, loài ưu thế; thành phần và tỉ lệ của các yếu
tố địa lý có trong khu hệ. Trên cơ sở đó để xác định được tính đặc trưng và
nguồn gốc hình thành của khu hệ. Trong cùng một khu phân bố địa lý động vật,
sự tương đồng về mặt địa lý sẽ dẫn tới giữa các KBTTN và VQG trong vùng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi khu hệ đều có các loài hình thành tại chỗ,
các loài phân bố rộng và các loài di cư từ nơi khác đến; đồng thời tuỳ theo mức
độ phân hoá điều kiện môi trường sống giữa các khu hệ mà cấu trúc thành phần
loài giống nhau nhiều hay ít.
VQG Tràm Chim là vùng đất ngập nước quan trọng của vùng ĐBSCL nói
riêng và Việt Nam nói chung đang rất được quan tâm để duy trì và bảo tồn
ĐDSH, nhất là khu hệ chim nước. Ở VQG Tràm Chim đã có các khảo sát về
chim được tiến hành năm 1996 và 1999. Tuy nhiên theo chúng tôi, những kết
quả đó chưa phản ánh hết được tính đa dạng khu hệ chim của VQG, cần phải có
một kết quả phản ánh độ ĐDSH khu hệ chim ở đây cụ thể. Nội dung của đề tài
cũng giải quyết vấn đề này.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Nghiên cứu khu hệ động vật cũng không thể tách rời với môi trường sống,
đó là sự phân bố của các loài gắn với các đặc điểm của môi trường, sinh cảnh
sống. Những biến đổi của môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của
các loài động vật và quyết định chiều hướng biến đổi của quần thể các loài
trong khu hệ. Xác định các tác nhân gây biến đổi tới môi trường sống cũng là
3
một trong những vấn đề quan trọng nhằm hạn chế được những ảnh hưởng bất
lợi từ môi trường đến các nhóm động vật. Để bảo vệ quần thể các loài động vật
thì trước hết phải bảo vệ môi trường sống, bảo tồn các dạng sinh cảnh mà ở đó
các loài động vật đang sinh sống. Đặc biệt là đối với các loài chim, trong các
dạng sinh cảnh thì thảm thực vật là một trong những yếu tố rất nhạy cảm vì đây
là vùng kiếm ăn và cư trú của loài. Do đó, ngoài việc nghiên cứu đa dạng loài
thì cũng cần quan tâm đến bảo vệ sinh cảnh sống của loài.
Các hoạt động sinh kế của con người như chặt phá tràm, bắt cá, chăn thả

âm sinh học của loài chim Lách tách má xám Alcippe morrisonia
Các tài liệu chuyên khảo dùng cho nghiên cứu chim được xuất bản: Sách
chim Việt Nam tập I và II (Võ Quý, 1975, 1981), danh lục chim Việt Nam (Võ
Quý, Nguyễn Cử, 1995), Chim Việt Nam (Nguyễn Cử và cs., 2000), Động vật
chí (phần Chim: Lê Đình Thuỷ, 2007). Gần đây nhất là các xuất bản Danh lục
4
chim Việt Nam của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) và
sách Giới thiệu một số loài Chim Việt Nam của Lê Mạnh Hùng (2012).
Có thể nói nghiên cứu chim ở Việt Nam đã được tiến hành ở hầu hết các
vùng trong cả nước, nhất là ở các VQG, KBTTN và các khu vực bảo tồn trọng
yếu; nghiên cứu khu hệ, sinh học sinh thái các loài, đặc biệt chú ý đến công tác
bảo tồn.
Ở VQG Tràm Chim, đã có một số nghiên cứu của các tác giả Larsen
(1996), Buckton (1999) về thành phần loài. Riêng đối với loài Sếu đầu đỏ, đã
có nhiều nghiên cứu được tiến hành ở Việt Nam cũng như VQG Tràm Chim:
Lê Diên Dực (1989), Minh Lộc (2007), Tu & Can (2004), Bao et al. (2004)
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đầy đủ và có hệ thống về khu hệ chom của
VQG Tràm Chim.
1.3. Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu
1.3.1. Vị trí địa lý và địa hình
- Ví trí địa lý: VQG Tràm Chim nằm trên địa bàn 4 xã: Phú Thọ, Phú
Hiệp, Phú Đức, Tân Công Sính thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Vườn có diện tích là 7.313 ha và thuộc tọa độ địa lý: 10
0
37 - 10
0
46 vĩ độ Bắc
và 105
0
28 - 105

tốc độ lớn trong cơn mưa chưa từng xảy ra.
- Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt, trung bình khoảng 1.650 mm/năm.
Mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, mùa mưa tập trung cao độ ở các tháng
7, tháng 8 và tháng 9 hơn 90% lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian này.
Tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất. Số ngày mưa trung bình đo được
tại VQG Tràm Chim khoảng 110 - 160 ngày/năm.
1.3.3. Đặc điểm thuỷ văn
VQG Tràm Chim được bao bọc bởi các kênh: Phú Thành ở phía Tây, Phú
Hiệp ở phía Đông, Đồng Tiến ở phía Tây Nam và An Bình ở phía Bắc. Trong
đó, kênh Đồng Tiến lớn nhất và là kênh trục nối từ sông Tiền sang sông Vàm
Cỏ Tây. Kênh Phú Hiệp và kênh Phú Thành giữ vai trò tiếp nước ngọt vào sâu
trong nội đồng từ các kênh trục và tiêu thoát nước khi có lũ từ hướng Tây tràn
qua. Kênh An Bình có tác dụng tiếp nước ngọt từ sông Tiền vào nội đồng.
Ngoài ra khu vực VQG Tràm Chim còn có 2 kênh nhỏ là kênh Mười Nhẹ nối từ
kênh Đồng Tiến sang kênh Phú Hiệp và kênh Ba Hồng chạy từ giữa kênh An
Bình vào trung tâm khu A1.
1. 3.4. Khu hệ thực vật, động vật
a. Thảm thực vật và hệ thực vật
Hệ thực vật đặc trưng bởi kiểu rừng tràm ngập nước theo mùa trên đất
phèn. Có 6 kiểu quần xã thực vật chính được tìm thấy trong VQG, bao gồm:
Quần xã sen (Nelumbo nucifera), quần xã lúa ma (Oryza rufipogon), quần xã cỏ
ống (Panicum repens), quần xã năng (Eleocharis dulcis), quần xã cỏ mồm mốc
(Ischaemum rugosum), Quần xã rừng tràm (Melaleuca cajiputi). Cho đến nay,
tại VQG đã thống kê được 174 loài thực vật nổi và 130 loài thực vật bậc cao,
trong đó có 14 loài thực vật thân gỗ, 2 loài thân bụi, 5 loài dây leo và 109 loài
thực vật thân thảo.
b. Khu hệ động vật
Động vật thủy sinh: VQG Tràm Chim phong phú về thành phần loài động
vật thủy sinh, các kết quả điều tra đã ghi nhận 110 loài động vật nổi và 26 loài
động vật đáy. Khu hệ Cá với 55 loài thuộc 15 họ. Khu hệ Chim: Thành phần

kết quả từ điều tra tình hình săn bắt, buôn bán. Ảnh chụp từ các đợt thực địa.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Điều tra nghiên cứu thực địa
2.3.1.1. Điều tra theo tuyến và theo điểm
- Điều tra theo tuyến: Trong các đợt điều tra, từ các địa điểm nghiên cứu
chính được lựa chọn nằm trong ranh giới VQG tiến hành quan sát chim theo các
tuyến khác nhau. Các tuyến này thường là các tuyến đường đi dọc theo các
kênh rạch. Trong nghiên cứu ở VQG Tràm Chim, chúng tôi đã tiến hành điều
tra theo 11 tuyến.
- Điều tra theo điểm: Các điểm được lựa chọn là những vị trí người nghiên
cứu đứng tại chỗ để quan sát chim xung quanh. Việc nghiên cứu thực địa theo
điểm được tiến hành cùng với thời gian đếm số lượng Sếu với tất cả 17 điểm
đếm được bố trí ở từ khu A1 – A5. Mỗi điểm đếm được bố trí 1 người.
- Phương pháp lập danh lục Mackinnon: dùng để tính toán độ phong phú
tương đối và chiều hướng biến đổi của loài trong từng khu vực và sinh cảnh
sống bằng cách lập các danh lục nhỏ trong khi điều tra quan sát chim. Mỗi loài
chỉ được tính một lần trong cùng một phiếu. Số lượng loài cho 1 danh lục tuỳ
thuộc độ phong phú của chim ở điểm nghiên cứu, cụ thể tại VQG Tràm Chim,
trung bình mỗi phiếu đã được lập cho 14,5 loài.
2.3.1.2. Ghi nhận và định loại
Ghi nhận chim trên thực địa qua quan sát bằng mắt thường và ống nhòm
Bushnell 10x60 sản xuất tại Trung Quốc, Nikula 12x60 của Nhật Bản; ống
7
telescopes trong quan sát các loài chim nước. Sử dụng các sách định loại và
sách hướng dẫn nghiên cứu chim ngoài thiên nhiên: tài liệu Chim Việt Nam (2
tập) của Võ Quý; các sách hướng dẫn quan sát chim ngoài thiên nhiên có tranh,
ảnh màu minh hoạ. Sử dụng máy ghi âm và băng ghi tiếng chim vùng châu Á
Thái Bình Dương cho việc xác định các loài bằng tiếng hót, tiếng kêu.
2.3.1.3. Thu thập các số liệu khác
Thu thập các số liệu về tình hình KT-XH vùng đệm; tác động của con

gặp ≥ 50%); Loài tương đối phổ biến (tần suất trong khoảng < 50% và ≥ 25%);
Loài ít/hiếm gặp (tần suất bắt gặp < 25%).
8
2.3.3. Nhận xét và chọn lựa hệ thống phân loại học để xây dựng danh lục
chim ở VQG Tràm Chim
Trong nghiên cứu hiện nay, chúng tôi sử dụng Danh lục chim Việt Nam
của Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) đồng thời có bổ sung
theo một số tài liệu khác cho việc xây dựng danh lục chim VQG Tràm Chim.
Theo chúng tôi các hệ thống phân loại chim thế giới đã được Võ Quý, Nguyễn
Cử (1995) và Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh Vân (2011) sử dụng để
xây dựng Danh lục Chim Việt Nam.
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần loài và phân bố chim ở VQG Tràm Chim
3.1.1. Tính đa dạng về thành phần loài của khu hệ chim VQG Tràm Chim
3.1.1.1. Thành phần loài chim ở VQG Tràm Chim
Theo các phương pháp nghiên cứu đã được trình bày ở trên, cho đến nay
tại VQG Tràm Chim chúng tôi đã thống kê được 230 loài chim thuộc 61 họ, 16
bộ. Có 97 loài ghi nhận trùng lặp với các nghiên cứu trước đây, 98 loài không
ghi nhận lại được và 35 loài bổ sung cho VQG; có 3 loài lần đầu tiên ghi nhận
cho khu vực Nam Bộ.
Trong cấu trúc thành phần loài chim ở KVNC, tính đặc trưng thể hiện rõ ở
số lượng các loài chim nước ghi nhận được 89/230 loài. Điều này cũng phù hợp
với sự đặc trưng về sinh cảnh của VQG, gồm các sinh cảnh chủ yếu là rừng
tràm, đồng cỏ năng, đồng cỏ ống, đầm lầy sen - nghễ, đồng lúa ma, đồng cỏ
mồm và hệ thống kênh rạch dày đặc.
3.1.1.2. Cấu trúc thành phần loài chim ở VQG Tràm Chim
a. Về cấu trúc phân loại học
- Sự đa dạng về số giống trong mỗi họ: Kết quả phân tích cho thấy số
lượng họ có 1 giống chiếm tỉ lệ khá lớn (34 họ, chiếm 55,73% tổng số họ); 9
họ có 2 giống/họ (chiếm 14,75%); số họ có từ 3 giống trở lên chiếm tỉ lệ rất

VQG Tràm Chim
TT Bộ
Họ Giống Loài Tỉ lệ
n % n % n % Loài/ giống Loài/ họ
1 Bộ Ngỗng 1 1,63 7 4,92 12 5,21 1,71 12,00
2 Bộ Chim lặn 1 1,63 1 0,70 1 0,43 1,00 1,00
3 Bộ Hạc 3 4,91 17 11,97 24 10,43 1,41 8,00
4 Bộ Bồ nông 3 4,91 3 2,11 5 2,17 1,66 1,66
5 Bộ Cắt 1 1,63 1 0,70 3 1,30 3,00 3,00
6 Bộ Ưng 2 3,27 9 6,33 13 5,65 1,44 6,50
7 Bộ Sếu 3 4,91 10 7,04 11 4,78 1,10 3,66
8 Bộ Rẽ 8 13,11 18 12,67 35 15,21 1,94 4,37
9 Bộ Bồ câu 1 1,63 4 2,81 6 2,60 1,50 6,00
10 Bộ Cu cu 1 1,63 6 4,22 7 3,04 1,16 7,00
11 Bộ Cú 1 1,63 1 0,70 1 0,43 1,00 1,00
12 Bộ Cú muỗi 1 1,63 1 0,70 1 0,43 1,00 1,00
13 Bộ Yến 1 1,63 2 1,40 3 1,30 1,50 3,00
14 Bộ Sả 3 4,91 8 5,63 14 6,08 1,75 4,66
15 Bộ Gõ kiến 2 3,27 2 1,40 2 0,86 1,00 1,00
16 Bộ Sẻ 29 47,51 52 36,61 92 40,00 1,76 3,17
Tổng 61 142 230 1,61 3,77
- Sự đa dạng về họ trong mỗi bộ:
Trong số 16 bộ ghi nhận ở VQG Tràm Chim thì bộ Sẻ (Passeriformes) đa
dạng nhất về số họ 29 họ (chiếm 47,51% tổng số họ), tiếp theo là bộ Rẽ
(Charadriformes) có 8 họ (chiếm 13,11%); có 4 bộ có 3 họ gồm bộ Hạc
10
(Ciiconiformes), bộ Bồ nông (Pelecaniformes), bộ Sếu (Gruiformes) và bộ Sả
(Coraciiformes); có 2 bộ có 2 họ là bộ Ưng (Accipitriformes) và bộ Gõ kiến
(Piciformes). Các bộ còn lại chỉ có 1 họ. Như vậy, sau bộ Sẻ là bộ có nhiều họ
nhất thì bộ Rẽ là bộ có số họ tương đối nhiều hơn so với các bộ còn lại.

3.1.2.1. Các loài bổ sung cho VQG Tràm Chim
Tại VQG Tràm Chim trước đây cũng có các nghiên cứu ban đầu về chim
đã được thực hiện bởi các tác giả như Larsen (1996) đã ghi nhận có 181 loài và
năm 1999 Buckton et al đã thống kê tại VQG Tràm Chim có 86 loài chim…
Trong quá trình khảo sát thực địa, chúng tôi đã bổ sung thêm cho danh lục
11
chim của VQQ Tràm Chim 35 loài (chiếm 15,21% tổng số loài của VQG) thuộc
25 họ, 10 bộ.
3.1.2.2. Các loài bổ sung cho khu hệ chim Nam Bộ
Trên cơ sở những kết quả của các đợt điều tra thực địa và kế thừa các
nghiên cứu trước đây về chim ở VQG Tràm Chim, đối chiếu với sự phân bố
theo các vùng của các loài chim trong tài liệu của Võ Quý, Nguyễn Cử
(1995), Nguyễn Cử và cs. (2000), Nguyễn Lân Hùng Sơn và Nguyễn Thanh
Vân (2011), Lê Mạnh Hùng (2012)… chúng tôi đưa ra danh sách các loài
chim bổ sung cho khu hệ chim Nam Bộ được ghi nhận ở VQG Tràm Chim
gồm 3 loài: Vịt khoang adorna tadorna, Cắt Amur Falco amurensis và Chích
họng vạch Bradypterus thoracicus.
3.1.3. Đặc điểm phân bố chim trong VQG Tràm Chim
3.1.3.1. Đặc điểm phân bố chim theo các khu ở VQG Tràm Chim
Trong 5 điểm nghiên cứu thì điểm gặp nhiều loài nhất là khu A1 với 126
loài (chiếm 95,45% tổng số loài quan sát được) thuộc 40 họ (95,24%); tiếp đến
là khu A4 với 64 loài (48,48%) thuộc 25 họ (59,52%); khu A5 quan sát được 50
loài (37,88%) thuộc 21 họ (50%). Khu A3 gặp 40 loài (28,17%) và 18 họ
(42,86%). Khu A2 gặp ít loài nhất chỉ 36 loài (27,27%) thuộc 13 họ (30,95%).
Như vậy, sự phân bố của các loài chim ở các khu là không đồng đều. Tuy
nhiên, có thể thấy được sự đa dạng cũng như tính đặc trưng của các loài và
nhóm loài chim ở từng khu, từng sinh cảnh khác nhau.
Bảng 3.2. Đặc trưng phân bố chim theo các khu của VQG Tràm Chim
TT Khu phân bố
Số họ Số loài

melanogaster), Cồng cộc (Pharacrocorax niger), Tu hú (Eudynamys
scolopacea), Cú ngói (Streptopelia tranquebarica), Cò ruồi (Bubulcus ibis), Cò
trắng trung quốc (Egretta eulophotes), Cò lùn hung (
Ixobrychus cinnamomeus
),
Cò lùn xám (Ixobrychus sinensis), Chèo bẻo (Dicrurus macrocercus), Hút mật
đỏ (Aethopiga siparaja), Diều hâu (Milvus migrans), Sẻ (Carpodacus
erythrinus), Chích chòe (Lucustella lanceolata), Rẽ giun châu á (Gallinago
stenura), Nhàn caxpia (Sterna bernsteini), Yến cằm trắng (Apus affinis, Yến
hông trắng (Apus pacificus), Quạ đen (Corvus macrorhynchos), Chào mào
(Pycnonotus jocosus), Chích chạch má vàng (Macronus gularis)…
b. Sinh cảnh đồng cỏ năng
Những loài chim thường gặp: Sếu (Grus antigone), Cò trắng (Egretta
garzetta), Cò bợ (Ardeola bacclus), Xít (Porphyrio porphyrio), Kịch (Gallinula
chloropus), Vịt trời (Anas poecilorhyncha), Le khoang cổ (Nettapus
coromandelianus), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám (Ardea cinerea), Cò
lửa (Ixobrychus sinensis), Cà kheo (
Himantopus himantopus
). Te vặt (Vanellus
indicus), Gà lôi nước (
Hydrophasianus chirurgu
), Gà lôi nước ấn độ (Metopodius
indicus), Bìm bịp lớn (Centropus sinensis), Bìm bịp nhỏ (Centropus
bengalensis), Bói cá nhỏ (Ceryle rudis), Gà đồng (Gallicrex cinerea), Gà nước
vằn (Galliralus striatus).
c. Sinh cảnh đồng cỏ mồm
Những loài chim thường gặp: Cồng cộc (Pharacrocorax niger), Chiền
chiện (Prinia flaviventris), Cò bợ (Ardeola bacclus), Cò lửa (Ixobrychus
sinensis), Cút nhỏ (Turnix syluatica), Diệc lửa (Ardea purpurea), Diệc xám
(Ardea cinerea), Cú (Tyto capensis), Giang sen (Mycteria leucocephala), Già

(Ceryle rudis), Gà đồng (Gallicrex cinerea), Gà nước vằn (Galliralus striatus),
Sếu (Grus antigone), Cò trắng (Egretta garzetta), Cò bợ (Ardeola bacclus),
Chích (Porphyrio porphyrio), Kịch (Gallinula chloropus),…sinh cảnh này đa
dạng sinh học rất cao.
f. Sinh cảnh đầm lầy sen – nghể
Những loài thường gặp: cò lửa (Ixobrychus sinensis), cò trắng (Egretta
garzetta), cò nhạn (Anastomus oscitans), Cò Bợ (Ardeola bacclus). Le hôi
(Tachybaptus raficollis), Le khoang Cổ (Nettapus coromandelianus), Vịt trời
(Anas poecilorhyncha),), Cò bợ (Ardeola bacclus), Chích (Porphyrio
porphyrio), Kịch (Gallinula chloropus), Gà lôi nước (Hydrophasianus
chirurgus), Gà nước vằn (Rallus striatus), Cuốc ngực nâu (Porzana fusca),
Mòng két (Anas crecca), Bói cá (Ceryle rudis) …
3.1.3.2. Sự biến đổi thành phần loài chim theo thời gian
Sự biến đổi thành phần loài chim theo thời gian ở VQG Tràm Chim được
thể hiện ở bảng 3.3.
14
Bảng 3.3. Sự biến động về thành phần và số lượng loài chim qua
các tháng tại VQG Tràm Chim
Thời gian
Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11
n % n % n % n % n % n %
Số loài * 53 40,15 95 71,97 86 65,15 87 65,91 57 43,18 33 25,00
M ** 10
18,8
7
19
20,0
0
17 19,77 21 24,13 10 17,54 4 12,12
R+M ** 3 5,66 9 9,47 7 8,14 6 6,90 2 3,51 0 0,00

sau, điển hình là từ tháng 3 đến tháng 5. Số loài di cư đến vào tháng 3 với 10
loài (chiếm 18,87%), đến tháng 4 số loài đạt cao nhất trong mùa khô với 19 loài
15
(chiếm 20%), và tháng 5 với 17 loài (chiếm 19,77%).
3.2. Hiện trạng, tầm quan trọng và giá trị bảo tồn của khu hệ chim ở VQG
Tràm Chim
3.2.1. Tính đa dạng và độ phong phú của khu hệ chim ở VQG Tràm Chim
3.2.1.1. Tính đa dạng khu hệ chim của VQG Tràm Chim
Sự tích luỹ các loài ghi nhận được thể hiện bằng đường cong tích luỹ loài.
Các danh lục Mackinnon ở mỗi địa điểm nghiên cứu được tổng hợp chung, từ
đó đưa ra kết quả tích luỹ số lượng loài qua 11 tuyến nghiên cứu đã thực hiện
(hình 3.4).
Hình 3.1. Sự tích luỹ loài qua các địa điểm nghiên cứu
Hình 3.4 cho thấy sự thay đổi trong quá trình tích luỹ các loài qua thời gian
ở các địa điểm nghiên cứu. Ở giai đoạn đầu, số lượng các loài phát hiện lớn và
tăng khá nhanh, các nghiên cứu được thực hiện ở 3 khu vực của khu A1 (điểm I
- từ tru sở VQG đến trạm C4), Trạm Phú Thọ (điểm II - chốt C2) và Kênh Phú
Đức (điểm III - giáp xã Phú Đức). Vị trí của các địa điểm cách nhau khá xa, nên
sự tích luỹ loài là tương đối lớn (số loài tích lũy chiếm 8,42% khi chuyển từ
điểm I sang điểm II và 9,52% khi chuyển sang điểm III).
Đường cong tích luỹ loài có xu hướng tiệm cận dần khi thực hiện các
nghiên cứu tiếp theo ở điểm IV (Kênh số 2, kênh số 5 của khu A5 là 2,65%),
điểm V (Trạm C5 - Khu A2: 1,87%) và điểm VI (Trạm C6 - thuộc thuộc khu
A3: 0%). Sau đó, sự tích lũy các loài trở lại giảm xuống khi thực hiện nghiên
cứu ở khu vực A2 và A3, mặc dù có tăng hơn so với thời điểm năm trước, dọc
bờ đê khu A2, A3: 1,67% và dọc theo các kênh Mười Nhẹ, Kênh Phú Đức của
Khu A1 có đến 5 loài được tích lũy thêm 4,0%. Khi chuyển sang điểm nghiên
16
cứu thuộc vùng ven khu dân cư thuộc xã Phú Hiệp (khu A5), số lượng loài
được phát hiện thêm là 3 loài (2,34%). Điểm khảo sát cuối cùng dọc theo kênh

14. Coraciiformes Bộ Sả 10 2 2 2
15. Piciformes Bộ Gõ kiến 2
16. Passeriformes Bộ Sẻ 55 26 9
Tổng 134 75 18 3
17
Hình 3.2. Tỉ lệ % hiện trạng các loài chim ở VQG Tràm Chim
Kết quả thống kê tại bảng 3.12 cho thấy khu hệ chim VQG Tràm Chim có
134 loài định cư (chiếm 58,26% tổng số loài); 75 loài chim di cư (chiếm
32,61%); 18 loài vừa định cư vừa di cư (chiếm 7,83%) và 3 loài chưa rõ hiện
trạng (chiếm 1,30%). Trong số 16 bộ đã được ghi nhận ở VQG thì bộ Chim lặn
Podicipediformes (1 loài), bộ Bồ nông Pelecaniformes (5 loài), bộ Bồ câu
Columbiformes (6 loài), bộ Cú Strigiformes (1 loài), bộ Cú muỗi
Caprimulgiformes (1 loài), bộ Yến Apodiformes (3 loài) và bộ Gõ kiến
Piciformes (2 loài) có các loài ghi nhận được đều là loài định cư.
Riêng bộ Sẻ Passeriformes (bảng 3.13) với 92 loài thì có 55 loài là định cư
(59,78% tổng số loài của bộ), các loài di cư có 28 loài(chiếm 30,43%), loài vừa
định cư vừa di cư có số lượng không nhiều chỉ có 9 loài (chiếm 9,78%).
Từ kết quả cho thấy đa số các loài chim trong cả 16 bộ đã được ghi nhận ở
VQG là các loài định cư với số lượng lớn đến 133 loài, chiếm 57,83%. Số
lượng loài định cư chiếm tỉ lệ lớn như vậy có thể cho thấy sự biến động về
thành phần loài chim ở VQG qua các mùa trong năm là không cao, tương đối
ổn định. Tuy nhiên, tại các sinh cảnh khác nhau trong toàn KVNC có thể có sự
thay đổi tỉ lệ này.
b. Độ phong phú của các loài chim
Để đánh giá độ phong phú các loài chim ở VQG Tràn Chim, chúng tôi dựa
vào tần suất bắt gặp các loài trên tổng số 11 tuyến nghiên cứu. Ở đây chúng tôi
chỉ tính độ phong phú cho 132 loài chim ghi nhận được trên thực địa. Kết quả
cho thấy trong số 132 loài ghi nhận trên thực địa có 71 loài hiếm/ ít gặp
(53,79%), 38 loài khá phổ biến (28,79%) và 23 loài phổ biến (17,42%). Như
vậy số loài phổ biến và khá phổ biến chiếm tỉ lệ thấp, kết quả này có thể chưa

sharpii.
3.2.4. Số lượng và sự biến động số lượng Sếu đầu đỏ ở VQG Tràm Chim
- Từ năm 2000 đến năm 2010:
Số lượng và sự biến động số lượng Sếu đầu đỏ ở VQG Tràm Chim từ năm
2000 đến năm 2010 được tổng hợp ở bảng 3.5.
Số lượng Sếu đầu đỏ đã ghi nhận được tại VQG Tràm Chim qua các năm
từ năm 2000 đến 2010 không ổn định. Số lượng Sếu về VQG từ năm 2000 là
157 cá thể, nhưng ngay năm sau đó số lượng của chúng lại giảm xuống mức rất
thấp chỉ còn 48 cá thể (giảm tới 109 cá thể so với năm 2000). Các năm tiếp theo
con số này đã có xu hướng tăng dần trở lại, cụ thể vào năm 2002 là 113 cá thể
(tăng lên 65 cá thể so với năm 2001 nhưng vẫn còn giảm so với năm 2000).
Năm 2003 số lượng Sếu tiếp tục tăng nhưng không đáng kể (128 cá thể). Đến
năm 2004 số lượng Sếu cao nhất trong các năm (từ năm 2000 - 2010) là 159 cá
thể. Nhưng sau đó vào năm 2005 lại giảm xuống đáng kể chỉ còn 93 cá thể và
có xu hướng tăng lên chút ít với 97 cá thể vào năm 2006. Năm 2007, đã thể
19
hiện sự gia tăng số lượng của đàn Sếu, đạt con số 125 cá thể và năm 2008 là
126 cá thể. Nhưng đến năm 2009 thì số lượng Sếu tại VQG Tràm Chim lại
giảm mạnh chỉ còn 84 cá thể so với năm 2008. Năm 2010 số lượng Sếu có thể
nói là ổn định so với năm 2009 (tăng rất ít chỉ có 1 cá thể) nhưng vẫn thấp hơn
so với những năm trước đó. Nhìn chung, số lượng Sếu về VQG đang có xu
hướng giảm dần trong những năm gần đây. Đây là một tín hiệu cảnh báo rất
nguy cấp, cần phải có biện pháp khắc phục kịp thời để thu hút đàn Sếu trở về
với số lượng lớn và ổn định hơn.
Bảng 3.5. Số lượng cá thể của Sếu đầu đỏ ở VQG Tràm Chim
từ năm 2000 đến năm 2010
Năm
200
0
200

Qua kết quả cho thấy số lượng Sếu về VQG Tràm Chim ở các tháng trong
năm 2008 và năm 2010 là không ổn định. Sếu đầu đỏ thường xuất hiện ở đây
vào đầu tháng 1 với số lượng ít (ngày 5 tháng 01 năm 2008 chỉ có 5 cá thể), đến
cuối tháng 1 thì được 29 cá thể (ở năm 2010 chỉ có 11 cá thể). Số lượng đàn
Sếu tăng dần lên ở các tháng 2 và 3 và sẽ đạt số lượng đàn cao nhất là ở tháng
4/2008 là 126 cá thể. Tuy nhiên, ở năm 2010 số lượng đàn Sếu về Tràm Chim
qua các tháng có sự thay đổi đáng kể, số lượng đàn tăng nhanh ở tháng 2 (từ 11
cá thể tăng lên 57 cá thể) và sau đó đạt số lượng cao nhất là 85 cá thể ở tháng 3
(chiếm 67,46% so với năm 2010). Đến tháng 4 số lượng giảm đáng kể chỉ còn
30 cá thể (chiếm 35,29% tổng số cá thể trong năm). Đến tháng 5 và 6 thì không
còn cá thể nào ở Vườn.
- Sự phân bố số lượng của Sếu đầu đỏ ở các khu A1 đến khu A5 của VQG
Kết quả ghi nhận được cho thấy sự phân bố của đàn Sếu đầu đỏ ở các khu
A1, A2, A3, A4 và A5 là không đồng đều nhau. Trong năm 2008, số lượng đàn
Sếu đầu đỏ phân bố chủ yếu ở khu A1, A4 và A5. Nhưng tập trung đông nhất là
ở khu A5. Sở dĩ như vậy là vì khu A5 là bãi ăn chính của Sếu từ trước đến nay.
Ở đây có nhiều bãi cỏ năng phát triển tốt (là nơi mà mùa nước lũ vừa rút, phù sa
nhiều, rất tốt cho thảm thực vật phát triển), là khu vực trống trãi, có nhiều vũng
20
nước cạn chỉ từ 10 cm đến 20 cm, rất phù hợp với tập tính kiếm ăn của Sếu.
Ngoài ra, khu nay cũng được ban lãnh đạo VQG tập trung đầu tư để thu hút đàn
Sếu về bằng cách cung cấp thêm nguồn thức ăn cho chúng (trước giờ đi kiếm
ăn, cán bộ quản lí khu cung cấp lúa ở các bãi ăn).
Trong năm 2010, số lượng Sếu về Tràm Chim ít hơn so với năm 2008, chỉ
có 85 cá thể. Và sự phân bố của chúng cũng tập trung đông nhất ở khu A5. Tuy
nhiên, theo kết quả ghi nhận được cho thấy hầu hết ở các khu từ A1 đến khu A5
đều có sự phân bố của Sếu. Đặc biệt là ở khu A3, có sự xuất hiện của 3, 4 cá thể
ở tháng 3 và tháng 4. Đây là khu vực bị mai dương xâm chiếm nặng, làm mất
diện tích đồng cỏ năng nhưng hiện nay đã được phục hồi thảm thực vật thu hút
nhiều loài chim về cư ngụ, đặc biệt là Sếu đầu đỏ. Đây là một tín hiệu đáng

21
So sánh số loài ở các phân hạng A1, A2 và A3 giữa VQG Tràm Chim với
các VCQT trong khu vực Nam Bộ, kết quả thể hiện ở bảng 3.21.
Bảng 3.6. So sánh với các VCQT ở khu vực Nam Bộ
VCQT A1 A2
A3
A4i
I II III IV V
VN006: Tràm Chim 15 0 0 4 2 8 1 3
VN003: Hà Tiên (Kiên Giang) 2 - - - - - 1 -
VN004: U Minh Thượng (Kiên Giang) 9 - - - - 10 - 6
VN005: Kiên Lương (Kiên Giang) 4 - - - - - - 1
VN007: Láng Sen (Long An) 2 - - - - - - -
VN008: Bạc Liêu 2 - - - - - - 1
VN009: Trà Cú (Trà Vinh) 1 - - - - - - 1
VN010: Chùa Hang (Trà Vinh) 1 - - - - - - 1
VN011: Cà Mau 1 - - - - - - 1
Ghi chú: A1. Loài bị đe doạ toàn cầu; A2. Loài phân bố hẹp; A3. Loài giới hạn trong
một vùng địa sinh học: I. Vùng địa lý sinh học rừng ôn đới Trung Quốc - Himalaya, II.
Vùng địa lý sinh học rừng á nhiệt đới Trung Quốc - Himalaya, III. Vùng địa lý sinh học
rừng ẩm nhiệt đới Đông Dương, IV. Vùng địa lý sinh học rừng khô Nhiệt đới Indo-
Malayxia; V. Vùng bình nguyên Indo-Gangetic.
Kết quả so sánh cho thấy so với các VCQT trong khu vực Nam Bộ, VQG
Tràm Chim có số lượng loài thuộc tiêu chí A1 nhiều nhất so với các VCQT khác.
Trong số đó ngoài VCQT U Minh Thượng có 9 loài thuộc phân hạng A1, các
VCQT khác chỉ có từ 1 đến 4 loài, thấp hơn rất nhiều so với 15 loài ở VQG Tràm
Chim. Đối với tiêu chí A2, các VCQT ở khu vực này không có các loài đặc hữu
phân bố hẹp.
Tiêu chí A4 là một trong những tiêu chí quan trọng đối với việc xác định
các VCQT ở khu vực Nam Bộ: các VCQT khác hầu như chỉ có 1 loài chim

dinh dưỡng (chiếm 59,09% tổng số loài bị săn bắt), 21 loài có giá trị giải trí
(chiếm 47,73%), có 7 loài có giá trị làm thuốc (chiếm 15,91%).
3.3.2.2. Sự suy thoái môi trường và sinh cảnh sống
Các hoạt động xâm phạm trái phép đe dọa đến ĐDSH nói chung và sự tồn
tại của chim trong vùng bao gồm: chặt phá rừng tràm, chăn thả gia súc, gia cầm,
đánh lưới, chích điện, bắt ốc, sự xâm lấn của các loài ngoại lai.
3.3.3. Đề xuất các giải pháp về quản lí, bảo tồn nhằm giảm thiểu các đe doạ
và phát triển bền vững nguồn tài nguyên chim đối với VQG Tràm Chim
3.3.3.1. Xác định các ưu tiên bảo tồn
a. Các địa điểm cần ưu tiên bảo tồn trong VQG
Ngoài khu vực A1 là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, tác động của người
dân ở khu vực này rất ít, những khu vực khác được đề nghị ưu tiên bảo tồn:
- Khu A4: những tác động của người dân lên khu vực này gồm chặt phá
tràm, đánh bắt cá, lấn chiếm đất.
+ Khu A5: tác động chính là sự lấn chiếm đất của người dân phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp, chăn thả gia súc, gia cầm.
Khu A4 và A5 cũng chính là bãi ăn chính của Sếu đầu đỏ, một phần diện
tích của 2 vùng này bị cây mai dương xâm chiếm.
+ Khu vực A2 và A3: bị tác động chính bởi sự xâm chiếm của cây mai
dương làm mất đi sinh cảnh sống của các loài chim.
b. Các loài cần quan tâm bảo tồn
Cần tổ chức và đẩy mạnh hoạt động giám sát & đánh giá ĐDSH. Đề xuất
bổ sung một số loài chim là chỉ thị cho chương trình giám sát ĐDSH của VQG,
cụ thể: bên cạnh (1) Sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii), bổ sung thêm các loài
(2) Cổ rắn (Anhinga melanogaster), (3) Già đẩy java (Leptoptilos javanicus),
(4) Bồ nông chân xám (Pelecanus philippensis), (5) Giang sen (Mycteria
23
leucocephalus), (6) Ô tác (Houbaropsis bengalensis), (7) Cò nhạn (Anastomus
oscitans), (8) Rồng rộc vàng (Ploceus hypoxanthus).
3.3.3.2. Các giải pháp hạn chế tác động của các mối đe dọa lên VQG

- Sự phân bố chim ở các khu nghiên cứu không đồng đều; khu gặp nhiều
loài nhất là khu A1 với 126 loài, thuộc 40 họ; tiếp đến là khu A4 với 64 loài
thuộc 25 họ; khu A5 quan sát được 50 loài, thuộc 21 họ. Khu A3 gặp 40 loài,
18 họ. Khu A2 gặp ít loài nhất chỉ 36 loài, thuộc 13 họ.
- VQG Tràm Chim có 134 loài định cư (chiếm 58,26%); 75 loài chim di
cư (32,61%); 18 loài vừa định cư vừa di cư (7,83%) và 3 loài chưa rõ hiện
trạng (1,30%).
24
1.2. Tầm quan trọng và giá trị bảo tồn của khu hệ chim VQG Tràm Chim
- VQG Tràm Chim có 35 loài chim cần được ưu tiên bảo tồn đối với Việt
Nam và thế giới, trong đó 16 loài bị đe dọa toàn cầu ở các mức độ khác nhau; 4
loài có vùng phân bố hạn chế trong vùng địa lý sinh học Rừng á nhiệt đới Trung
Quốc - Himalaya; 2 loài có vùng phân bố hạn chế trong vùng địa sinh học Rừng
ẩm nhiệt đới Đông Dương; 8 loài trong vùng khô nhiệt đới Indo-Malayxia; 1
loài trong vùng địa lý sinh học Bình nguyên Indo-Gangetic.
- Quần thể Sếu đầu đỏ Grus antigone sharpii có số lượng biến động
không đều qua các năm nghiên cứu: năm 2010 chỉ còn lại 85 cá thể so với năm
2008 có 126 cá thể. Sếu đầu đỏ tập trung đông nhất ở khu A5, khu vực có bãi
năng lớn là thức ăn ưa thích nhất của loài. Số lượng Sếu về Vườn cao nhất vào
các tháng 3 và tháng 4 hàng năm.
1.3. Các mối đe doạ và áp lực lên khu hệ chim bao gồm những nguyên
nhân gián tiếp: nhận thức hạn chế của người dân, đời sống khó khăn, quản lí
kém hiệu quả của các cơ quan chức năng và BQL VQG. Những nguyên nhân
trực tiếp: săn bắt, buôn bán chim, cá và khai thác tràm trái phép, chăn thả gia
súc, gia cầm, lấn chiếm đất sản xuất nông nghiệp, thuốc chim
1.4. Đề xuất bổ sung một số loài chim là chỉ thị cho chương trình giám sát
ĐDSH của VQG như: Cổ rắn, Già đẩy java, Bồ nông chân xám, Giang sen, Ô
tác, Cò nhạn, Rồng rộc vàng.
1.5. Các biện pháp đề xuất cho quản lí, bảo tồn và phát triển tài nguyên
chim ở VQG Tràm Chim bao gồm: nâng cao hiệu quả của công tác quản lí, tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status