Các nhân tố của lạm phát ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán - Pdf 25

Phạm Văn Dũng
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Lời mở đầu 2
I/Lạm phát 3
II/ Nguyên nhân lạm phát 6
1/ Nguyên nhân chung 6
a. Nguyên nhân bên ngoài: 8
b. Nguyên nhân bên trong: 9
III. Ảnh hưởng của lạm phát 12
c/ Ảnh hưởng của lạm phát tới thị trường chứng khoán 18
Các nhân tố của lạm phát ảnh hưởng tới Thị trường chứng khoán 19
Nhân tố giá cả 19
1
Phạm Văn Dũng
Lời mở đầu
Khi cô giảng cho chúng em nghe về lạm phát cô nói rằng có thể hình
dung lạm phát là hình ảnh người ta phải chở một xe đầy tiền đi mua hàng và
mục tiêu của tên trộm không phải là tiền trên chiếc xe đó mà là chiếc xe.
Hình ảnh này đã để lại trong em một ấn tượng rất sâu sắc. Chính những hình
ảnh ấy đã thôi thúc trong chúng em một câu hỏi: Lạm phát thực chất là gì?
Nguyên nhân nào dẫn đến lạm phát? Ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế
như thế nào? Có thể kiềm chế được lạm phát hay không?
Câu hỏi ấy càng thôi thúc chúng em khi hàng ngày trên báo, đài, các
phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện liên tiếp các bài bình luận về “tình
hình lạm phát ở Việt Nam”, “Ảnh hưởng của lạm phát tới nền kinh tế của
Việt Nam”… Như vậy lạm phát không phải ở đâu xa, chúng ta đang sống
trong lạm phát, lạm phát đang từng ngày từng giờ ảnh hưởng đến cuộc sống
của tất cả chúng ta. Vì vậy chúng em đã cùng nhau tìm hiểu về chủ đề này.
2
Phạm Văn Dũng

0
)/CPI
0
Trong đó: CPI: Giá hàng tiêu dùng năm nghiên cứu
4
Phạm Văn Dũng
CPI
0
: Giá hàng tiêu dùng năm trước năm nghiên cứu
G
p
: Tỷ lệ lạm phát.
2/Phân loại lạm phát
Lạm phát được chia thành 3 loại:
+ Lạm phát vừa phải: lạm phát dưới 10%/năm
+Lạm phát phi mã: lạm phát 2 con số/năm
+Siêu lạm phát: lạm phát 3(hoặc 4) con số/năm
5
Phạm Văn Dũng
II/ Nguyên nhân lạm phát
1/ Nguyên nhân chung
Nguyên nhân của lạm phát có thể kể đến những nguyên nhân sau:
Thứ nhất lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp
tiền tệ mở rộng, phản ánh thâm hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm
hụt bằng tiền tệ, thường là cội rễ của lạm phát cao. Một ví dụ kinh điển đó là
những trận siêu lạm phát ở áo và Đức những năm 20 do mở rộng tiền tệ thái
quá.
Thứ hai lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát
triển ngay cả khi thất nghiệp và việc sử dụng nguồn lực còn thấp. Vì tiền
lương (tiền công) thường là chi phí sản xuất quan trọng nhất, sự gia tăng tiền

vàng, giá lương thực thực phẩm… từ đó tác động xấu đến giá cả ở VN. Giá
cả thị trường thế giới liên tục tăng cao, xăng dầu tăng ,sắt thép , phân bón ,
lúa mì đều tăng, sợi, bông, chất dẻo, … Đồng thời những mặt hàng nước ta
xuất khẩu (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, điều…) cũng xuất với giá tăng rất
cao, đặc biệt là giá lương thực phẩm tăng trên 30%, nên giá thu mua cũng
tăng, từ đó làm ảnh hưởng lớn đến giá cả chung trong nước, vả lại khi tính
chỉ số CPI thì con số lương thực thực phẩm ở ta chiếm tỷ lệ cao (42,85%),
nhà ở vật liệu xây dựng chiếm 10%, giá xăng dầu trong năm 2007 tăng
nhanh, giá vàng thế giới va trong nước tăng rất cao, ảnh hưởng gián tiếp là
tác động tâm lý đến các loại giá khác, nên CPI tăng mạnh.
8
Phạm Văn Dũng
Tổng kim ngạch nhập khẩu của nước ta hiện nay trên 88% so với GDP vì
nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào nguyên nhiên vật liệu thế
giới.Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2007 là 111,3 tỷ USD chiếm
156% GDP. Vì vậy khi đồng USD mạnh (năm 1991, năm 1997-1998) ta gặp
khó khăn (vì nhập siêu), USD yếu như hiện nay ta cũng khó khăn. Các nước
đã quen với sự tăng giảm của USD, họ hội nhập trước chúng ta nên đã có
nhiều kinh nghiệm và cũng đã khủng hoảng nhiều. Vì vậy, việc điều chỉnh tỷ
giá theo hướng giảm giá USD là sự điều chỉnh theo tín hiệu thị trường quốc
tế, chứ không phải là ta muốn tăng giá VND, vì không có chính phủ nào
muốn tăng giá đồng bản tệ. Đơn vị xuất khẩu phải hiểu rằng đó là sự điều
chỉnh và phải chia sẻ với khó khăn của nhiều người về căn bệnh lạm phát,
điều quan trọng mà đơn vị xuất khẩu kêu to là ngân hàng không mua USD,
nên không có VND để thu mua, mua chậm giá càng cao. Hiện nay NHNN đã
mua hết nhưng đơn vị không bán nữa vì USD có dấu hiệu tăng giá trong
tương lai. Theo tôi, nếu NHNN VN chủ động điều chỉnh tỷ giá linh hoạt
theo hướng giảm giá USD từ tháng 9/2007 như nhiều nước, thì việc kiềm
chế lạm phát sẽ đở tốn kém.
b. Nguyên nhân bên trong:

cũng sẵn lòng cho vay đối với những nhà đầu cơ trong lĩnh vực này. Nguồn
vốn huy động ngắn hạn của ngân hàng được đổ vào thị trường vốn dài hạn
nhiều rủi ro, nếu bong bóng bất động sản có vấn đề thì rủi ro tín dung là rất
lớn. Điều cần lưu ý, một trong những nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng cao
trong năm 2007 là do các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ lên nhanh.
11
Phm Vn Dng
Thiờn tai, ma bóo, l lt, nhng t rột m, rột hi cỏc tnh phớa Bc
gõy thit hi nng n: con ngi, ti sn, t trng, lng thc thc phm v
dch bnh (SARS, cỳm gia cm) nh hng n giỏ c thc phmnh
hng n gim tng cung.
Chi phớ sn xut hng húa dch v cha hp lý, sc cnh tranh cỏc sn
phm trong nc khụng cao, hiu qu kinh t thp.
Mt trong nhng nguyờn nhõn cng gúp phn vo mc lm phỏt gia tng
ti VN hin nay l yu t tõm lý ca ngi dõn (cn kim soỏt thụng tin).
c bit l yu t u c, gm hng, lm giỏ rt kinh nghim (vỡ ta ó
nhiu ln b lm phỏt) ca cỏc n v cung cp hng húa dch v, cỏc i lý
bỏn l ti VN.
III. nh hng ca lm phỏt
Triển khai thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ IX của
Đảng, cần phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc vì mục tiêu dân giàu, nớc
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tăng trởng bền vững và ổn định
lạm phát ở mức thấp đó là những mục tiêu hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất
cả các nớc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi câu hỏi có sự tồn tại và bản
chất của mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trởng kinh tế đã đợc các nhà
kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan tâm và trở thành trung tâm của
nhiều cuộc tranh luận về chính sách.
12
Phm Vn Dng

được thương hiệu của sản phẩm trên thị trường thế giới, tạo được uy tín
thương hiệu. Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng lợi thế cho xuất
khẩu.Hàng hóa xuất khẩu của nước ta hiện nay chủ yếu là: gạo, nông sản, đồ
hộp, giầy da, may mặc. Tuy nhiên doanh thu từ xuất khẩu của nước ta còn
thấp và chưa ổn định do sản phẩm của ta chưa có thương hiệu vững chắc
trên thị trường. Làm tốt vấn đề thương hiệu là lối ra cho xuất khẩu Việt
Nam.
Lạm phát vừa phải thường tương đồng với một tỷ lệ thất nghiệp nhất
định. Đó là yếu tố buộc người lao động muốn có việc làm phải nâng cao
trình độ chuyên môn, cạnh tranh chỗ làm việc. Như vậy người sử dụng lao
động có cơ hội tuyển chọn được lao động có chất lượng cao hơn.
14
Phm Vn Dng
Nhỡn chung, lm phỏt va phi cú tỏc ng tớch cc ti s phỏt trin
ca nn kinh t -xó hi. Tuy nhiờn duy trỡ t l lm phỏt ny ũi hi chớnh
ph phi t chc v qun lý kinh t v mụ nng ng v hiu qu
Trên cơ sở khuôn khổ lý thuyết, kinh nghiệm quốc tế diễn biến lạm
phát và tăng trởng kinh tế của Việt Nam những năm qua, nhiều học giả cho
rằng mức lạm tối u đối với Việt nam có thể nằm trong khoảng 5-7% năm.
2/nh hng ca lm phỏt phi mó v siờu lm phỏt
Lm phỏt phi mó v siờu lm phỏt cú nh hng xu v rt xu n tõt
c cỏc lnh vc trong nn kinh t quc dõn. nh hng ca nú cú th c
khỏi quỏt trong cỏc khớa cnh sau:
a/Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ rất
nhanh, khi đó ngời dân sẽ ồ ạt bán nội tệ để mua ngoại tệ. Tệ nạn tham
nhũng tăng cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu cơ trái phép
tăng nhanh, trốn thuế và thuế không thu đợc đã gây ra tình trạng nguồn thu
của nhà nớc bị tổn hại nặng nề càng làm cho thâm hụt ngân sách trầm trọng
dẫn đến tỷ lệ lạm phát cao, ngời dân không tin vào chính sách của chính phủ,
tình trạng thất nghiệp tăng. Thất nghiệp tăng dẫn đến gia tăng tệ nạn xã hội

đưa lãi suất huy động gần sát lãi suất tín dụng, kinh doanh ngân hàng lỗ lớn
nhưng vẫn thực hiện, gây ảnh hưởng bất ổn cho cả hệ thống NHTM.
Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt
chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn
của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ
có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc
những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do
lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm
xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. Do
sức mua của đồng Việt Nam giảm, giá vàng và ngoại tệ tăng cao, việc huy
động vốn có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên thật sự khó khăn đối với mỗi ngân
hàng, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn đối với các khách hàng rất
lớn, vì vậy việc dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn trong thời
gian qua tại mỗi ngân hàng là không nhỏ. Điều này đã ảnh hưởng đến tính
thanh khoản của các ngân hàng, nên rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá xảy ra là
điều khó tránh khỏi.
17
Phạm Văn Dũng
Do lạm phát cao, không ít doanh nghiệp cũng như người dân giao dịch
hàng hóa, thanh toán trực tiếp cho nhau bằng tiền mặt, đặc biệt trong điều
kiện lạm phát, nhưng lại khan hiếm tiền mặt. Theo điều tra của Ngân hàng
thế giới (WB), ở Việt Nam có khoảng 35% lượng tiền lưu thông ngoài ngân
hàng, trên 50% giao dịch không qua ngân hàng, trong đó trên 90% dân cư
không thanh toán qua ngân hàng. Khối lượng tiền lưu thông ngoài ngân hàng
lớn, NHNN thực sự khó khăn trong việc kiểm soát chu chuyển của luồng
tiền này, các NHTM cũng khó khăn trong việc phát triển các dịch vụ phi tín
dụng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Vốn tiền thiếu, nhiều
doanh nghiệp thực hiện mua chịu, bán chịu, công nợ thanh toán tăng, thoát
ly ngoài hoạt động.
Như vậy lạm phát tăng cao đã làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị

làm cho thị trường chứng khoán trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà
đầu tư.
Dễ thấy, chính bản thân các doanh nghiệp cũng cần vay tiền từ ngân
hàng thương mại để duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất. Một khi các
khoản vay từ ngân hàng trở nên đắt hơn thì các doanh nghiệp sẽ có tâm lý
ngại vay tiền và thực tế thì họ phải trả lãi suất cao hơn cho các khoản vay.
Với một doanh nghiệp trong thời kỳ tăng trưởng thì điều này có thể tác động
nghiêm trọng, doanh nghiệp phải thu hẹp phạm vi hoạt động và kết quả là lợi
nhuận bị giảm sút.
Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một doanh
nghiệp chính là đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu
về hiện tại. Lấy giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phần đang lưu
hành ta có giá trị một cổ phần. Giá chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ
vọng khác nhau của nhà đầu tư về công ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó
mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau.
Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi
phí đầu tư tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì
chi phí vay nợ tăng cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì
dòng tiền tương lai được dự đoán sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ phần của
doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số lượng doanh nghiệp trên thị trường
20
Phạm Văn Dũng
chứng khốn có sự sụp giảm này đủ lớn thì xét tồn bộ thị trường, chỉ số thị
trường chứng khốn sẽ giảm.
• Nhân tố lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và
ngược chiều nhau. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi
lãi suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng
lớn, do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Do đó, giữa lãi suất thị trường
và lãi suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao

nhưng số tiền mà họ có lúc này có giá trị thật và người tiêu dùng có thể mua
22
Phạm Văn Dũng
các hàng hóa đang bắt đầu xuất hiện trong các cửa hàng. Cùng với cung
hàng hóa tăng lên, giá cả trở nên ổn định và không còn thấy những dòng
người xếp hàng vì người tiêu dùng nhận ra rằng sẽ ngày càng có thêm nhiều
loại hàng hóa phong phú tiếp tục được bán ra.
Các doanh nghiệp và nhà đầu tư phản ứng trước sự tự do kinh tế mới
bằng việc khởi sự công việc kinh doanh mới và cạnh tranh với nhau trong
việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ, do đó tạo ra công việc, mở rộng lượng
cung và làm giá cả ổn định hơn.
Yếu tố then chốt trong sự chuyển đổi này là chính phủ từ bỏ vai trò của
mình trong việc áp đặt giá cả và cho phép các lực lượng thị trường là cung
và cầu xác lập giá cả đối với hầu hết các loại hàng hóa và dịch vụ. Khi một
thị trường tự do như vậy hình thành, lạm phát có thể vẫn kéo dài nhưng vấn
đề này dễ quản lý hơn nhiều và bớt đi tính đe dọa so với những ngày đầu
khó khăn của quá trình chuyển đổi.
Sự tàn phá và đau khổ do một cơn bùng nổ tăng giá gây ra trong một
nền kinh tế chuyển đổi (được gọi là siêu lạm phát) rất rõ ràng đối với tất cả
mọi người. Tuy nhiên, mức lạm phát thấp hơn điển hình trong nền kinh tế thị
trường có thể trở thành vấn đề hay không? Liệu mọi người có giàu lên chăng
khi không có lạm phát và giá cả cũng như thu nhập vẫn thấp như cách đây
100 năm? Chưa chắc. Nếu thu nhập của Robert và Maria tăng gấp 10 lần và
23
Phạm Văn Dũng
giá cả của mọi thứ cũng tăng lên như vậy thì họ chẳng khấm khá hơn so với
trước đó.
Lý do mà người dân trong nền kinh tế thị trường quan tâm đến lạm phát
trong những khoảng thời gian ngắn hơn là vì khi giá cả tăng lên, thu nhập và
sự giàu có được phân phối lại theo một cách tùy ý không liên quan đến sản

cân bằng được giữa nhu cầu khuyến khích tăng trưởng kinh tế và sự đòi hỏi
phải kiểm soát được lạm phát
b/ Ảnh hưởng của lạm phát của các nền kinh tế khác tới nền kinh tế của Việt
Nam.
Khủng hoảng tài chính thế giới tác động đến kinh tế Việt Nam trên
sáu phương diện.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status