Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC
LƢƠNG THỊ VY
THỰC TRẠNG HÀNH VI LÂY NHIỄM HIV/AIDS
VÀ YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HÀNH VI LÂY NHIỄM
Ở NGƢỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÖY
TẠI THÀNH PHỐ BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án do
tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu khoa
học nào.
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Học viên Lƣơng Thị Vy
ii
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành quá trình học tập và hoàn thành luận án tốt nghiệp, với lòng
kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin trân trọng cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận án.
Với lòng biết ơn chân thành nhất, em xin gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn Thị
Quỳnh Hoa. Phó trưởng Bộ môn SKMT – SKNN trường Đại học Y – Dược Thái
Nguyên đã dày công, tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận án tốt nghiệp.
Các thày, cô Khoa y tế công cộng đã giảng dạy, hướng dẫn, tạo điều kiện
giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế, Ban Giám đốc Trung tâm Phòng,
chống HIV/AIDS Bắc Giang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình hoạc tập.
Cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Y tế Thành phố Bắc Giang, Trạm y Tế phường
Trần Nguyên Hãn, Ngô Quyền, Mỹ Độ, Lê lợi . Cảm ơn lãnh đạo UBND phường Trần
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 31
2.2. Phương pháp nghiên cứu 31
ứu 33
2.4. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 35
2.5. Đạo đức nghiên cứu 37
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 37
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1.Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc
Giang năm 2013 - 2014 38
3.2. Hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT 40
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm ở người NCMT 48
iv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Chƣơng 4: BÀN LUẬN 54
4.1.Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS ở người NCMT tại thành phố Bắc
Giang năm 2013-2014 54
4.2. Yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lây nhiễm HIV/AIDS của người NCMT 58
KẾT LUẬN 61
KIẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO
iv
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AIDS
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện
TCCĐ
Tiếp cận cộng đồng
WHO
“ World hedlth organization” Tổ chức Y tế thế giới
TPBG
Thành phố Bắc Giang
v
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.2. /AIDS của người nghiện chích ma túy tại thành
phố Bắc Giang của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.3. Nơi ở của người NCMT tại thành phố Bắc Giang 39
Bảng 3.4. Kiến thức của người nghiện chích ma túy tại thành phố Bắc Giang
về hành vi lây nhiễm HIV/AIDS 40
Bảng 3.5. Thời gian, hút hít và tiêm chích ma túy của người NCMT 41
Bảng 3.6. Đặc điểm hành vi tiêm chích ma tuý 41
Bảng 3.7. Tỷ lệ người NCMT không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục
với các đối tượng 44
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa nhóm tuổi của người nghiện chích ma túy với
hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm tại thành phố Bắc Giang 44
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa nghề nghiệp với hành vi sử dụng chung BKT
của người NCMT túy tại thành phố Bắc Giang 45
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân của chích ma túy tại với
hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm của người NCMT tại thành
mạng, sức khoẻ con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân
tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự
và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. HIV/AIDS
hiện nay đã trở thành đại dịch trên phạm vi toàn thế giới. Số người nhiễm
HIV và chết do căn bệnh này gây nên ngày càng gia tăng. Hàng năm, trên thế
giới có hàng triệu người mắc và chết do căn bệnh thế kỷ này. Trong những
năm gần đây do sự gia tăng của tệ nạn ma tuý, đặc biệt là sự chuyển đổi hình
thức sử dụng ma tuý từ hút, hít sang tiêm chích ngày càng tăng đã kéo theo sự
bùng phát HIV/AIDS ở nhiều châu lục, đặc biệt là châu Á. Số người nghiện
chích ma tuý nhiễm HIV chiếm 76% tổng số người nhiễm HIV ở Malaysia;
64% ở Việt Nam; 55% ở Myama và 50% Ở Trung Quốc. Ở Việt Nam từ 1
trường hợp bị nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/1990 tại thành
phố Hồ Chí Minh, chỉ sau đó 8 năm, tháng 12/1998 toàn bộ 61/61 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung Ương đều phát hiện có người nhiễm HIV.
Theo Bộ Y tế, tính đến hết ngày 31/5/2013, số trường hợp HIV hiện
còn sống là 213.413 trường hợp. Số bệnh nhân AIDS còn sống là 63.373
trường hợp và hơn 65 nghìn trường hợp tử vong do AIDS. Tỷ lệ nhiễm HIV
toàn quốc theo báo cáo là 243 người trên 100.000 dân. Tỉnh Điện Biên vẫn là
địa phương có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất cả nước (1015,8),
tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (677), thứ 3 là Thái Nguyên (610,6). Tác
hại của dịch chủ yếu tập trung vào các nhóm hành vi nguy cơ cao, nhóm
nghiện chích ma túy (NCMT), phụ nữ bán dâm (PNBD) [24].
Tại tỉnh Bắc Giang tính đến 31/12/2013 số người nhiễm HIV tích lũy
2548 người, bệnh nhân AIDS là 1637 người và 1015 người tử vong do AIDS.
Đến nay cả 10 huyện, thành phố với 191/230 xã, phường, thị trấn (83%) có
người nhiễm, kể cả các xã vùng sâu, vùng xa [4].
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS
1.1.1. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV /AIDS trên thế giới
Đại dịch HIV/AIDS tuy mới xuất hiện từ những năm đầu của thập kỷ
80 của thế kỷ 20 nhưng đã nhanh chóng lan ra khắp toàn cầu. Lúc đầu dịch
xảy ra chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển như Bắc Mỹ, Tây Âu, tại
những thành phố lớn, ở những người đồng tính luyến ái và tiêm chích ma tuý.
Đến nay, HIV/AIDS không loại trừ bất cứ nhóm xã hội nào, một quốc gia
nào, dù là nước có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thật tiên tiến như Mỹ, Pháp,
Đức hay những quốc gia chậm phát triển như Zimbabwe, Nigeria và hiện
tại đại dịch HIV/AIDS đã bắt đầu chuyển trọng điểm từ Châu Phi sang Nam
Á và Đông Nam Châu Á. Cho đến nay, đại dịch HIV/AIDS đã, đang phát
triển và lây lan rộng khắp trên thế giới [10].
Trải qua hơn 30 năm đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS, các quốc gia
trên thế giới đã và đang phải đương đầu với một đại dịch có tính chất hết sức
nguy hiểm. Tính đến cuối năm 2009, UNAIDS và WHO đã công bố có
khoảng 46 triệu người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống, 5,8 triệu người mới
nhiễm trong năm và 0,5 triệu người tử vong do AIDS trong năm. Tại nhiều
nước đang phát triển, phần lớn các trường hợp nhiễm mới là thanh niên.
Khoảng 1/3 trong tổng số những người hiện đang bị nhiễm HIV/AIDS ở độ
tuổi 15-24, phần lớn trong số họ không biết mình đang mang vi rút HIV.
Hàng triệu người hầu như không biết hoặc biết rất ít về HIV/AIDS để tự bảo
vệ mình chống lại căn bệnh này. Theo báo cáo của UNAIDS và WHO, khu
vực cận Sahara có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao nhất, tiếp đến là Châu Á- Thái
Bình Dương [45].
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Tại Trung Quốc, UNAIDS và WHO ước tính có khoảng 1, 5 triệu
người bị nhiễm HIV/AIDS, trong đó có 850.000 người lớn, 220.000 là phụ
nữ. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tuổi từ 15 - 24 theo ước tính vào khoảng
0,20%. Trong 6 tháng đầu năm 2001 số lượng người bị nhiễm HIV tăng
67,4% so với năm 2000. Đường lây truyền của dịch HIV tại Trung Quốc chủ
yếu là do TCMT. Vào năm 2000, 7 tỉnh của Trung Quốc đã phải đối mặt với
nguy cơ lan tràn dịch HIV, hơn 70% số người TCMT bị HIV dương tính ở
một số khu vực như quận Yili ở Xingjiang và quận Ruili ở Vân Nam [40].
* Thực trạng lây nhiễm HIV ở người nghiện ma túy
Mặc dù trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trong nhóm
người đồng tính luyến ái, không phải trong nhóm NCMT, nhưng đến năm
1993 đã có 52 nước trên thế giới công bố có người NCMT nhiễm HIV và đến
năm 2010, sự liên quan giữa lây nhiễm HIV với tiêm chích đã được ghi nhận
ở 182 nước [35].
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một khi có HIV dương tính
trong cộng đồng người nghiện chích ma tuý, tỷ lệ nhiễm (xét nghiệm huyết
thanh dương tính) rất nhanh trừ khi có biện pháp phòng ngừa thích hợp được
áp dụng ngay lập tức như chương trình tiếp cận cộng đồng, cung cấp BKT
sạch, phân phát BCS. Thêm vào đó, người NCMT nhiễm HIV lại có những
quan hệ tình dục với nhiều người khác làm cho nguy cơ lây lan trong cộng
đồng tăng cao.
Tỉ lệ phụ nữ bị nhiễm HIV tăng cao hầu hết là do quan hệ tình dục với
đàn ông NCMT nhiễm HIV. Các tụ điểm tiêm chích giữ vai trò rất quan trọng
trong tiến trình lây nhiễm [33].
Tỷ lệ hành vi nguy cơ liên quan đến HIV trong 12 tháng trước đó
thường giảm theo tuổi. Tỷ lệ người NCMT có trình độ học vấn dưới trung học
phổ thông dùng chung bơm tiêm cao hơn (38%) so với những người NCMT
(41%) ở Sukkur. Ở Hyderabad và Sukkur, hành vi nguy cơ cao như tiêm
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
chích ma túy hơn 10 năm và tiêm chích bốn hoặc nhiều lần trong một ngày
liên quan ý nghĩa với lan truyền HIV [40].
Những yếu tố nguy cơ chủ yếu liên quan đến lây nhiễm HIV bao
gồm việc dùng chung dụng cụ tiêm chích “bẩn” và quan hệ tình dục không
an toàn với nhiều bạn tình chốc lát hoặc với người hoạt động mại dâm.
Trong năm 2006, ước tính 1/3 số người đang sống với HIV là phụ nữ. Tuy
nhiên phần lớn số ca nhiễm HIV vẫn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với
hoạt động NCMT [29] [34].
Dùng chung bơm kim tiêm được coi là một thực tế phổ biến trong cộng
đồng người sử dụng ma tuý ở Tân Cương và góp phần vào việc lan truyền
HIV/AIDS trong số những người tiêm chích ma túy. Tỷ lệ hiện mắc HIV có
liên quan đáng kể đến việc sử dụng bao cao su trong số những người sử dụng
ma túy (84,2%) chưa bao giờ sử dụng bao cao su so với 6,5% ở những người
sử dụng bao cao su mỗi khi họ có quan hệ tình dục [47].
Tiêm chích ma túy đã được xác định tại 148 quốc gia, dữ liệu về tiêm
chích ma túy hiện chưa có ở nhiều quốc gia ở châu Phi, Trung Đông và Mỹ
Latinh. Sự hiện diện của nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích đã được báo cáo ở
120 trong số các nước này. Ước tính tỷ lệ tiêm chích ma túy ở 61 quốc gia,
chiếm 77% dân số thế giới trong độ tuổi 15 - 64. Ước tính ngoại suy cho thấy
khoảng 15,9 triệu người trên toàn thế giới có thể sử dụng ma tuý theo đường
tiêm, số người tiêm chích ma tuý lớn nhất được phát hiện thấy ở Trung Quốc,
Hoa Kỳ và Nga và ở các nước đó tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích
lần lượt là 12%, 16%, và 37%. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma
túy là 20 - 40% ở 5 quốc gia và > 40% ở 9 quốc gia. Ước tính trên toàn thế giới,
khoảng 3 triệu người tiêm chích ma túy có thể dương tính với HIV [41,42].
khu vực cận Sahara Châu Phi, xuất hiện chủ yếu ở các nước Kenya,
Mauritius, Nam Phi, Tanzania. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tương
đối cao tại các nước này: 12% ở Nam Phi, 36% tại Nairoby (Kenia) [32].
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Tại vùng biển Caribbean, năm 2009 tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người
trưởng thành (15 - 49 tuổi) là 1% cao hơn tất cả các khu vực khác (trừ khu
vực cận Sahara Châu Phi).
Năm 2009, Đông Âu và Trung Á có khoảng 1,4 triệu người đang sống
chung với HIV, tăng gấp 2 lần so với năm 2001 (760.000 người). Sự tăng
nhanh số người nhiễm HIV trong nhóm NCMT là điểm nổi bật của tình hình
dịch tại khu vực này, 62% là do TCMT không an toàn và 37% là do quan hệ
tình dục khác giới không an toàn [31].
Trung Đông và Bắc Phi, năm 2009 có khoảng 460.000 người đang
chung sống với HIV, tăng hơn 2 lần so với năm 2001 (180.000 người). Cộng
hòa Hồi giáo Iran có số người NCMT lớn nhất trong khu vực, tỷ lệ nhiễm
HIV trong nhóm NCMT của quốc gia này là 14% (năm 2007). Đặc biệt, trong
số tù nhân bị bắt giữ do NCMT tại Tehran, tỷ lệ nhiễm HIV là 80% cho thấy
khả năng lây lan lớn của HIV trong nhóm người này là rất cao [32].
Nghiên cứu trên 10.073 người tiêm chích ma túy ở 20 thành phố ở Hoa
Kỳ năm 2009, Cyprian Wejnert và cộng sự cho biết trong số những người
tiêm chích ma túy được xét nghiệm, 9% có kết quả xét nghiệm HIV dương
tính, và 45% trong số những người được xét nghiệm dương tính đã không biết
mình bị nhiễm HIV.
Nghiên cứu về nhiễm trùng ở người tiêm chích ma tuý, Richard S và
cho biết tỷ lệ hiện mắc HCV là 76,9%, HBV là 65,7% và HIV là 20,5%, và
đối với người tiêm chích ma tuý ≤ 1năm thì tỷ lệ hiện nhiễm HCV là 64,7%,
HBV là 49,8%,và HIV là 13,9%. Tỷ lệ hiện nhiễm HCV và HBV liên quan
10% tại Faisalabad và 8% tại Larkana.
Đường lây truyền HIV ở Thái Lan trong thời gian gần đây có nhiều
thay đổi, virus lan tràn ngày càng nhiều tới những nhóm dân số vốn được coi
là có nguy cơ thấp. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
đẩy lùi dịch HIV ở Thái Lan, tỷ lệ hiện nhiễm trong nhóm NCMT trong vòng
15 năm qua vẫn cao từ 30% đến 50% [34].
Nghiên cứu trên 142 người nghiện ma tuý ở thành phố Kashgar, Tân
Cương, Trung Quốc, Ni Mingjian, KM Wheeler cho biết trong nhóm người sử
dụng ma tuý, tỷ lệ hiện hiện nhiễm HIV/AIDS là 24,5% và 17% trong số
những người sử dụng ma tuý có trình độ học vấn đại học hoặc dạy nghề. Như
vậy có thể nói tỷ lệ HIV dương tính ở người NCMT khá thay đổi theo khu
vực. Những nước phát triển ở Châu Âu và ở Châu Mỹ mặc dù việc xuất hiện
HIV trên người NCMT được ghi nhận sớm hơn nhưng có tỷ lệ nhiễm thấp
hơn và khá ổn định so với các nước đang phát triển ở Châu Á đặc biệt ở các
nước Đông Nam Á. Trái lại, HIV xuất hiện trong quần thể người NCMT tại
các nước đang phát triển ở Châu Á được ghi nhận chậm hơn nhưng lại có xu
hướng gia tăng nhanh hơn [34].
1.1.2. Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam bao gồm nhiều hình thái dịch khác nhau
trên toàn quốc và vẫn tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi lây
nhiễm HIV cao như người tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và phụ
nữ mại dâm.
Trên thực tế việc lây truyền HIV qua bạn tình - từ những nam giới có
hành vi lây nhiễm sang bạn tình nữ của họ - là nguyên nhân chính dẫn đến
việc giảm đều tỷ suất nam/nữ của các trường hợp mới nhiễm HIV được báo
cáo trong vài năm gần đây [14].
nghiện chích ma túy tại tỉnh Vĩnh Long năm 2007, Khưu Văn Nghĩa và cộng sự
cho thấy tuổi càng cao và càng nhiều bạn tình có tương quan với việc sử dụng
BCS không thường xuyên; nhưng trình độ học vấn cao hơn thì sử dụng BCS
thường xuyên hơn. Tương tự, tuổi, trình độ học vấn và kiến thức HIV/AIDS cao
có xu hướng ít dùng chung BKT trong khi nhận thức rõ về tình trạng nhiễm HIV
của bản thân và thời gian tiêm chích dài có tương quan với việc dùng chung
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
BKT nhiều hơn. Tham dự câu lạc bộ tương quan với việc sử dụng bao cao su
(BCS) thường xuyên hơn; việc nhận hỗ trợ từ đồng đẳng viên và sống cùng gia
đình có xu hướng ít dùng chung bơm kim tiêm (BKT) hơn [20].
Nguyễn Anh Quang nghiên cứu về thực trạng hành vi nguy cơ lây
nhiễm HIV và hiệu quả chương trình trao đổi bơm kim tiêm sạch trong nhóm
nghiện chích ma tuý tại tỉnh Hà Tây (2007-2009) cho thấy kết quả điều tra
đầu vào và xét nghiệm HIV cho 1.010 người NCMT (năm 2007) có 18,5%
người NCMT tại Hà Tây nhiễm HIV. Trong số 1.010 đối tượng nghiên cứu
nhóm tuổi từ 20 - 29 chiếm 42,4%, nhóm tuổi từ 30 - 39 chiếm 39,6% tiếp
đến là nhóm trên 40 tuổi 15,3%, và thấp nhất là dưới 20 tuổi 2,7%. Về trình
độ học vấn, tỷ lệ đối tượng có trình độ phổ thông cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất
58,3%, trung học phổ thông 26,9%, tiểu học 12,0%, trình độ trung cấp trở lên
chiếm tỷ lệ rất ít 2,4%, đặc biệt có 0,4% đối tượng không biết chữ. Đa số
người NCMT làm rất nhiều ngành nghề khác nhau trong đó tập trung chủ yếu
là nghề tự do 52,7% và làm ruộng 20,2%. Về tình trạng hôn nhân, người
NCMT đang có vợ chiếm tỷ lệ 55,8%, chưa có vợ 37,3%, đã ly dị 3,8%, đã ly
thân 2,4% và góa vợ 0,2%. Về tuổi QHTD lần đầu, có 64,6% trả lời đã QHTD
dưới 20 tuổi, trong đó: 4,3% là dưới 15 tuổi; 22,2% từ 15 - 17 tuổi; 38,1% từ
18 - 19 tuổi. Còn lại từ 20 - 22 tuổi chiếm tỷ lệ là 16,9% và trên 23 tuổi chiếm
18,5%. Về thời gian TCMT, có 86,2% đối tượng tham gia nghiên cứu có thời
xuống còn 15,94%. Tỷ lệ người NCMT dùng chung BKT trong lần gần nhất
giảm từ 36,46% xuống còn 12,81%. Tỷ lệ người NCMT dùng chung
thuốc/dụng cụ pha thuốc trong vòng 6 tháng trước điều tra giảm từ 51,04%
xuống còn 37,19%. Trong vòng 1 tháng giảm từ 43,6% xuống còn 16,3%. Tỷ
lệ người NCMT làm sạch BKT đã tăng từ 36,25% lên 80,39%. Tỷ lệ người
NCMT có sử dụng BCS trong 12 tháng qua khi QHTD với vợ/người yêu đã
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
tăng từ 7,3% lên 43,37%. Tỷ lệ người NCMT có sử dụng BCS trong lần quan
hệ gần nhất chiếm 37,14% cao hơn 28,49% [23].
Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong QHTD với GMD tăng từ
53,62% lên 72%. Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong lần QHTD với bạn
tình bất chợt không thay đổi trước và sau can thiệp chiếm 73,33%. Chủ động
gợi ý dùng BCS khi QHTD với nhóm này là người NCMT chiếm 87,27% cao
hơn 70,27%. Khả năng tiếp cận với BCS miễn phí tăng từ 64,80% lên
80,36%. Tỷ lệ người NCMT thực hành đúng tăng từ 34,92% lên 82,24%. Tỷ
lệ người NCMT hiểu biết đúng về các đường lây truyền HIV tăng từ 63,7%
lên 92,2% [23].
Nghiên cứu trên 200 nam nghiện chích ma tuý tại Cà Mau năm 2012,
Nguyễn Thanh Long cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT là
7,5%, tương tự ở Vĩnh Long 7,3%, cao hơn Đà Nẵng 4,0% và Huế 3,5%,
Quảng Trị 2%, nhưng thấp hơn kết quả điều tra tại Bình Dương 17,8% và
Nghệ An 15,5%. Tỷ lệ đối tượng dùng chung bơm kim tiêm tương đối cao
22,5%. Tỷ lệ nam NCMT có quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12
tháng qua là 5,0%. 100% nam NCMT thỉnh thoảng sử dụng bao cao su khi
quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12 tháng qua [19].
Nghiên cứu hành vi và các yếu tố lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện
chích ma tuý (NCMT) tại tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn Hùng cho biết hầu
trong nhóm nghiện chích ma tuý tiếp tục có xu hướng giảm, năm 2012 tỷ lệ
này là 11,6% (so với năm 2011 là 13,4%). Tất cả các vùng trong cả nước tỷ lệ
nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý đều giảm, tuy nhiên có sự khác
nhau giữa các khu vực [15].