LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Đình Kiệm
Các số liệu và dữ kiện được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung
thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn Đang
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Nội dung
NSNN Ngân sách Nhà nước
UBND Ủy ban nhân dân
BTC Bộ Tài chính
TCT Tổng cục Thuế
DN Doanh nghiệp
GTGT Giá trị gia tăng
QTTT Quy trình thanh tra
CQ Cơ quan
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
CSSXKD Cơ sở sản xuất kinh doanh
NNT Người nộp thuế
NS Ngân sách
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, đất nước.
Với vai trò quan trọng của thuế, mọi quốc gia đều rất coi trọng chính sách
thuế và các biện pháp quản lý thuế. Quản lý thuế là hoạt động quản lý chuyên
ngành, là hoạt động tác động và điều hành hoạt động đóng thuế của người nộp
thuế. Trong hoạt động quản lý thuế, công tác thanh tra, kiểm tra là một nội
dung quan trọng, ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế của các đối tượng
trong xã hội, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần hoàn
thiện chính sách, pháp luật thuế và thực hiện kiểm soát, điều tiết các hoạt
động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
Công tác quản lý thuế hiện hành ở Nước ta đã và đang dần được hoàn
thiện, hiện đại hoá theo các Chương trình cải cách hệ thống thuế qua các giai
đoạn như “Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2001-2010”, “Chiến
lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020”… Qua giai đoạn đầu tiên
thực hiện Chiến lược cải cách hiện đại, ngành thuế Nước ta nói chung và
ngành thuế tỉnh Hà Giang nói riêng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Cục
thuế tỉnh Hà Giang luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường
xuyên của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân tỉnh Hà Giang; sự phối hợp thường xuyên, hiệu quả của các ngành, các
cấp trong công tác thuế; đại đa số người nộp thuế luôn phấn đấu vượt qua khó
khăn, thách thức để duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh và chấp hành tốt
pháp luật thuế. Đặc biệt với sự cố gắng nỗ lực của tập thể cán bộ, công chức,
Cục thuế tỉnh Hà Giang đã đề ra và triển khai đồng bộ, có hiệu quả những
1
nhiệm vụ trọng tâm, những biện pháp công tác, do vậy kết quả thu ngân sách
đã hoàn thành vượt mức dự toán được giao, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn
năm trước. Trong đó có đóng góp không nhỏ của công tác thanh tra, kiểm tra
thuế. Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Hà Giang
vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đặt ra
cho công tác quản lý thuế nói chung; công tác thanh tra, kiểm tra thuế nói
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn bao gồm 3 Chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế và nâng
cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý thuế ở Nước ta
hiện nay.
Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế
tỉnh Hà Giang thời gian qua.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra
tại Cục thuế tỉnh Hà Giang trong thời gian tới.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Giảng viên hướng dẫn PGT.TS Nguyễn Đình
Kiệm đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn cao học. Do giới hạn về
mặt thời gian và trình độ nghiên cứu, đề tài “Các giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Hà Giang” còn
nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý để đề tài luận văn cao học được
hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA
THUẾ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH
TRA, KIỂM TRA TRONG QUẢN LÝ THUẾ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và yêu cầu của hoạt động thanh tra, kiểm tra
thuế
1.1.1.1. Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong công tác
quản lý thuế nói chung và công tác đảm bảo tính tuân thủ của người nộp thuế.
Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế được hiểu đồng nhất trong quan điểm của
một số học giả trên thế giới: “Là hoạt động do cơ quan thuế tiến hành nhằm
làm rõ đúng sai, chỉ ra nguyên nhân, từ đó đưa ra biện pháp khắc phục, xử lý
những sai phạm.
Dù có những điểm tương đồng nhưng thanh tra, kiểm tra thuế có
những điểm khác nhau cơ bản:
Nội dung của cuộc thanh tra thường là trên phương diện rộng, phức tạp,
ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, cơ cấu tổ chức
phức tạp.
5
Hoạt động kiểm tra có phạm vi rộng hơn, diễn ra ở tất cả các hoạt động
kinh tế - xã hội và được thực hiện một cách thường xuyên liên tục. Hoạt động
thanh tra có phạm vi nhỏ hơn vì hoạt động thanh tra là hoạt động kiểm tra ở
giai đoạn sau khi các hoạt động kinh tế - xã hội đã phát sinh.
Về thời gian: thanh tra thường được tổ chức theo từng cuộc nên thời gian
thường kéo dài, theo quy định là không quá 30 ngày và có thể kéo dài thêm
trong trường hợp cần thiết, ngược lại kiểm tra thường thời gian ngắn hơn,
theo quy định là không quá 05 ngày.
Về hình thức tổ chức: Thanh tra khi tiến hành thường được lập thành
Đoàn và Đoàn thanh tra thực hiện việc thanh tra theo quy định. Ngược lại,
kiểm tra có thể lập hoặc không, và có khi chỉ cần một người thực hiện việc
kiểm tra theo yêu cầu của cấp trên.
Về biện pháp áp dụng: Thanh tra thường áp dụng các biện pháp mạnh
hơn (tạm giữ tang vật, tài liệu, khám nơi cất tang vật…).
Chủ thể thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuế.
Chủ thể thanh tra thuế là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước, còn
đối tượng thanh tra thuế là đối tượng quản lý của Nhà nước. Nhưng chủ thể
kiểm tra thuế có thể không đồng nhất hoặc đồng nhất với đối tượng kiểm tra.
Chủ thể kiểm tra thuế có thể là cơ quan nhà nước, có thể không phải là cơ
quan nhà nước.
Tính chất của thanh tra là một hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý
trung thực, xử lý đúng người, đúng tội. Đảm bảo được yêu cầu này cũng là
đảm bảo cho mục đích của thanh tra, kiểm tra là cán cân công lý trong việc
thực hiện sự công bằng, tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân.
7
- Thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ, kịp thời
tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia ý kiến. Đảm bảo công
khai, dân chủ là yêu cầu quan trọng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế vì
thông qua đó phát huy được sức mạnh và vai trò quần chúng nhân dân trong
công tác giám sát tuân thủ pháp luật. Yêu cầu kịp thời nhằm khắc phục yếu
kém, bất cập trong quản lý nhà nước, ngăn chặn hành vi tiêu cực, tránh tổn
thất.
- Thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo thực hiện đúng các luật thuế,
ngăn ngừa, loại trừ các hành vi trốn, lậu thuế.
1.1.2. Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra thuế
Bất kỳ một hoạt động kinh tế - xã hội hay hoạt động quản lý nhà nước
nào cũng đều phải tuân theo những nguyên tắc nhất định. Trong đó, hoạt động
thanh tra, kiểm tra phải tuân theo những nguyên tắc sau:
1.1.2.1. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Thanh tra, kiểm tra thuế là kiểm tra việc thực hiện pháp luật do đó phải
tuân theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật đề cao
trách nhiệm của chủ thể thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực của công tác
thanh tra, kiểm tra thuế; ngăn chặn tình trạng làm trái pháp luật, vô hiệu hoá
hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế.
Các cơ quan, cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng chức
năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định; xem xét sự đúng sai của
đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào quy định của pháp luật, không tuân theo ý
kiến của bất cứ cơ quan nào.
1.1.2.2. Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan
Nguyên tắc trung thực, chính xác, khách quan đóng vai trò rất quan
cao trong quá trình thanh tra, kiểm tra.
9
1.1.2.5. Nguyên tắc hiệu quả
Nguyên tắc hiệu quả là nguyên tắc được đặt ra trong hầu hết các hoạt
động quản lý. Trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế, nguyên tắc hiệu quả
phải được chú trọng, hiệu quả được xác định trên cơ sở so sánh giữa kết quả
đạt được với nguồn lực chi phí đã bỏ ra hoặc được xem xét trên cơ sở tác
động thực tế của hoạt động này đến các mục tiêu quản lý thuế.
1.1.2.6. Nguyên tắc bảo vệ bí mật:
Những cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế thường xuyên tiếp cận với nhiều
vấn đề, nhiều tài liệu bí mật, bí quyết kinh doanh của doanh nghiệp, bí mật
quốc gia. Việc giữ bí mật thông tin được phản ánh trong hồ sơ khai thuế của
người nộp thuế trừ các trường hợp công khai thông tin vi phạm pháp luật về
thuế của người nộp thuế theo quy định tại Điều 74 Luật Quản lý thuế. Nếu
những thông tin bí mật bị lộ thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích tổ chức,
quốc gia. Các cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế chỉ được báo cáo cho những
người có thẩm quyền biết, đảm bảo tính bí mật đối với những thông tin quan
trọng trong quá trình thanh tra, kiểm tra.
1.1.3. Phân loại thanh tra, kiểm tra về thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế cũng được phân chia thành nhiều loại khác
nhau theo những tiêu thức khác nhau.
1.1.3.1. Theo yếu tố thời gian
Thanh tra, kiểm tra thường xuyên: Đối với cùng một đối tượng, loại hình
này thường diễn ra ở kiểm tra thường xuyên, chủ yếu là tự kiểm tra trong các
đơn vị ngành thuế;
Thanh tra, kiểm tra bất thường: Là một trong những hình thức chủ yếu
của thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công
dân; thường được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ
quan có chức năng thanh tra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra.
+ Địa điểm tiến hành: Thường ở trụ sở của người nộp thuế chứ không
phải ở cơ quan thuế.
+ Thời gian: Thời gian thanh tra, kiểm tra toàn phần một đối tượng nộp
thuế lớn thường là 60 ngày, đối tượng nộp thuế vừa thường là 30 ngày.
1.1.3.3. Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra
Thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế: Công tác kiểm tra các hồ
sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh được thực
hiện tại cơ quan thuế;
Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc thanh tra, kiểm tra
được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế; cho phép cán bộ thanh tra, kiểm
tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở kinh doanh như các
sổ sách, chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản phẩm tồn kho thực tế…
1.1.4. Nội dung công tác thanh tra, kiểm tra thuế
1.1.4.1. Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế
Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế bao gồm các nội dung sau:
* Thanh tra, kiểm tra đăng ký thuế:
Nội dung thanh tra, kiểm tra đăng ký thuế là xem xét trên từng địa bàn,
trong từng loại ngành nghề có bao nhiêu doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoạt
động sản xuất kinh doanh; số lượng đơn vị đã đăng ký và chưa đăng ký thuế.
Với mỗi cơ sở kinh doanh, khi thanh tra, kiểm tra cần đi sâu xem xét
tính pháp lý của đăng ký thuế; kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu
kê khai trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm ngành
nghề kinh doanh, hình thức kế toán áp dụng, tài khoản giao dịch, nhằm phát
hiện, xử lý gian lận trong đăng ký thuế.
* Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành sổ sách kế toán, chế độ hóa đơn,
chứng từ:
12
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành sổ sách, kế toán, chế độ hoá
hoàn thuế, đôn đốc thu nộp thuế,
+ Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức xây dựng dự toán, phân bổ dự toán,
tổ chức thực hiện dự toán thu thuế của cơ quan thuế các cấp;
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán thuế, gồm: Kế
toán thu nộp tiền thuế, kế toán ấn chỉ, kế toán hàng tạm giữ và tịch thu;
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán thu nộp tiền thuế
của cơ quan thuế, gồm: Kiểm tra việc chấp hành những quy định về sử dụng
biên lai, ấn chỉ thuế, tổ chức đối chiếu giữa cơ quan thuế và Kho bạc;
+ Thanh tra, kiểm tra việc cấp phát sử dụng, thanh toán, quyết toán,
bảo quản ấn chỉ và việc in ấn các loại ấn chỉ thuế (nếu có), ;
+ Kiểm tra việc xử lý các vi phạm về thuế, về hàng hoá tạm giữ, tịch
thu, gồm: Kiểm tra về phạm vi, thẩm quyền xử lý; căn cứ xử phạt, thủ tục xử
lý theo quy định; kiểm tra việc bán đấu giá và tiêu huỷ hàng hoá, tang vật tịch
thu theo quy định; kiểm tra việc tổ chức cưỡng chế thuế.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, quản lý thu chi
tài chính:
+ Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ sổ sách kế toán, bao gồm:
Kiểm tra tính pháp lý của các chứng từ kế toán, kiểm tra việc chấp hành quy
chế quản lý luân chuyển nội bộ, quy chế kiểm tra, xét duyệt chứng từ kế toán,
kiểm tra việc mở và ghi chép sổ kế toán, khóa sổ kế toán, bảo quản và lưu trữ
sổ kế toán;
+ Thanh tra, kiểm tra việc lập dự toán kinh phí, sử dụng kinh phí do
Nhà nước cấp phát;
14
+ Thanh tra, kiểm tra việc trích lập, sử dụng quỹ của Ngành, căn cứ
trích quỹ, tỷ lệ trích, số tiền được trích quỹ, số đã tạm trích, việc phân phối sử
dụng quỹ,
Thanh tra, kiểm tra việc tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo:
+ Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện tổ chức tiếp dân, tiếp nhận các
chất là việc phân loại, đánh giá người nộp thuế dựa trên hệ thống những tiêu
thức rủi ro về thuế nhằm xác định những người nộp thuế có mức độ tuân thủ
thấp và khả năng gian lận cao về thuế để tập trung nguồn lực thanh tra, kiểm
tra theo nguyên tắc ưu tiên nguồn lực để thanh tra, kiểm tra những người nộp
thuế có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng
xảy ra nhất.
Vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế phải
tuân theo những nguyên tắc nhất định và phải theo một quy trình cụ thể. Quy
trình được xây dựng trong công tác quản lý rủi ro bao gồm 7 bước. Bao gồm:
Bước 1: Xác định hoàn cảnh có thể xảy ra rủi ro;
Bước 2: Nhận diện rủi ro, bao gồm bản thân rủi ro và nguyên nhân của rủi ro;
Bước 3: Đánh giá rủi ro;
Bước 4: Xử lý rủi ro tiềm ẩn (Loại bỏ rủi ro, Giảm thiểu rủi ro, Chia sẻ rủi ro,
Chấp nhận rủi ro);
Bước 5: Xây dựng kế hoạch quản lý rủi ro, nhằm đối phó hoặc kiểm soát phù
hợp để xử lý từng rủi ro;
Bước 6: Thực hiện kế hoạch quản lý rủi ro;
Bước 7: Rà soát, đánh giá kế hoạch quản lý rủi ro.
1.1.5.2. Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử
dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế.
16
Cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế cần tiến hành đối chiếu, so sánh các nội
dung cần thanh tra, kiểm tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực
của nội dung cuộc kiểm tra: Đối chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị được kiểm
tra với các đơn vị khác; đối chiếu giữa báo cáo kế toán với sổ kế toán, giữa sổ
tổng hợp với chi tiết, giữa số liệu và chứng từ, giữa số liệu báo cáo và thực tế,
giữa nội dung tài liệu, báo cáo sổ sách, chứng từ với chuẩn mực…
1.1.5.3.Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết
pháp luật về thuế bao gồm cơ chế, chính sách pháp luật của nhiều sắc thuế
khác nhau và thay đổi theo tình hình kinh tế - xã hội và theo các chính sách
thuế quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Về cơ bản, mỗi chính
sách thuế khi ban hành đều phải được nghiên cứu kỹ và căn cứ trên tình hình
thực tế. Tuy nhiên, do chính sách thuế còn nhiều hạn chế nên trong quá trình
thực thi vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Công tác thanh tra, kiểm tra thuế chính
là công cụ cung cấp các căn cứ, bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân
thực, chính xác các diễn biến về tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của người
nộp thuế. Thông qua đó, chính sách thuế sẽ được bổ sung, hoàn thiện cho phù
hợp với tình hình thực tế.
Thanh tra, kiểm tra thuế là phương tiện ngăn ngừa, răn đe các hành vi vi
phạm pháp luật thuế. Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở phân tích
thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp
luật thuế của người nộp thuế, thu thập và xác minh các chứng cứ để xác định
hành vi vi phạm pháp luật thuế. Theo đó, công tác thanh tra, kiểm tra thuế vừa
phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật thuế, vừa sử dụng các biện pháp
chế tài, các quyết định hành chính nhằm xử lý và răn đe hành vi vi phạm pháp
luật thuế.
18
Thanh tra, kiểm tra thuế góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra thuế giúp phát hiện các trường hợp
trốn, tránh, lách thuế của người nộp thuế, góp phần tăng thu rất lớn cho ngân
sách nhà nước.
Như vậy, thanh tra, kiểm tra giúp hoàn thiện công tác triển khai thực
hiện pháp luật thuế, đồng thời với việc triển khai thực hiện các thủ tục hành
chính thuế. Thông qua hoạt động thanh tra, kỉểm tra thuế phát hiện những
hành vi vi phạm pháp luật thuế để kịp thời chấn chỉnh, góp phần tăng thu
ngân sách nhà nước.
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra trong
* Xuất phát từ yêu cầu đảm bảo tính tuân thủ chính sách pháp luật
thuế của người nộp thuế
Tăng cường hoạt động quản lý đối với người nộp thuế nhằm đảm bảo
hoạt động thu, nộp thuế đúng pháp luật. Một trong những điểm hiện đại trong
quản lý thuế thể hiện ở tự khai tự nộp thuế, tôn trọng tính tự giác của người
nộp thuế. Sự quản lý của cơ quan thuế được chuyển sang theo hướng tập
trung vào kiểm tra, kiểm soát kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế phù hợp với
quy định của pháp luật. Điều đó đòi hỏi tính tuân thủ của người nộp thuế phải
cao đối với việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước; đồng thời hệ thống
các văn bản pháp luật thuế phải đầy đủ, rõ ràng, phù hợp, chế tài phải đủ
mạnh để xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật thuế. Với tình hình hiện nay,
trình độ chuyên môn, ý thức tự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế
còn hạn chế, luôn tìm cách tránh, trốn và lách thuế đòi hỏi công tác thanh tra,
kiểm tra phải luôn hoàn thiện để kịp thời phát hiện các trường hợp vi phạm
luôn thay đổi, xử phạt nghiêm minh, có tác dụng răn đe. Khi đó, sự tuân thủ
pháp luật thuế của người nộp thuế mới được nâng cao.
20
* Xuất phát từ yêu cầu tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước;
đảm bảo công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế
Chính sách thuế phải được xây dựng sao cho phù hợp với tình hình kinh
tế - xã hội, phù hợp với chính sách thuế quốc tế; đồng thời phải đảm bảo cho
số thu vào ngân sách nhà nước là nhiều nhất. Thông qua thanh tra, kiểm tra
giúp phát hiện sai phạm về thuế, truy thu thuế, giúp tăng nguồn thu. Công tác
thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng và quản lý thuế nói chung phải thực hiện thu
đúng, thu đủ; kiểm soát được tất cả các đối tượng chịu thuế. Để đảm bảo các
mục tiêu hệ thống thuế đề ra trong từng giai đoạn kinh tế - xã hội, công tác
thanh tra, kiểm tra cũng phải luôn hoàn thiện, sao cho đảm bảo được về mặt
chuyên môn, đồng thời phương pháp thanh tra, kiểm tra được thiết lập sao
cho thanh tra, kiểm tra đạt hiệu quả cao nhất, tăng nguồn thu lớn cho ngân