Tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở việt nam (TT) - Pdf 25

Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân

Hoàng Thủy Yến
tác động của bất bình đẳng thu nhập
đến tăng trởng kinh tế ở Việt Nam Chuyên ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế họcChuyên ngành: Kinh tế học
Chuyên ngành: Kinh tế học


Ngi hng dn khoa hc:
1. PGS.TS. Nguyn Vn Cụng
2. PGS.TS. Lờ Quc Hi

Phn bin:
1. GS.TSKH. Nguyn Quang Thỏi
Hi Khoa hc Kinh t Vit Nam

2. PGS.TS. Nguyn Th Minh
i hc Kinh t Quc dõn

3. PGS.TS. Bựi Tt Thng
Vin Chin lc Phỏt trin, B K hoch v u t
Lun ỏn c bo v trc Hi ng chm lun ỏn
cp Trng i hc Kinh t Quc dõn
Vo hi: ngy thỏng nm 2015 Cú th tỡm hiu lun ỏn ti:
- Th vin Quc gia
- Th vin i hc Kinh t Quc dõn 1

MỞ ĐẦU

cạnh mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng nhanh một cách bền vững, Nhà nước còn
phải đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,
đảm bảo cho mọi người chứ không phải chỉ một vài nhóm người được hưởng
lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế chung của đất nước. Trong quá trình đổi
mới theo hướng tự do hóa, mở cửa và hội nhập vào khu vực và thế giới, nền 2
kinh tế Việt Nam ngày càng khởi sắc: tốc độ tăng trưởng GDP đạt cao, thu nhập
của người dân được cải thiện đáng kể. Việt Nam ngày càng được biết đến là
một quốc gia thành công chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan
liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù
vậy, quá trình này cũng đã làm nảy sinh những mặt trái, gây trở ngại cho sự
phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong đó, có một thực trạng đáng lo ngại là
sự gia tăng chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư và giữa các vùng.
Trong khi nền kinh tế tăng trưởng cao, khoảng cách giàu - nghèo có xu hướng
doãng ra.
Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là những chủ đề được quan
tâm nghiên cứu ở Việt Nam. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu mới
chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về phân phối thu nhập. Gần đây đã
có một số nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu định tính và các nghiên
cứu định lượng chủ yếu mới tập trung nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế
đến bất bình đẳng thu nhập. Việc nghiên cứu tác động của bất bình đẳng thu nhập
đến tăng trưởng kinh tế còn ít.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống kết hợp giữa phân
tích định tính và định lượng tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế
giúp đưa ra những luận cứ khoa học để đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm
gắn kết giữa phát triển kinh tế và thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập
ở nước ta trong thời gian tới có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

không thay đổi. Dahlby

and
Ferede (2013)
xem xét mối liên kết giữa bất bình
đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế dựa trên bộ dữ liệu mảng giữa các tỉnh của
Canada và tìm lời giải đáp cho câu hỏi phải chăng có một sự đánh đổi giữa các
chính sách tái phân phối và tăng trưởng kinh tế, hay tái phân phối thu nhập có thể
kích hoạt kinh tế tăng trưởng nhanh hơn.

Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra những kết quả không
thống nhất và thậm chí trái ngược nhau. Forbes (2000) phát hiện năm yếu tố có
vai trò quan trọng giải thích cho những kết quả mâu thuẫn này: (i) sử dụng các
biến khác nhau, (ii) các mẫu nghiên cứu khác nhau, (iii) chất lượng dữ liệu khác
nhau, (iv) khoảng thời gian khác nhau và (v) sai lệch vì bỏ biến trong các
nghiên cứu sử dụng số liệu chéo. Bà kết luận rằng các lý do quan trọng nhất dẫn
đến sự khác biệt là tính đặc thù quốc gia, sự khác biệt về thời gian nghiên cứu,
sai lệch vì bỏ biến và độ dài của thời kì được xem xét. Mặt khác, Banerjee và
Duflo (2003) cho rằng ảnh hưởng của bất bình đẳng đến tăng trưởng có dạng
hình chữ U ngược theo nghĩa khi bất bình đẳng thu nhập còn ở mức thấp các
nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn bằng cách chấp nhận bất bình đẳng
cao hơn, tuy nhiên bất bình đẳng thu nhập quá cao (vượt qua một ngưỡng nhất
định) sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế.
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những chủ đề
được các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm. Nghiên cứu của Dollar và các cộng sự
(2004) đã sử dụng một cơ sở dữ liệu dồi dào về kinh tế học vĩ mô và điều tra về 4

thống kê.
Như vậy, những công trình trong nước kể trên còn có những hạn chế sau:
- Các công trình khoa học trong nước chủ yếu nghiên cứu định tính. Cần
có nghiên cứu tổng hợp cả định tính và định lượng về mối liên kết giữa bất bình
đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. 5
- Các công trình mới chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về
bất bình đẳng. Cần nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng
kinh tế mà trước hết là tác động của giữa bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế.
- Nghiên cứu định lượng của Nguyễn Văn Công (2006) về tác động của
bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam mới nghiên cứu cho giai
đoạn 1992-2004, chưa cập nhật được tình hình mới khi Việt nam đã là thành
viên của Tổ chức Thương mại thế giới, đặc biệt giai đoạn suy giảm tăng trưởng
kinh tế từ năm 2008 có tác động đến hình mẫu của mối liên kết giữa bất bình
đẳng và tăng trưởng kinh tế.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu tác động của bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, luận án hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về tác động của bất bình đẳng
thu nhập đến tăng trưởng kinh tế.
- Phân tích thực trạng bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam trong thời gian qua.
- Phân tích và kiểm định tác động của bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tận dụng tác động tích cực và
hạn chế tác động tiêu cực của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam.

(TCTK) và số liệu từ 4 cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS)
các năm 2004, 2006, 2008 và 2010.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu đặt ra, luận án sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
- Phương pháp tổng hợp và so sánh, phân tích thống kê: để đánh giá thực
trạng bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế, cũng như tác động của bất
bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
- Phương pháp mô hình hóa: thông qua việc xây dựng các mô hình định
lượng để kiểm định và ước lượng tác động tác động của bất bình đẳng phối thu
nhập tới tăng trưởng kinh tế nhằm cung cấp cơ sở thực chứng cho các phân tích
định tính. Cụ thể, nghiên cứu tiến hành xây dựng mô hình kinh tế lượng dựa
trên mô hình tăng trưởng có điều chỉnh phù hợp để nghiên cứu về tác động của
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Luận án sử dụng phương pháp hồi quy số liệu mảng (panel data) để ước lượng
các mô hình. Kết quả thu được sẽ giúp luận án xem xét được tác động của bất
bình đẳng phân phối thu nhập tới tăng trưởng kinh tế là tích cực hay tiêu cực.
7. Ý nghĩa khoa học của luận án
7.1. Những đóng góp về mặt học thuật, lý luận:
1. Luận án chỉ rõ bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng ngưỡng đến tăng
trưởng kinh tế: cả bất bình đẳng thu nhập quá thấp và quá cao đều bất lợi cho
tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Đây là bước tiến mới so với các nghiên cứu 7
trước đây khi một số cho rằng bất bình đẳng thu nhập bất lợi cho tăng trưởng
kinh tế trong khi các nghiên cứu khác lại cho rằng bất bình đẳng thu nhập có lợi
cho tăng trưởng kinh tế.
2. Đây là một trong những số ít nghiên cứu ở Việt Nam lượng hoá được
tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế, cung cấp một căn

được kết cấu thành ba chương: 8
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của bình đẳng thu nhập
đến tăng trưởng kinh tế.
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Chương 3: Ước lượng tác động của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế
tác động tiêu cực của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH
ĐẲNG THU NHẬP ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1. Một số vấn đề lý luận chung về bất bình đẳng thu nhập
1.1.1. Khái niệm bất bình đẳng thu nhập
Bất bình đẳng thu nhập đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phối
không đều giữa các cá nhân hoặc các hộ gia đình trong nền kinh tế.
1.1.2. Đo lường bất bình đẳng thu nhập
Một số thước đo phổ biến về bất bình đẳng bao gồm: tỷ lệ giữa thu nhập
bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của
nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1); Đường Lorenz; Hệ số Gini; và tiêu
chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng thu nhập
Nhìn chung các nguyên nhân gây bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
có thể xếp vào hai nhóm: bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản; và

tiến và các chương trình phúc lợi mà điều này sẽ làm giảm động lực lao động và
gây ra tổn thất cho tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, nhiều lý thuyết lại cho thấy
bất bình đẳng thu nhập có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế, bao gồm: Lý thuyết
kinh tế chính trị được phát triển bởi các nhà nghiên cứu Alesina và Rodrik (1994),
Persson và Tabellini (1994); Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo được xây
dựng bởi các nhà nghiên cứu Galor và Zeira (1993), Aghion và Bolton (1997),
Chiou (1998); Lý thuyết bất ổn định về chính trị - xã hội được xây dựng bởi các
công trình nghiên cứu của Alesina và cộng sự (1996), Benhabib và Rustichini
(1996), Grossman và Kim (1996); lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản
được xây dựng bởi Perotti (1996); Lý thuyết so sánh xã hội của Knell (1998);
Todaro (1998).
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết mối quan hệ giữa phân phối thu
nhập và tăng trưởng kinh tế
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của Braxin, Hàn Quốc và Trung Quốc
về giải quyết mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế, luận
án rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:
- Tăng trưởng là cơ sở để giảm bất bình thu nhập. 10
- Giải phóng sức sản xuất xã hội gắn với việc từng bước nâng cao đời sống
của đại bộ phận nhân dân lao động.
- Tăng trưởng kinh tế phải đi kèm với việc tạo dựng các cơ hội việc làm và
phúc lợi cho tất cả người dân.
- Chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn sẽ giúp giảm bớt
sự bất bình đẳng thu nhập giữa thành thị và nông thôn.
- Hạn chế tốc độ tăng trưởng dân số.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA BẤT BÌNH ĐẲNG THU

Trung có hệ số chênh lệch về thu nhập thấp nhất.
2.1.4. Bất bình đẳng theo hệ số GINI
Hệ số GINI về thu nhập tính chung cả nước có xu hướng tăng nhẹ qua các năm
(0,418 năm 2002, 0,42 năm 2006, 0,43 năm 2008, và 0,43 năm 2010). Hệ số GINI
gia tăng nhanh nhất ở một số vùng như Đồng bằng Sông Hồng, và Bắc trung bộ
duyên hải miền Trung. Hệ số GINI cao ở các vùng Đông Bắc, Tây nguyên, là
những khu vực có tỷ lệ nghèo cao và là nơi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống,
bên cạnh đó có một bộ phận dân số giàu có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh
doanh và dịch vụ có tính thương mại cao.
2.1.5. Bất bình đẳng về tiếp cận một số dịch vụ xã hội cơ bản
Việt Nam không chỉ đặt mục tiêu phát triển kinh tế, mà còn quan tâm cải thiện
đời sống của người dân. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại hệ thống này vẫn chưa
đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của người dân, cả về số lượng và chất lượng.
Đặc biệt là vẫn còn khá cách biệt trong tiếp cận, sử dụng các loại dịch vụ an sinh
xã hội sẵn có giữa các nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm nghèo có thu nhập thấp và
dân cư ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
2.1.6. Nguyên nhân dẫn tới gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam
Luận án đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn tới gia tăng bất bình đẳng ở Việt
Nam bao gồm: Xuất phát từ bản thân nền kinh tế thị trường; Sự phát triển
không đều giữa các vùng do điều kiện tự nhiên, phương thức sản xuất, văn
hóa, phong tục tập quán, lối sống khác nhau; Mô hình tăng trưởng và cơ chế
phân bổ nguồn lực có nhiều hạn chế; Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
diễn ra nhanh chóng.
2.2. Thực trạng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
2.2.1. Xu hướng tăng trưởng kinh tế
Sau giai đoạn tăng trưởng thấp từ 1999-2000, nền kinh tế dần phục hồi và
tăng tốc từ năm 2001 cho đến năm 2007. Tính bình quân trong cả giai đoạn
2000-2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 7,62%/năm. Thời kì
2008 đến nay nền kinh tế bắt đầu một chu kì suy giảm tăng trưởng do chịu tác
động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai

tế ở Việt Nam
*Những kết quả đạt được:
- Tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tiến
trình thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
- Việt Nam đã thực hiện ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bắt
đầu chú ý đến mục tiêu công bằng trong phân phối thu nhập.
- Tăng trưởng đã chú ý gắn kết với các mục tiêu về phát triển con người.
*Những hạn chế:
- Phân phối thu nhập không được thực hiện một cách đồng đều gắn với
tăng trưởng. Tăng trưởng đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm người giàu, dẫn
đến sự bất bình đẳng về thu nhập.
- Mô hình tăng trưởng kinh tế và cơ chế phân bổ nguồn lực có ảnh hưởng
tiêu cực đến việc đảm bảo công bằng thu nhập
- Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đã dẫn đến tăng trưởng nóng và 13
đã làm phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến bất bình đẳng thu nhập.
- Quá trình chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị
trường làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập
- Có tác động của cơ chế xin cho, bao cấp, môi trường kinh doanh không
bình đẳng và thông tin không minh bạch đến bất bình đẳng thu nhập
- Chưa thể kết hợp tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong từng
chính sách.

CHƯƠNG 3
ƯỚC LƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP
TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
3.1. Xác định mô hình và phương pháp ước lượng
3.1.1. Mô hình ước lượng

nhiên. Kiểm định Hausman sẽ được sử dụng để xác định lựa chọn giữa hai
phương pháp này. 14
3.2. Số liệu
- Số liệu từ Tổng cục thống kê (TCTK): Trong nghiên cứu này tác giả
sử dụng các loại số liệu thống kê chủ yếu sau cho các tỷnh/thành: GDP, đầu
tư, lao động.
- Số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS): Đây là cuộc điều tra
nhằm thu thập các thông tin làm căn cứ đánh giá mức sống, đánh giá tình trạng
nghèo đói và phân hoá giàu nghèo. Vì đây là cuộc khảo sát được tiến hành 2
năm một lần của TCTK, nên nghiên cứu đã xử lý bộ số liệu này cho các năm
2004, 2006, 2008 và 2010. Sau đó kết nối các năm lại để có một bộ số liệu
mảng và theo thời gian.
Luận án đã kết hợp giữa số liệu đầu tư, GDP, lao động theo tỷnh/thành
và bộ số liệu VHLSS nhằm mục đích đưa các biến số này vào trong mô hình.
Vì VHLSS nghiên cứu tổng hợp đến cấp hộ gia đình trong các tỷnh/thành nên
khi ghép số liệu VHLSS này với số liệu thống kê vĩ mô theo tỷnh/thành ta cần
giả định các hộ gia đình trong cùng một tỷnh/thành sẽ có cùng môi trường đầu tư
và các biến số này thay đổi theo cấp tỷnh/thành và theo thời gian.
3.3. Thống kê và phân phối xác suất của các biến trong mô hình
Thống kê cơ bản về biến GINI (sau khi nhân 100) là 37,6, giá trị nhỏ nhất
là 28,1 và giá trị lớn nhất là 58,8. Phân bố xác suất của biến GINI và
INCGAPcho thấy có dạng phân bố gần phân bố chuẩn. Phân bố xác xuất của
biến GDP và GDPPERC (GDP bình quân đầu người) lệch trái. Như vậy biến
GDP và GDPPERC không có phân bố chuẩn. Khắc phục vấn đề này, ta xét
logarit cơ số tự nhiên của biến GDP và GDPPERC. So sánh phân bố xác suất
của ln(GDP) và ln(GDPPERC) với đồ thị hàm mật độ xác suất ta thấy ln(GDP)
và ln(GDPPERC) phân bố chuẩn.

[0.000] [0.000] [0.000]
GINI_INVEST -0.007* -0.002

[0.004] [0.004]
Cố định -2.561

-0.749

-5.665** -1.447

[2.099] [2.208] [2.457] [2.505]
Số quan sát 252

252

252

252

Số tỷnh, thành 63

63

63

63

R-squared 0.25

0.35

yếu tố khác không đổi, được thể hiện qua biểu thức sau:
H2=0.076-2*0.001GINI.
Cụ thể, bất bình đẳng có ảnh hưởng âm đến tăng trưởng kinh tế khi GINI
lớn hơn 0,37. Ngược lại, nếu GINI nhỏ hơn 0,37 thì bất bình đẳng có ảnh hưởng
dương đến tăng trưởng kinh tế.
Tác động tương tác giữa bất bình đẳng và đầu tư cũng không rõ nét đến
tăng trưởng (mức ý nghĩa 5%). Hệ số này có ý nghĩa ở mô hình 3, nhưng không
có ý nghĩa thống kê ở mô hình 4. Điều này cho thấy, khi cả bất bình đẳng thu
nhập và đầu tư cho phát triển cùng tăng thì sẽ không kích thích tăng trưởng kinh
tế. Ở những tỷnh/thành mà bất bình đẳng thu nhập cao thì môi trường kinh tế
kinh doanh có thể không công bằng, nên hiệu quả đầu tư chưa thực sự tốt, vì thế
tăng trưởng sẽ thấp hơn.
Dựa trên việc lấy hệ số GINI =0,37 làm mốc, nghiên cứu chia số liệu
thành 2 nhóm: Nhóm các tỷnh có hệ số GINI < 0,37, và nhóm còn lại có GINI
≥ 0,37. Giá trị GINI trung bình của nhóm các tỷnh/thành có GINI < 0,37 là
0,33; giá trị trung bình của GINI của các tỷnh/thành có GINI lớn hơn hoặc bằng
0,37 là 0,41. Như vậy tại mỗi mức trung bình nếu các tỷnh/thành có bất bình
đẳng thu nhập tăng 1 điểm phần trăm thì tăng trưởng kinh tế sẽ tăng thêm rất
nhỏ, khoảng 0,01 điểm phần trăm đối với các tỷnh/thành có mức GINI nhỏ hơn
0,37 và làm giảm khoảng 0,006 điểm phần trăm đối với các tỷnh/thành có hệ số
GINI lớn hơn 0,37. 17
3.5.2. Tác động của bất bình đẳng thu nhập (đo lường bằng khoảng cách
nhóm giàu nhất/nhóm nghèo nhất) đến tăng trưởng kinh tế
Bảng 3.2: Tác động của bất bình đẳng thu nhập (đo lường bằng khoảng
cách thu nhập) tới tăng trưởng kinh tế
Biến phụ thuộc: lnGDP
Biến giải thích


18
làm giàu nằm ở trong tay người có thu nhập cao mà chủ yếu là tại các thành phố
lớn - nơi mà khoảng cách giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng. Từ thực tiễn
có thể thấy các chính sách của Nhà nước phải hướng tới công bằng hay giảm sự
bất bình đẳng để lấy tăng trưởng, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội.

CHƯƠNG 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TẬN DỤNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ
HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU
NHẬP ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
4.1. Quan điểm tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của
bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế
- Cần nhìn nhận toàn diện và có tầm nhìn dài hơi khi xem xét vấn đề bất
bình đẳng thu nhập, phải đặt bất bình đẳng thu nhập trong mối quan hệ với tăng
trưởng kinh tế.
- Cần đảm bảo cho kinh tế tăng trưởng nhanh một cách bền vững đi đôi với
thực hiện công bằng trong phân phối.
- Phát triển kinh tế gắn kết hợp lý với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
ngay trong từng giai đoạn phát triển và trong suốt quá trình phát triển.
- Không thể hướng tới mục tiêu giảm bất bình đẳng bằng mọi giá, đặc biệt
không thể cào bằng thu nhập, điều quan trọng là cần phải chấp nhận bất bình
đẳng thu nhập trong một phạm vi được coi là an toàn và có lợi cho tăng trưởng
kinh tế nhanh một cách bền vững trong dài hạn.
- Bảo đảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong chế độ
phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội.
- Phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần, gắn nghĩa vụ
với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, quyền hạn với trách nhiệm, lợi ích cá
nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội.
- Phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội phải phù hợp với bối

kết hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường cần tuân thủ các Quy luật khách
quan của cơ chế thị trường nhằm phát huy tối đa chức năng phân bổ nguồn lực
tối ưu của thị trường cho tăng trưởng và CBXH.
- Tiếp tục hoàn thiện thị trường các nhân tố sản xuất vì đây là nhóm yếu tố
vừa cần thiết cho tăng trưởng, vừa ảnh hưởng trực tiếp đến nhóm đối tượng yếu
thế trong xã hội.
+ Để đảm bảo khía cạnh công bằng xã hội, cần đẩy nhanh quá trình chính
thức hóa thị trường lao động phi chính quy đã và đang tồn tại trong suốt quá
trình chuyển đổi vừa qua.
+ Đối với thị trường vốn, cần tăng các thể chế hỗ trợ đối tượng yếu thế
để tăng cơ hội tiếp cận nguồn vốn chính thức, giảm chi phí vay vốn, ví dụ áp
dụng hơn nữa chính sách bảo lãnh tín dụng, tăng hiệu quả các quỹ đầu tư
hiện có bằng việc minh bạch hóa mọi thông tin, tiêu chí, quy trình xét duyệt. 20
4.3.2. Xây dựng và thực hiện mô hình tăng trưởng công bằng và vì người
nghèo.
Mô hình này phải đảm bảo thu nhập của người nghèo tăng nhanh hơn so
với thu nhập trung bình của xã hội và góp phần giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo theo
chuẩn quy định. Trong mô hình này cần phát huy vai trò của khu vực tư nhân
trong đầu tư tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, tạo việc làm và mở rộng
sự tham gia của các đối tác xã hội vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh
đó, mô hình tăng trưởng phải vừa đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng cao, ổn
định, vừa phải đạt được trên diện rộng có lợi cho người nghèo. Hơn nữa, trong
quá trình tăng trưởng kinh tế, cần kiểm soát thường xuyên, chặt chẽ các chỉ tiêu
phát triển xã hội, trong đó trọng tâm là xoá đói giảm nghèo và giảm bất bình
đẳng, và nhấn mạnh ngày càng nhiều hơn đến yêu cầu giải quyết các nội dung
này trong các chính sách và giải pháp tăng trưởng.

Việt Nam phải dựa vào lao động có trình độ và tay nghề cao nên sự gia tăng
bất bình đẳng về vốn nhân lực không chỉ đưa ra các giới hạn cho sự giảm nghèo
trong tương lai mà còn cả giới hạn cho sự tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao.
4.3.6. Cần có những chính sách di dân thích hợp
- Các chính sách về thị trường lao động phải được điều chỉnh để tạo điều
kiện cho sự dịch chuyển lao động phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế.
- Xây dựng hệ thống luật pháp về lao động và thị trường lao động cần chú
ý đến việc bảo đảm quyền lựa chọn chỗ làm việc và cư trú của người lao động.
- Cần phải xóa bỏ những hạn chế tiếp cận dịch vụ công chính đáng của
người nhập cư như chế độ hộ khẩu vì chế độ này không còn phục vụ các chức
năng kinh tế hay xã hội như trước đây nữa, mà trái lại đã trở thành một công cụ
“hành dân”.
- Nhà nước cần nhanh chóng có giải pháp cho tình trạng giá nhà đất cao
một cách phi lý ở các đô thị.
4.3.7. Cải cách chính sách phân phối tài sản, thu nhập và cơ hội phát triển
trong nền kinh tế theo hướng phải đảm bảo công bằng và hướng đến người
nghèo
- Nhà nước cần bảo vệ các quyền đảm bảo cho mọi người có cơ hội như
nhau trong việc sử dụng cơ hội phát triển và đạt được thành công. Một khi
những quy tắc trò chơi này được thiết lập, Nhà nước sẽ ít phải can thiệp để thay
đổi kết quả phân phối thu nhập.
- Thực hiện tốt những điều chỉnh quyết liệt, công khai minh bạch đối với
"nhóm lợi ích" này là biện pháp hữu hiệu để sớm tạo ra sự bình đẳng thực sự
giữa các chủ thể kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Nhà nước cần bảo vệ các quyền đảm bảo cho mọi người có cơ hội như
nhau trong việc sử dụng cơ hội phát triển và đạt được thành công.
- Nhà nước cần đưa ra và áp dụng các biện pháp để hạn chế tình trạng bất
bình đẳng tài sản từ những hoạt động không phải từ sản xuất kinh doanh như:
thực hiện bắt buộc việc kê khai tài sản đối với cán bộ công chức; nghiên cứu và

đẩy tăng trưởng ở các nước giàu.
3. Thực tế tăng trưởng ngoạn mục và phân phối công bằng hơn ở các nền
kinh tế Đông Á (điển hình là Hàn Quốc) tương phản với bức tranh ảm đạm của
các nước Mỹ Latinh (điển hình là Braxin) với tăng trưởng thấp và tình trạng bất
bình đẳng cao là một bằng chứng và kinh nghiệm sinh động ủng hộ chiến lược
phát triển bền vững trong đó kinh tế tăng trưởng nhanh một cách bền vững cần
đi đôi với thực hiện công bằng xã hội. Trung Quốc cũng đã điều chỉnh mô hình
kinh tế theo hướng đó.
4. Thông qua phân tích, đánh giá thực trạng bất bình đẳng và tăng trưởng
kinh tế ở Việt Nam, luận án đã chỉ rõ: Việt Nam đã được những thành tựu trong
duy trì tăng trưởng nhanh và nâng cao thu nhập bình quân đầu người nhưng kéo 23
theo đó là sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập. Sự phân hoá giàu nghèo ở nước
ta ngày càng sâu sắc dưới áp lực cần tăng trưởng nhanh. Tăng trưởng kinh tế
cao nhưng chủ yếu tập trung vào các ngành sử dụng nhiều vốn, chuyển dịch lao
động từ nông nghiệp sang công nghiệp - xây dựng và dịch vụ còn chậm; nhiều
công trình được xây dựng vẫn cần nhiều vốn hơn là lao động. Đầu tư phát triển
tập trung vào các ngành đòi hỏi vốn cao, ít lao động đã hạn chế tác dụng trực
tiếp đến người nghèo, chỉ những người có vốn, tri thức và trình độ để có thể
tham gia vào các lĩnh vực đó được. Tăng trưởng cao nhưng tạo ít thu nhập cho
người lao động. Vì vậy, lợi ích của tăng trưởng không được phân bổ một cách
rộng rãi, số người có thu nhập mới và khả năng nâng cao thu nhập của mỗi
người tăng chậm. Khoảng cách giữa nhóm người giàu và nhóm người nghèo
ngày càng doãng ra, một phần lớn thu nhập được tạo ra và phân bố tại các trung
tâm tăng trưởng lớn, trong khi dân cư các địa phương miền núi và nông thôn,
vùng sâu, vùng xa được hưởng lợi ít hơn nhiều từ tăng trưởng, sự phân hoá
giàu- nghèo theo vùng gia tăng.
5. Luận án đã chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế và yếu kém ở trên

tế gắn với nâng cao dân trí, bảo đảm các quyền con người; Phát triển kinh tế và
thực hiện công bằng xã hội phải phù hợp với bối cảnh toàn cầu hoá và quá trình
hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam.
8. Trên cơ sở phân tích thực trạng và quan điểm, luận án đã đề xuất một số
giải pháp tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của bất bình
đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế. Các giải pháp bao gồm: Hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đảm bảo gắn kết hợp lý giữa tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội; Xây dựng và thực hiện mô hình tăng trưởng
công bằng và vì người nghèo; Điều chỉnh cơ cấu đầu tư xã hội hướng đến các
đối tượng yếu thế; Đảm bảo người dân được chia sẻ thành quả của sự phát triển
bằng cách quan tâm tới ba lĩnh vực trọng yếu: giáo dục, y tế, và lưới an sinh xã
hội; Cần có những chính sách di dân thích hợp; Cải cách chính sách phân phối
tài sản, thu nhập và cơ hội phát triển trong nền kinh tế theo hướng phải đảm bảo
công bằng và hướng đến người nghèo.
9. Bên cạnh những kết quả và điểm mới luận án cũng có những hạn chế
và đồi hỏi cần phải có các nghiên cứu tiếp theo. Thứ nhất, do nguồn số liệu
tỷnh/thành không đầy đủ và thiếu nên luận án chưa nghiên cứu, kiểm định và
ước lượng được các kênh mà qua đó bất bình đẳng thu nhập tác động đến tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam. Thứ hai, vấn đề nội sinh giữa bất bình đẳng thu
nhập và tăng trưởng kinh tế chưa được giải quyết đầy đủ trong mô hình số liệu
mảng, do vậy cần thu thập thêm số liệu để có thể giải quyết vấn đề này qua các
phương pháp ước lượng khác như mô hình biến công cụ.
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Nguyễn Văn Công, Hoàng Thủy Yến (2011) Mối quan hệ giữa tăng trưởng và
phân phối thu nhập ở Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status