Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Hoàng Thủy Yến
tác động của bất bình đẳng thu nhập
đến tăng trởng kinh tế ở Việt Nam
Chuyên ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế họcChuyên ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế học
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận án HOÀNG THỦY YẾN ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
1.3. Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế 29
1.3.1. Tác động tích cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế 31
1.3.2. Tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế 32
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết mối quan hệ giữa phân phối thu nhập
và tăng trưởng kinh tế 36
1.4.1. Kinh nghiệm Braxin 36
1.4.2. Kinh nghiệm Hàn Quốc 38
1.4.3. Kinh nghiệm Trung Quốc 41
1.4.4. Các bài học kinh nghiệm chung 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA BẤT BÌNH ĐẲNG THU
NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 49
2.1. Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam 49
iii
2.1.1. Thực trạng bất bình đẳng chung 49
2.1.2. Bất bình đẳng thu nhập theo khu vực thành thị và nông thôn 52
3.1.1 Mô hình ước lượng 111
3.1.2 Phương pháp ước lượng 112
3.2. Số liệu 116
3.3. Thống kê và phân phối xác suất của các biến trong mô hình 117
3.4. Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và một số biến giải thích 122
3.5. Kết quả ước lượng hồi quy 125
3.5.1. Tác động của bất bình đẳng thu nhập (đo lường bằng hệ số GINI) đến
tăng trưởng kinh tế 125
3.5.2. Tác động của bất bình đẳng thu nhập (đo lường bằng khoảng cách nhóm
giàu nhất/nhóm nghèo nhất) đến tăng trưởng kinh tế 130
iv
CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TẬN DỤNG TÁC ĐỘNG TÍCH
CỰC VÀ HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU
NHẬP ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 133
4.1. Quan điểm tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của
bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế 133
trong nền kinh tế theo hướng phải đảm bảo công bằng và hướng đến người
nghèo 150
KẾT LUẬN 152
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 156
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC 163
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nguyên văn tiếng Việt
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASXH An sinh xã hội
CNTB Chủ nghĩa tư bản
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HDI Chỉ số Phát triển Con người
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
LĐ-TB&XH Lao động – Thương binh và Xã hội
NICs Các nước công nghiệp mới
TCTK Tổng cục thống kê
TNTB Thu nhập trung bình
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Hệ số Gini của Braxin 37
Bảng 2.1: Thu nhập bình quân đầu người theo nhóm hộ gia đình 49
Bảng 2.2: Chi tiêu vào đời sống phân theo loại hộ 51
Bảng 2.3: Tỷ trọng các khoản chi tiêu cho đời sống chia theo khoản chi 51
Bảng 2.4: Thu nhập bình quân đầu người theo thành thị/nông thôn và nhóm hộ 53
Bảng 2.5: Tổng chi tiêu bình quân nhân khẩu 1 tháng theo thành thị nông thôn 54
Bảng 2.6: Tỷ trọng các khoản chi tiêu cho đời sống ở thành thị và nông thôn 54
Bảng 2.7: Thu nhập bình quân đầu người và chênh lệch thu nhập (nghìn đồng) 55
Bảng 2.8: Bất bình đẳng thu nhập theo hệ số GINI tại một số quốc gia 57
Bảng 2.9: Hệ số Gini trong phân phối thu nhập chia theo thành thị nông thôn 60
Bảng 2.10: Tỷ lệ đi học chung theo cấp học, thành thị - nông thôn và nhóm thu nhập
năm 2010 62
Bảng 2.11: Tiếp cận giáo dục theo loại trường đang học, thành thị - nông thôn và nhóm
thu nhập năm 2010 63
Bảng 2.23: Hệ số co giãn giữa tỷ lệ nghèo và tăng trưởng thu nhập 103
Bảng 2.24: Phân rã sự thay đổi của tỷ lệ nghèo theo tăng trưởng thu nhập và phân phối
thu nhập 103
Bảng 3.1: Các biến số sử dụng trong mô hình 112
Bảng 3.2: Tóm tắt một số thống kê cơ bản về các biến trong mô hình 117
Bảng 3.3: Hệ số tương quan giữa các biến số với GINI, GDP, Ln(GDPPERC) và
INCGAP 124
Bảng 3.4: Kết quả ước lượng tác động của bất bình đẳng thu nhập (đo lường bằng hệ số
GINI) đến tăng trưởng kinh tế 125
Bảng 3.5: Số tỷnh chia theo mức độ bất bình đẳng 127
Bảng 3.6: Phân loại tác động của bất bình đẳng (theo hệ số GINI) đến tăng trưởng kinh tế
của từng tỷnh 128
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của bất bình đẳng thu nhập (đo lường bằng khoảng cách thu nhập)
tới tăng trưởng kinh tế 131
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.10: Tốc độ tăng TFP của Việt Nam và một số nước Châu Á 84
Hình 2.11: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP 86
Hình 2.12: Tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người theo nhóm thu nhập 98
Hình 2.13: Xu hướng Gini, tỷ lệ nghèo và tốc độ GDP 99
Hình 3.1: Phân bố xác suất của phân phối bất bình đẳng trong thu nhập 118
Hình 3.2: Phân bố xác suất của khoảng cách thu nhập (INCGAP) 119
Hình 3.3: Phân bố xác suất của GDP 120
Hình 3.4: Phân bố xác suất của GDP bình quân đầu người 120
Hình 3.5: Phân bố xác suất của Ln(GDP) 121
Hình 3.6: Phân bố xác suất của Ln(GDPPERC) 122
Hình 3.7: Mối quan hệ giữa GINI và một số yếu tố ảnh hưởng 123
Hình 3.8: Quan hệ giữa khoảng cách thu nhập và một số yếu tố ảnh hưởng 123
1
MỞ ĐẦU
tăng trưởng nhanh một cách bền vững, Nhà nước còn phải đóng vai trò quan trọng
trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người chứ
không phải chỉ một vài nhóm người được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh
tế chung của đất nước. Trong quá trình đổi mới theo hướng tự do hóa, mở cửa và
hội nhập vào khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt Nam ngày càng khởi sắc: tốc độ
tăng trưởng GDP đạt cao, thu nhập của người dân được cải thiện đáng kể. Việt Nam
ngày càng được biết đến là một quốc gia thành công chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Mặc dù vậy, quá trình này cũng đã làm nảy sinh những mặt trái, gây
trở ngại cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong đó, có một thực trạng
đáng lo ngại là sự gia tăng chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư và giữa
các vùng. Trong khi nền kinh tế tăng trưởng cao, khoảng cách giàu - nghèo có xu
hướng doãng ra.
Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là những chủ đề được quan tâm
nghiên cứu ở Việt Nam. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu mới chỉ bàn
riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về phân phối thu nhập. Gần đây đã có một số
nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên,
các nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu định tính và các nghiên cứu định lượng chủ yếu
mới tập trung nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập.
Việc nghiên cứu tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế còn ít.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống kết hợp giữa phân
tích định tính và định lượng tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế giúp
đưa ra những luận cứ khoa học để đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết
giữa phát triển kinh tế và thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập ở nước ta
trong thời gian tới có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tổng quan nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, các nhà kinh tế đã từ lâu tranh luận về mối liên kết giữa bất
bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, phải đến giữa thập niên 1990,
lại. Tuy nhiên, một trong những biến then chốt trong mô hình kinh tế chính trị của 4
họ là tỷ lệ dân số có quyền bỏ phiếu lại không có tác động đáng kể đến tăng trưởng
như mô hình của họ dự đoán. Với bộ số liệu sau chiến tranh, hệ số ước lượng cho tỷ
lệ thu nhập của nhóm trung lưu (nhóm phần năm thứ ba) mang giá trị dương và ý
nghĩa thống kê trong các nền dân chủ, nhưng không có ý nghĩa thống kê trong quốc
gia phi dân chủ. Họ giải thích điều này như một bằng chứng bổ sung ủng hộ mô
hình của họ, bởi vì một phần thu nhập lớn hơn cho tầng lớp trung lưu có nghĩa làm
giảm áp lực tái phân phối trong một nền dân chủ, nhưng có thể ít ảnh hưởng lên
chính sách trong chế độ độc tài. Nhìn chung, Persson và Tabellini kết luận rằng,
"Bất bình đẳng có ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua kênh đầu tư, và hiệu ứng
này chỉ hiện diện trong các nền dân chủ."
Các kết quả của Persson và Tabellini về sự khác biệt giữa các nền dân chủ và
phi dân chủ đã bị thách thức bởi một số tác giả khác. Alesina và Rodrik bác bỏ giả
thuyết cho rằng mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng là khác nhau giữa
các nền dân chủ và phi dân chủ. Họ cho rằng mô hình kinh tế chính trị không dự
đoán được sự khác biệt mang tính hệ thống giữa các nền dân chủ và phi dân chủ,
bởi vì chế độ phi dân chủ cũng chịu những áp lực tương tự như các chính phủ dân
chủ nhằm đáp ứng nhu cầu của tầng lớp trung lưu. Họ cho rằng sự khác biệt giữa
kết quả của họ và kết quả của Persson và Tabellini là do khác biệt trong cách đo
lường bất bình đẳng và định nghĩa được sử dụng để xác định các nước dân chủ.
Perotti cũng kết luận rằng dân chủ không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tăng
trưởng và bất bình đẳng. Ông cho rằng ảnh hưởng khác biệt mà Persson và
Tabellini phát hiện xuất hầu hết các nền dân chủ là các nước có thu nhập cao và phi
dân chủ là nước thu nhập thấp. Hơn nữa, ông thấy có ít bằng chứng về mối liên kết
ngược chiều giữa tỷ trọng thu nhập của nhóm trung lưu và chi tiêu cho y tế, an sinh
xã hội, giáo dục hoặc thuế suất biên.
Các nghiên cứu kinh tế lượng ban đầu kết luận rằng phân phối thu nhập bình
nghĩa thống kê trong toàn bộ mẫu bao gồm tất cả các quốc gia khi bỏ quan biến tỷ lệ
sinh. Như vậy, các quốc gia có tỷ lệ sinh cao hơn (thường là các nước chậm phát
triển) cũng có bất bình đẳng cao hơn và việc bỏ sót biến tỷ lệ sinh trong các nghiên
cứu trước đó có thể đã tạo ra sai lệch âm trong các ước lượng của họ về tác động
của bất bình đẳng đối với tăng trưởng. 6
Forbes (2000) cũng đóng góp vào quan điểm xét lại mối liên kết giữa bất
bình đẳng và tăng trưởng. Chỉ giới hạn nghiên cứu số liệu mảng cho 45 quốc gia với
với bộ số liệu về phân phối thu nhập có chất lượng tốt, và sử dụng phương pháp ước
lượng tiên tiến có tính đến sự khác biệt không quan sát được giữa các quốc gia (điều
này không được phản ánh trong các bộ số liệu thông thường về các biến điều kiện),
bà phát hiện rằng "tăng 10 điểm hệ số Gini của một quốc gia có tương quan với 1,3
phần trăm tăng trưởng trung bình hàng năm cao hơn cho 5 năm tới." Bà coi điều
này biểu thị một "mối quan hệ ngắn hạn giữa bất bình đẳng và tăng trưởng trong
một quốc gia", và rằng nó không "trực tiếp mâu thuẫn với kết luận trước đó về mối
quan hệ ngược chiều giữa các quốc gia trong dài hạn".
- Nghiên cứu sử dụng số liệu mảng trong một quốc gia
Các nghiên cứu sử dụng số liệu quốc tế bao gồm nhiều quốc gia có các đặc
điểm kinh tế, chính trị, xã hội rất khác nhau có thể không thật sự hữu ích cho phân
tích thực nghiệm dựa trên số liệu mảng giữa các tỷnh về tác động của bất bình đẳng
thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Một số nghiên cứu gần đây đã khảo
sát mối liên kết giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế giữa các bang hoặc giữa
các tỷnh trong cùng một quốc gia. Nhiều nhà nghiện cứu cho rằng số liệu chéo giữa
các bang tỏ ra ưu việt hơn so với số liệu chéo giữa các quốc gia vì đồng nhất hơn. Các
quốc gia có sự khác nhau về cấu trúc nên số liệu rất khó so sánh.
Partridge (1997) đã nghiên cứu mối liên kết giữa bất bình đẳng và tốc độ
tăng trưởng giữa các bang của Hoa Kỳ trong ba thập kỷ từ năm 1960 đến năm 1990.
Nghiên cứu của ông bao gồm hai thước đo bất bình đẳng vào đầu của mỗi giai đoạn
hệ giữa tăng trưởng kinh tế theo tỷnh ở Canada và ba thước đo khác nhau về bất bình
đẳng thu nhập. Họ phát hiện mối quan hệ giữa chúng không có ý nghĩa thống kê. Các
tác giả sau đó xem xét bằng chứng cho thấy việc tăng thuế suất biên đối với cá nhân
có thu nhập cao cũng như tăng thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ tạo ra chi phí đáng kể
cho nền kinh tế trong khi không làm tăng nguồn thu về thuế. Trừng phạt người có thu
nhập cao là một cách tự hủy hoại, mặc dù cải thiện mạng lưới an sinh xã hội sẽ cung
cấp cho người dân Canada nhiều hơn cơ hội để tiếp cận các dịch vụ này.
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra những kết quả không thống
nhất và thậm chí trái ngược nhau. Forbes (2000) phát hiện năm yếu tố có vai trò
quan trọng giải thích cho những kết quả mâu thuẫn này: (i) sử dụng các biến khác
nhau, (ii) các mẫu nghiên cứu khác nhau, (iii) chất lượng dữ liệu khác nhau, (iv)
khoảng thời gian khác nhau và (v) sai lệch vì bỏ biến trong các nghiên cứu sử dụng
số liệu chéo. Bà kết luận rằng các lý do quan trọng nhất dẫn đến sự khác biệt là tính 8
đặc thù quốc gia, sự khác biệt về thời gian nghiên cứu, sai lệch vì bỏ biến và độ dài
của thời kỳ được xem xét. Mặt khác, Banerjee và Duflo (2003) cho rằng ảnh hưởng
của bất bình đẳng đến tăng trưởng có dạng hình chữ U ngược theo nghĩa khi bất
bình đẳng thu nhập còn ở mức thấp các nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn
bằng cách chấp nhận bất bình đẳng cao hơn, tuy nhiên bất bình đẳng thu nhập quá
cao (vượt qua một ngưỡng nhất định) sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế.
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những chủ đề được
các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm.
Nhóm nghiên cứu của Ngân hàng thế giới gồm David Dollar và các cộng sự,
trong báo cáo nghiên cứu “Economics Growth, Poverty and Household welfare”
năm 2004 đã sử dụng một cơ sở dữ liệu dồi dào về kinh tế học vĩ mô và điều tra về
thống kê, còn các số liệu theo tỷnh được lấy từ bốn cuộc điều tra mức sống dân cư
Việt Nam 1992-93; 1997-98; 2002; và 2004. Kết quả cho thấy bất bình đẳng thu
nhập có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế. Việc sử dụng tỷ lệ Q1/Q5 đại diện
cho bất bình đẳng thu nhập của nghiên cứu này được coi là quá đơn giản vì không
phản ánh được toàn bộ bức tranh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư. Bộ số
liệu mà nghiên cứu sử dụng đã quá lạc hậu và không cập nhật được những thay đổi
mạnh trong hình mẫu của bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
từ năm 2005 đến nay.
Đề tài cấp nhà nước KX 01.10 “Phân phối thu nhằm đảm bảo sự phát triển
kinh tế và thực hiện công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN” do Nguyễn Công Nghiệp (2006) chủ nhiệm đã hệ thống hoá và làm rõ một
số vấn đề lý luận về phân phối trong các học thuyết kinh tế và vai trò của phân phối
trong chu trình tái sản xuất xã hội và trong hệ thống quan hệ sản xuất; nghiên cứu
mô hình phân phối trong một số hệ thống kinh tế và trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam. Đề tài đã nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với
quá trình phân phối và phân tích các công cụ được sử dụng để thực hiện việc điều
chỉnh quá trình phân phối nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện
công bằng xã hội (nổi bật là các công cụ thuế, chi tiêu ngân sách, công cụ tín dụng,
hệ thống an sinh xã hội). Đề tài đã đi sâu nghiên cứu thực trạng phân phối ở Việt 10
Nam qua 2 thời kỳ (thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới), từ đó rút ra những
kết luận và bài học kinh nghiệm; đề xuất hệ thống đồng bộ các quan điểm và nhóm
giải pháp về phân phối nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã
hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Đề tài đã tiếp cận vấn đề phân phối theo nghĩa rộng với tư cách là một khâu của quá
trình tái sản xuất trong đó phân phối thu nhập chỉ là phần của toàn bộ bức tranh
chung. Cách tiếp cận của đề tài hoàn toàn là định tính.
Phạm Xuân Nam (2007) trong bài báo “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã
kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam; chỉ ra những thành công, hạn chế
và nguyên nhân của thực trạng đó trong giai đoạn 1986-2010, đặc biệt chú trọng
vào thời kỳ 10 năm (2001-2010); Xây dựng và đề xuất hệ thống quan điểm, mục
tiêu, giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã
hội trong thời kỳ mới ở Việt Nam. Các kết luận đưa ra đều dựa trên các phân tích
định tính và mô tả thống kê.
Tuy nhiên, những công trình trong nước kể trên còn có những hạn chế sau:
- Các công trình khoa học trong nước chủ yếu nghiên cứu định tính. Cần có
nghiên cứu tổng hợp cả định tính và định lượng về mối liên kết giữa bất bình đẳng
thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
- Các công trình mới chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về bất
bình đẳng. Cần nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế
mà trước hết là tác động của giữa bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế.
- Nghiên cứu định lượng của Nguyễn Văn Công (2006) về tác động của bất
bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam mới nghiên cứu cho giai đoạn 1992-
2004, chưa cập nhật được tình hình mới khi Việt nam đã là thành viên của Tổ chức
Thương mại thế giới, đặc biệt giai đoạn suy giảm tăng trưởng kinh tế từ năm 2008 có
tác động đến hình mẫu của mối liên kết giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu tác động của bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. 12
Bên cạnh đó, luận án hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
Hệ thống cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về tác động của bất bình đẳng thu
nhập đến tăng trưởng kinh tế.
Phân tích thực trạng bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
trong thời gian qua.
Phân tích và kiểm định tác động của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 2000-2012 dựa trên bộ số liệu
của cả nước, 63 tỉnh, thành được thu thập từ Tổng cục Thống kê (TCTK) và số liệu
từ 4 cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) các năm 2004, 2006,
2008 và 2010.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu đặt ra, luận án sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
- Phương pháp tổng hợp và so sánh, phân tích thống kê: để đánh giá thực
trạng bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế, cũng như tác động của bất bình
đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
- Phương pháp mô hình hóa: thông qua việc xây dựng các mô hình định
lượng để kiểm định và ước lượng tác động tác động của bất bình đẳng phối thu nhập
tới tăng trưởng kinh tế nhằm cung cấp cơ sở thực chứng cho các phân tích định tính.
Cụ thể, nghiên cứu tiến hành xây dựng mô hình kinh tế lượng dựa trên mô hình tăng
trưởng có điều chỉnh phù hợp để nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Luận án sử dụng phương
pháp hồi quy số liệu mảng (panel data) để ước lượng các mô hình. Kết quả thu được
sẽ giúp luận án xem xét được tác động của bất bình đẳng phân phối thu nhập tới
tăng trưởng kinh tế là tích cực hay tiêu cực.
7. Ý nghĩa khoa học của luận án
Đảm bảo cho kinh tế tăng trưởng nhanh một cách bền vững đi đôi với thực
hiện công bằng trong phân phối thu nhập là một vấn đề đang đặt ra cấp thiết, rất có
ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong việc điều tiết vĩ mô ở Việt Nam. Qua nghiên
cứu, luận án đã có đóng góp chủ yếu sau đây: 14
7.1. Những đóng góp về mặt học thuật, lý luận:
1. Luận án chỉ rõ bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng ngưỡng đến tăng
trưởng kinh tế: cả bất bình đẳng thu nhập quá thấp và quá cao đều bất lợi cho tăng
ngưỡng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: chấp nhận bất bình đẳng cao hơn sẽ có
được tăng trưởng kinh tế cao hơn khi hệ số GINI nhỏ hơn 0,37 và sẽ làm giảm tăng
trưởng kinh tế khi hệ số GINI lớn hơn 0,37.
5. Luận án đã đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm tận dụng tác động
tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Các giải pháp bao gồm: Hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường định hướng XHCN đảm bảo gắn kết hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế và
công bằng xã hội; Xây dựng và thực hiện mô hình tăng trưởng công bằng và vì
người nghèo; Điều chỉnh cơ cấu đầu tư xã hội hướng đến các đối tượng yếu thế;
Đảm bảo người dân được chia sẻ thành quả của sự phát triển bằng cách quan tâm tới
ba lĩnh vực trọng yếu: giáo dục, y tế, và lưới an sinh xã hội; Cần có những chính
sách di dân thích hợp; Cải cách chính sách phân phối tài sản, thu nhập và cơ hội
phát triển trong nền kinh tế theo hướng phải đảm bảo công bằng và hướng đến
người nghèo.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án được
kết cấu thành bốn chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của bình đẳng thu nhập đến
tăng trưởng kinh tế.
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Chương 3: Ước lượng tác động của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác
động tiêu cực của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam.