TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
LƯƠNG MẠNH HÙNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA
TẠI BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính, lưu thông tiền tệ và tín
dụng
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS ĐÀO VĂN HÙNG
Hà Nội, Năm 2007
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
AFD Cơ quan phát triển Pháp
BQL Ban quản lý
CPO Ban quản lý các dự án Trung ương
CPMU Ban quản lý dự án Trung ương
DAD Cơ sở dữ liệu trợ giúp phát triển của Việt Nam – dad.mpi.gov.vn
EU Liên minh Châu Âu
FAO Tổ chức nông lương thế giới
HTQT Hợp tác quốc tế
IFAD Quỹ quốc tế về Phát triển nông nghiệp
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
IDA Hiệp hội Phát triển quốc tế
ISG Chương trình hỗ trợ quốc tế, Bộ NNo&PTNT – isg.mard.org.vn
JBIC Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản
14 Bảng 2.12: Tình hình giải ngân vốn ODA theo nguồn tài trợ 57
15 Hình 2.1: Tình hình ký kết ODA hàng năm tại Bộ NNo&PTNT 47
16 Hình 2.2: Vốn ODA phân bổ theo lĩnh vực thời kỳ 1993 – 2006 49
17 Hình 2.3: Vốn ODA phân theo nhà tài trợ thời kỳ 1993 – 2006 52
18 Hình 2.4: Cơ cấu vốn ODA của WB cho các ngành ở Việt Nam 54
19 Hình 2.5: Cơ cấu vốn ODA của ADB cho các ngành ở Việt Nam 54
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Vấn đề hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không
phải bây giờ mới được nhắc tới. Nó trở thành vấn đề nóng bỏng và được toàn xã hội
Việt nam nói chung và các nước tài trợ nói riêng quan tâm đặc biệt khi xảy ra vụ việc
tại Ban quản lý các dự án giao thong 18 – PMU18, khi mà hàng chục tỷ đồng của
Nhà nước, tiền viện trợ bị rơi vào túi cá nhân.
Bộ NNo&PTNT, một bộ hàng năm nhận được lượng vốn đầu tư lớn từ Ngân
sách Nhà nước và nguồn vốn ODA. Vì vậy, vấn đề sử dụng hiệu quả vốn ODA tại Bộ
NNo&PTNT cũng đã được nhắc tới nhiều lần, và nó cũng trở thành vấn đề luôn được
quan tâm vì số tiền đầu tư lớn, lĩnh vực đầu tư rộng, dàn trải, lại tập trung vào khu
vực nông thôn, miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số… do vậy việc kiểm soát vốn đầu
tư và hiệu quả của nó trở thành một bài toán khó.
Xuất phát từ thực tế đó, cùng với kinh nghiệm và thực tế làm việc tại các dự
án có sử dụng nguồn vốn ODA trong Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tác giả
đã mạnh dạn chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
Luận văn được chia làm 3 chương với kết cấu như sau:
- Chương 1: Vốn ODA và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA.
- Chương 2: Thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ NNo&PTNT
từ năm 1993 đến nay.
- Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ
NNo&PTNT trong thời gian tới.
Tác giả đã tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn ODA tại Bộ NNo&PTNT
từ năm 1993 đến nay dựa trên phương pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy
- Tiến hành quản lý tập trung, thực hiện phi tập trung: nội dung chính là việc
thu hút và quản lý vốn vay/vốn viện trợ được tập trung về một mối, xây dựng một cơ
chế/quy trình thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA thống nhất, quy định rõ trình tự
các bước thực hiện từ Trung ương đến địa phương...
- Tăng cường công tác giám sát/kiểm tra/kiểm toán: thông qua các công cụ từ
Bộ Tài chính, Sở tài chính, các Bộ/Ban ngành tại địa phương đến việc thiết lập hệ
thống kiểm toán/kiểm soát nội bộ, thuê kiểm toán độc lập tạo điều kiện tăng tính
minh bạch, khắc phục sai sót, rút ra bài học kinh nghiệm giúp đẩy nhanh quá trình
thực hiện dự án. Xây dựng kế hoạch giám sát/kiểm tra ngay khi xây dựng dự án và
liên tục được cập nhập và thực hiện thường xuyên trong quá trình thực hiện dự án....
- Hài hoà hoá thủ tục và tạo dựng mối quan hệ đối tác tin cậy với các nhà tài
trợ: tạo dựng niềm tin, tăng cường sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau với các nhà tài
trợ trên cơ sở đẩy mạnh đối thoại một cách cởi mở và xây dựng ở cấp chính sách
cũng như cấp thực hiện; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng; nỗ lực hài hoà các
quy trình và thủ tục ODA để giảm các chi phí giao dịch...
- Tạo ra một khung chính sách và hệ thống văn bản pháp luật khuyến khích
thu hút vốn ODA vào phát triển nông thôn;
- Việc xác định các mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể của dự án phải xuất
phát từ nhu cầu thực sự của nông dân: nội dung chính là đảm bảo sự tham gia của
người dân vào tất cả các khâu thực hiện dự án từ đánh giá/xây dựng dự án, triển khai,
giám sát trong quá trình thực hiện đến kết thúc dự án.
- Thành lập một hệ thống quản lý, điều phối và thực hiện các chương trình, dự
án ODA, đủ mạnh từ Trung ương đến địa phương: theo nguyên tắc tài chính công
khai, sử dụng hiệu quả và tinh thần liêm khiết để quản lý và điều phối các chương
trình viện trợ.
Với đầy đủ cơ sở lý luận để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA và những bài
học kinh nghiệm từ các nước sử dụng vốn ODA hiệu quả trong phát triển nông
nghiệp, nông thôn. Tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng sử dụng vốn ODA tại Bộ
NNo&PTNT trong chương 2.
Trong chương 2, tác giả đã khái quát tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA
Việc sử dụng vốn ODA đã góp phần giúp ngành nông nghiệp xây dựng mới,
nâng cấp, sửa chữa các công trình cơ sở hạ tầng ngành nông nghiệp, giao thông nông
thôn, cấp nước sinh hoạt nông thôn, phát triển cây trồng và vật nuôi. Kết quả này góp
phần vào việc phát triển ngành nông nghiệp; xóa đói giảm nghèo; tăng cường hệ
thống khoa học nông nghiệp; hoàn thiện một bước thể chế; phát triển nguồn nhân lực;
phát huy nội lực trong nước và tăng vị thế của ngành trên trường quốc tế. Đây là cơ
sở để ngành nông nghiệp ngày càng phát triển, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới
và các sản phẩm nông nghiệp ngày càng đảm bảo chất lượng an toàn đáp ứng nhu cầu
trong nước, xuất khẩu.
2.4. Những tồn tại:
Mặc dù có thành công, song trong thời kỳ 1993-2006 hiệu quả thực hiện các
dự án ODA trong Bộ Nông nghiệp và PTNT còn một số hạn chế. Những hạn chế này
xuất phát từ chính bản thân nội tại trong Bộ Nno&PTNT và những yếu tố khách quan
từ chính sách vĩ mô về quản lý nguồn vốn ODA của Nhà nước và chính sách từ phía
Nhà tài trợ.
2.4.1. Những hạn chế về chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước:
- Tính không đồng bộ đối với việc lập kế hoạch ngân sách dự án hàng năm:
phải chia thành nguồn vốn XDCB và nguồn vốn HCSN, gây khó khăn cho các dự án
khi phải lập ngân sách hàng năm thành 2 nguồn và làm việc với 2 cơ quan là Bộ Kế
hoạch – đầu tư và Bộ Tài chính với 2 hệ thống định mức khác nhau.
- Vấn đề bố trí vốn đối ứng khi thực hiện dự án ở địa phương: hầu hết các địa
phương triển khai các dự án của Bộ đều là những địa phương nghèo, gặp khó khăn
trong việc bố trí vốn để thực hiện dự án, từ đó làm chậm tiến độ thực hiện dự án.
- Những khó khăn về chính sách thuế: đặc biệt là thuế GTGT gây chậm trễ cho
các dự án trong việc hoàn thuế, đảm bảo nguồn vốn đối ứng để thực hiện dự án
- Chính sách cho vay lại: mà chủ yếu là sự không đồng nhất về trong chính
sách giữa các dự án, có dự án thì được NSNN cấp, có dự án phải vay lại là những dự
án nước sạch tại khu vực miền núi, khó khăn khi mà ngân sách của tỉnh không có,
hàng năm phải nhận trợ cấp từ ngân sách nhà nước.
2.4.2. Chính sách từ phía Nhà tài trợ: chủ yếu được đề cập đến là sự khác biệt
chiều giữa địa phương và Bộ (yêu tố quyết định đến sự thành công của các dự án);
chưa có sự phối hợp giữa các Bộ/ban/ngành trong quá trình thực hiện; chưa đưa ra
được các bước cần thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra...
- Đối với hệ thống các văn bản hướng dẫn quản lý và sử dụng vốn ODA: tác
giả tập trung vào tính không đồng bộ của các văn bản này như chưa có sự phân công
rõ ràng về trách nhiệm quản lý, kiểm tra việc thực hiện dự án cho Cục/Vụ nào trong
Bộ; chưa quy định đơn vị nào sẽ đứng ra giải quyết các vấn đề phát sinh của dự án
nếu nó liên quan đến nhiều Cục/Vụ; sự bất hợp lý trong cơ cấu tổ chức, hoạt động
của 03 BQL các dự án Nông nghiệp, Thuỷ lợi và Lâm nghiệp gây chậm tiến độ thực
hiện dự án.
- Đối với công tác tổ chức, quản lý và điều hành dự án: Tác giả tập trung vào
phân tích những điểm bất hợp lý trong quá trình xây dựng/thiết kế dự án như việc
thẩm định và phê duyệt bị kéo dài dẫn đến khi thực hiện thực tế không còn phù hợp,
dự án lại phải điều chỉnh, mất thời gian. Hay việc thuê các dự án khâu thiết kế không
tốt do không thuê được người có am hiểu thực tế địa phương, không xuất phát từ nhu
cầu của người hưởng lợi... gây khó khăn trong quá trình thực hiện do phải điều chỉnh.
Công tác giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án còn nhiều tồn tại, do không
kịp thời cho nên nhiều dự án bị đình trệ, chậm tiến độ. Bên cạnh đó là công tác kiểm
tra, giám sát chưa được thực hiện tốt như chưa tiến hành kiểm tra, quyết toán dự án
hàng năm; các báo cáo tài chính chưa được thực hiện nghiêm túc; các báo cáo dự án
còn mang tính hình thức; công tác kiểm toán chủ yếu được thực hiện ở một phía –
nhà tài trợ mà chưa có sự quan tâm thích đáng từ phía Bộ... dẫn đến hiệu quả thực
hiện dự án còn nhiều bất cập, thiếu sót.
- Đối với công tác tổ chức đấu thầu: Do chưa làm tốt công tác tổ chức đấu
thầu mà nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém về trình độ của các cán bộ tham gia
chấm thầu, sự am hiểu không đầy đủ về các quy định đấu thầu của nhà tài trợ... dẫn
đến việc đấu thầu mất nhiều thời gian, có dự án mất đến gần 3 năm để thực hiện. Bên
cạnh đó, là do không làm tốt công tác tuyển chọn nhà thầu cho nên nhiều công trình
đã xuống cấp ngay khi xây dựng xong, hoặc nhà thầu không đủ năng lực để hoàn
thành gói thầu dẫn đến nguồn vốn của dự án bị sử dụng lãng phí. Ngoài ra, tác giả
cơ sở những tồn tại đã nêu ở chương 2 và những bài học kinh nghiệm từ một số quốc
gia đã sử dụng thành công nguồn vốn ODA trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển
nông thôn, tác giả đã đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết những tồn tại
và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ NNo&PTNT trong thời gian
tới.
Những giải pháp tập trung từ phía Bộ NNo&PTNT và từ phía các Ban quản lý
dự án trực thuộc Bộ.
Các kiến nghị được đưa ra đối với Chính phủ, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch -
đầu tư.
Theo đó, những giải pháp mà tác giả đưa ra là:
3.1. Những giải pháp từ phía Bộ NNo&PTNT là:
- Hoàn thiện quy trình vận động, thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA: giải
pháp này chủ yếu tập trung vào những khuyến nghị giúp Bộ NNo&PTNT sửa đổi,
khắc phục những hạn chế trong kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA giai đoạn
2006 – 2010. Theo đó, Bộ cần xây dựng thứ tự ưu tiên đầu tư ODA cho từng lĩnh vực
cụ thể trong phát triển nông nghiệp nông thôn đối với từng đối tác phù hợp; việc thu
hút cần tập trung theo vùng lãnh thổ, quy định cụ thể tỷ lệ đầu tư theo từng khu vực,
đặc biệt là khu vực miền Trung, Tây nguyên và khu vực miền núi phía Bắc tập trung
đông đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo đói cao; cụ thể hoá các bước cần thực
hiện để đạt được mục tiêu đề ra.
Bên cạnh đó, tác giả cũng khuyến nghị Bộ tiếp tục xây dựng các kế hoạch thu
hút và sử dụng nguồn vốn ODA dài hạn để lấy ý kiến của nhà tài trợ làm cơ sở cho
việc thu hút đủ nguồn vốn ODA đáp ứng nhu cầu vốn đối với sự nghiệp phát triển
nông nghiệp, nông thôn trong thời gian tới.
Giải pháp này nhằm khắc phục tình hình hiện nay là việc đầu tư, sử dụng vốn
ODA tại Bộ có xu hướng dàn trải trên địa bàn rộng, quy mô lớn...nhưng lại không tập
trung vào những vùng dân tộc khó khăn, vùng sâu, vùng xa...
- Sửa đổi/bổ sung/thay thế Quyết định số 45/2001/QĐ/BNN ngày 30/09/2004:
tập trung vào việc ban hành quy chế/quyết định mới thay thế cho Quyết định 45 và
phù hợp với Nghị định số 131/NĐ-CP mới ban hành tháng 11/2006. Trong đó, cần
tập trung, thực hiện phi tập trung“ theo mô hình của Trung Quốc, nhằm giảm tải khối
lượng công việc tại Bộ, đồng thời đẩy nhanh quy trình giải ngân, giảm ách tắc, nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA.
Giải pháp này sẽ giúp cho việc thực hiện dự án được nhanh chóng, đặc biệt là
việc giải quyết các vấn đề phát sinh khi thực hiện dự án.
- Bố trí vốn đối ứng để thực hiện dự án: đảm bảo đủ vốn đối ứng để thực hiện
dự án. Nguồn vốn này phải được bố trí trong kế hoạch ở các cấp tương ứng, không
được sử dụng vốn đối ứng của các chương trình dự án ODA vào các mục đích khác
Giải pháp này đảm bảo dự án luôn đủ vốn đối ứng để thực hiện, tránh tình
trạng dự án vừa thực hiện, vừa đợi vốn.
- Nâng cao chất lượng mua sắm, công tác đấu thầu: tác giả đề xuất học tập
kinh nghiệm từ Thái Lan và Phillipine. Theo đó, công tác đấu thầu cần được chuyển
từ cấp Ban quản lý dự án lên cấp Bộ và tập trung cán bộ đấu thầu có kinh nghiệm và
chuyên môn ở đó. Cấp xét duyệt ký kết hợp đồng tuỳ theo quy mô của hợp đồng có
thể phân cấp cho Thứ trưởng hoặc Bộ trưởng phê duyệt.
Giải pháp này giải quyết cơ bản những hạn chế trong công tác đầu thấu tại các
dự án hiện nay, khi mà toàn bộ công tác đấu thầu được tập trung cho các BQL dự án
Trung ương và địa phương. Làm cho công tác tuyển chọn tư vấn, mua sắm bị chậm
trễ và hiệu quả của hoạt động không được như mong đợi.
- Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ về tài chính, kế toán tại các Ban quản
lý dự án: theo hướng phân công Vụ Kế hoạch - Tài chính thường xuyên kiểm
tra/giám sát công tác tài chính tại các BQL dự án để có thể phát hiện ngay các sai
sót/sai phạm, và có phương án xử lý kịp thời; đồng thời xây dựng cẩm nang hướng
dẫn tài chính đối với từng nhà tài trợ trên cơ sở các quy định của Bộ Tài chính, nhà
tài trợ và Bộ NNo&PTNT, và phát cho các dự án hướng dẫn họ trong quá trình thực
hiện, đặc biệt là trong giai đoạn ban đầu thiết lập dự án. Đồng thời, tác giả cũng
khuyến nghị Bộ cần quan tâm hơn nữa đến công tác thuê kiểm toán độc lập cũng như
kết quả kiểm toán cùng với nhà tài trợ chứ không phải tâm lý đối phó như hiện nay.
Giải pháp này sẽ giúp Bộ giải quyết căn bản hạn chế về công tác kiểm tra,
giám sát tài chính hiện nay. Đồng thời thiết lập được mối quan hệ tin cậy với nhà tài
thay đổi, khó khăn của địa phương để có những điều chỉnh kịp thời và hiệu quả, huy
động tốt các nguốn lực tại địa phương và phát huy kịp thời hiệu quả đầu tư.
Giải pháp này sẽ giúp Bộ giải quyết được tình trạng “trên bảo, dưới không
nghe” như hiện nay, giảm bớt mối quan hệ theo kiểu Nhà nước, làm cho việc thực
hiện dự án gặp khó khăn, tốn thời gian, không hiệu quả.
Bên cạnh việc đưa ra các giải pháp và kiến nghị đối với Bộ Nno&PTNT như đã
trình bày ở trên thì việc nâng cao năng lực quản lý của các BQL dự án ở cả Trung ương
và địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng.
3.2. Những giải pháp từ phía các BQL dự án trực thuộc Bộ:
- Xây dựng qui chế hướng dẫn phù hợp cho từng Ban quản lý dự án: theo
hướng xây dựng quy chế hoạt động cho từng BQL dự án ngay sau khi dự án đi vào
hoạt động. Bên cạnh đó, nhanh chóng xây dựng và ban hành ngay cuốn “Cẩm nang
hướng dẫn quản lý dự án” cả về mặt hành chính, tài chính và chuyên môn trên cơ sở
tham khảo ý kiến của Nhà tài trợ và trình Bộ phê duyệt. Cẩm nang sẽ đóng vai trò hết
sức quan trọng, trở thành kim chỉ nam, hướng dẫn các BQL dự án trong quá trình
thực hiện; đồng thời cũng thuận lợi cho BQL dự án Trung ương trong công tác quản
lý khi tất cả đều sử dụng form/biểu mẫu thống nhất...
Giải pháp này sẽ thúc đẩy tiến độ thực hiện dự án ngay trong giai đoạn đầu.
Một hạn chế đối với tất cả các dự án tại Bộ hiện nay, khi mà các dự án phải mất từ 2
– 6 tháng, thậm chí 01 năm để xây dựng quy chế và cẩm nang hướng dẫn hoạt động.
- Tăng cường công tác lập kế hoạch hoạt động/ngân sách hàng năm: trên cơ
sở yêu cầu các BQL dự án xây dựng kế hoạch hàng năm sớm dựa trên cơ sở đánh giá
nhu cầu thực tế của người hưởng lợi để thiết kế các hoạt động cho phù hợp, đảm bảo
kế hoạch được xây dựng từ dưới lên, xuất phát từ chính cộng đồng, người dân. Kế
hoạch được xây dựng cũng cần phải có tính linh hoạt, trên cơ sở trao quyền chủ động
cho các BQL dự án tỉnh/địa phương, để họ có thể linh động trong việc điều chỉnh
hoạt động, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu thực tế phát sinh.
Giải pháp này sẽ khắc phục được nhược điểm đối với đa số các dự án đang
thực hiện tại Bộ hiện nay, khi mà công tác lập kế hoạch bị làm ngược, do BQL dự án
Trung ương thực hiện và sau đó phân bổ cho các BQL dự án tỉnh. Điều này một mặt,
Giải pháp này cũng giống như giải pháp đối với Bộ, nó giúp cho dự án quản lý
dự án một cách hiệu quả cả về mặt tài chính và hoạt động. Từ đó, có những đề xuất,
kiến nghị kịp thời đến cấp ra quyết định, đảm bảo tiến độ và hiệu quả hoạt động của
dự án.
- Lựa chọn và kiện toàn đội ngũ cán bộ thực hiện dự án: trên cơ sở xây dựng
được quy chế tuyển dụng công khai, minh bạch trên cơ sơ xây dựng bản mô tả công việc
cho từng vị trí để từ đó lựa chọn được những cán bộ có năng lực, tâm huyết và kinh
nghiệm trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Đối với các cán bộ biệt phái làm việc tại BQL dự án Trung ương và địa phương,
cần có quy định cụ thể về thời gian làm việc cũng như đầu ra cụ thể cho từng vị trí.
Đối với những cán bộ thực hiện dự án tại địa phương, đảm bảo lựa chọn
những người của cộng đồng, sống tại cộng đồng hưởng lợi và tốt nhất là các cán bộ
biệt phái.
Giải pháp này sẽ giúp dự án tuyển dụng, lựa chọn được những người thực sự
có kinh nghiệm, tâm huyết cả trên BQL và dưới cộng đồng, đáp ứng và đảm bảo hiệu
quả của công việc; đồng thời đảm bảo dự án có tính bền vững cao sau khi kết thúc.
Ngoài những giải pháp từ phía Bộ Nno&PTNT và BQL dự án, tác giả cũng
đưa ra các kiến nghị đối với các cơ quan chức năng nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả
sử dụng vốn ODA tại Bộ trong thời gian tới.
3.3. Các kiến nghị
3.3.1. Đối với Chính phủ:
- Tiếp tục thực hiện những giải pháp kinh tế vĩ mô quan trọng để đẩy mạnh
việc thu hút vốn viện trợ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế nói chung
và mục tiêu phát nông nghiệp, nông thôn, xoá đói giảm nghèo nói riêng;
- Tiếp tục đẩy mạnh việc hài hoà hoá thủ tục giữa quy định của Chính phủ và
nhà tài trợ trên cơ sở chỉ đạo các cấp Bộ ngành như Bộ Kế hoạch - đầu tư, Bộ Ngoại
giao, Bộ Tài chính... tổ chức các cuộc hội nghị/hội thảo, hội nghị các nhà tư vấn giữa
kỳ;
- Tiếp tục chỉ đạo Bộ Kế hoạch - đầu tư, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch thu
hút và sử dụng nguồn vốn ODA dài hạn theo kế hoạch 5 năm, 10 năm... tạo cơ sở và
- Có cơ chế thực thi để tăng cường quản lý các chương trình, dự án sử dụng
vốn ODA. Tăng cường công tác kiểm tra/giám sát/quyết toán tài chính hàng năm các
dự án để kịp thời phát hiện các sai sót và có những điều chính thích hợp.
3.3.3. Đối với Bộ kế hoạch - đầu tư:
- Tiếp tục tiến trình hài hoà thủ tục với nhà tài trợ: Cùng với Bộ ngoại giao, Bộ
Tài chính làm cầu nối giữa Chính phủ và nhà tài trợ thông qua việc tiếp tục tổ chức
các cuộc hội nghị/hội thảo các nhà tư vấn giữa kỳ.
- Tiếp tục hỗ trợ Chính phủ trong việc xây dựng Định hướng thu hút và sử
dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức theo thời kỳ 5 năm, 10 năm trên cơ sở cụ thể
và chi tiết lĩnh vực ưu tiên sử dụng vốn, tỷ lệ đầu tư theo khu vực...
- Cần nâng cao hơn nữa vai trò thẩm định của Bộ Kế hoạch và đầu tư đối với
các dự án trên cơ sở xây dựng quy chế thẩm định rõ ràng, khoa học và công khai.
- Nhanh chóng lấy ý kiến của các Bộ ban ngành, phối kết hợp với Bộ Tài
chính ban hành Thông tư hướng dẫn Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức theo Nghị định số 131/2006/NĐ- CP.
- Làm việc và thống nhất với Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn đối với công
tác lập kế hoạch và định mức chi tiêu đối với dự án hỗn hợp, vừa có tính chất hành
chính sự nghiệp, vừa có tính chất xây dựng cơ bản.
Như vậy, sau 3 chương nghiên cứu, từ việc đưa ra các lý luận ở chương 1 đến
việc tiến hành nghiên cứu thực trạng sử dụng vốn ODA tại Bộ NNo&PTNT ở chương
2, và đưa ra các giải pháp và kiến nghị ở chương 3. Tác giả đã phác hoạ được bức
tranh tổng thể về hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ NNo&PTNT trong giai đoạn vừa
qua, từ đó đưa ra được những giải pháp và kiến nghị phù hợp nhằm giúp Bộ
NNo&PTNT có thể giải quyết được những tồn tại hiện nay trong quá trình sử dụng
vốn ODA, và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng nguồn vốn này trong thời gian tới.
Tác giả tin tưởng rằng với sự nỗ lực khẩn trương, nghiêm túc rút kinh nghiệm
và nhanh chóng khắc phục những tồn tại trong quy trình sử dụng vốn ODA của mình,
trong thời gian tới, hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ NNo&PTNT sẽ được nâng lên
rõ rệt, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn của đất
nước.
triển nông thôn (NNo&PTNT) một số lượng vốn ODA tương đối lớn phục vụ cho
đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn và xóa đói giảm nghèo. Nguồn vốn ODA
này đã góp phần hỗ trợ việc khôi phục và xây dựng mới nhiều công trình cơ sở hạ
tầng quan trọng như đường giao thông nông thôn, thuỷ điện nhỏ, phòng chống thiên