Phương pháp dạy học giờ luyện tập đại số 9 - Pdf 25

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TĨNH GIA
TRƯ ỜNG THCS ĐÀO DUY TỪ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI:
“PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC GỜ LUYỆN TẬP ĐẠI SỐ 9”
Người thực hiện: Nguyễn Đình Thùy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Đào Duy Từ
SKKN thuộc môn Toán 9
THANH HÓA NĂM 2013
1
MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
- Lý do chọn đề tài.
1. Cơ sở lí luận:
Xuất phát từ việc đổi mới chương trình SGK và đổi mới phương pháp dạy học,
nhằm hoạt động hoá người học, phát huy tính tích cực, tự chủ của học sinhvà
năng lực chỉ đạo chủ động, linh hoạt của giáo viên.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Trong toán học, giờ luyện tập giữ vai trò quan trọng nhằm tạo điều kiện để học
sinh vận dụng kiến thức và rèn kỹ năng giải toán. Khắc sâu kiến thức đã học và
chuẩn bị tốt cho giờ ôn tập phạm vi rộng đó là ôn tập chương. Ngoài ra tổ chức
tốt giờ luyện tập còn tạo cho học sinh tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau và ý
thức đoàn kết tập thể.
3. Phạm vi và thời gian thực hiện đề tài:
+ Phạm vi: Thực hiện giảng dạy môn toán 9 tại trường THCS Đào Duy Từ.
+ Thời gian thực hiện: Năm học 2012- 2013
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Khảo sát thực tế học sinh trường THCS Đào Duy Từ
1. Hiện trạng khi chưa thực hiện:
• Tình hình học sinh ở 2 lớp 9B, 9C

giờ luyện tập.
Mặt khác thông qua quá trình thực hiện giải bài tập sẽ từng bước củng cố và
khắc sâu cho học sinh những vấn đề kiến thức lý thuyết đã sử dụng, vận dụng
vào bài tập đó. Từ đó giáo viên có thể mở rộng, nâng cao, đào sâu kiến thức
thông qua các bài tập tương tự và phát triển lên mức độ cao hơn theo từng đối
tượng học sinh.
Qua đó có thể thấy rằng đứng trước mỗi bài tập cụ thể, hay một giờ “luyện tập”,
việc xác định rõ mục tiêu kiến thức của bài tập hay của giờ luyện tập đó là hết
sức quan trọng phải xác định rõ mục tiêu rồi từ đó sẽ định hướng những biện
pháp thực hiện để Thầy và Trò đạt được mục tiêu đó.
Giả sử dạy bài: Tiết 5 : LUYỆN TẬP
Liên hệ giữa phép nhân và phép khai phương
Thứ nhất - Cần định rõ mục tiêu của cả tiết dạy học
HS cần: - Nắm chắc quy tắc khai phương 1 tích và quy tắc nhân các căn bậc hai .
- Vận dụng thành thạo các quy tắc để giải bài tập .
- Rèn cho học sinh cách tư duy nhanh và kĩ năng biến đổi biểu thức
dưới dấu căn bậc hai .
Thứ hai : Với từng bài tập cụ thể .
VD: chọn bài tập 22 <SGK – T15> Tính
a)
22
1213 −
b)
22
817 −
c)
12 −+ xx
-
1−x
( x ≥ 1)

=
1121 +−+− xx
-
1−x
=
( )
2
11 +−x
-
1−x
=│
1−x
+1│-
1−x
=
1−x
+1-
1−x
=1
* GV : củng cố và khai thác bài tập tương tự, mở rộng:
BÀI TẬP MỞ RỘNG:
Từ phần a: Tính
22
1213 −
có thể mở rộng thành bài tập mức độ cao hơn như
sau:
Tính: a)
14405,265,117
22
−−

2
12 −
=
2
+1-
2
+1=2
Hay phần c)
12 −+ xx
-
1−x
( x ≥ 1)
=
( )
111
2
−−+− xx
=
1111 =−−+− xx
GV có thể khai thác mở rộng thành các bài tập tương tự:
1) Giải PT :
12 −+ xx
= x-1
Lời giải
ĐKXĐ: x

1 ta có:
12 −+ xx
= x-1


)
2
+
4
3
=0

phương trình vô nghiệm.
2) Giải BPT:
12 −− xx

4
3
Lời giải
ĐKXĐ: x

1 ta có:
12 −− xx

4
3

( )
2
11 −−x

4
3
11 −−⇔ x



1−x



4
7


x-1

16
49


x

16
65
(Thoả mãn đk x
2≥
)
4
- Nếu
1−x
-1 < 0

1−x
< 1




16
17
(Thoả mãn 1

x <2)
Vậy BPT có nghiệm là: x


16
65
; 1

x <
16
17
3) Tìm giá trị lớn nhất (hoặc nhỏ nhất) của biểu thức:
A= 1-
12 −+ xx
Lời giải
ĐKXĐ: x

1 ta có:
A = 1-
( )
2
11 +−x
= 1-
1−x

trong quá trình làm bài tập ở nhà khi đến giờ luyện tập được chữa đúng vào bài
tập đó ở trên lớp.
Với tình hình chung hiện nay học sinh THCS rất lười học đặc biệt học và
chuẩn bị bài tập ở nhà nên công việc đó không phải học sinh nào cũng làm được.
Theo tôi ngay từ những năm học lớp dưới (cụ thể từ lớp 6 đối với THCS) mỗi
giáo viên đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm cần định hướng, hướng dẫn cho học
sinh phương pháp học tập ở nhà một cách khoa học, liên tục kiểm tra và rèn cho
học sinh thói quen học bài và làm bài tập ở nhà.
5
Bên cạnh đó khi cho bài tập về nhà giáo viên không nên cho tràn lan mà nên lựa
chọn bài tập sao cho có cả những bài tập dễ và có cả bài tập khó theo từng mức
độ (chọn bài tập nhưe thế nào sẽ nói rõ thêm ở phần sau) để tạo hứng thú cho
học sinh tức là khi học sinh mở sách ra làm bài tập ở nhà phải có những bài tập
làm được và có bài tập làm có thể còn vướng mắc, tránh nhất khi mở ra bài nào
cũng khó không làm được.
Muốn làm được như vậy thì việc chuẩn bị, lựa chọn và tung ra các bài tập cho
học sinh một cách hợp lý là vô cùng cần thiết đối với một người giáo viên khi
lên lớp.
* Đối với giáo viên:
- Việc chuẩn bị các bài tập cho tiết dạy luyện tập còn quan trọng hơn rất nhiều
đối với học sinh vì giáo viên là người chủ động, định hướng, đưa ra và tổ chức
những hoạt động dạy và học cả về kiến thức và lưu lượng bài tập.
Theo chương trình SGK mới mỗi tiết dạy luyện tập đại số 9 thường có từ 5 đến
7 bài tập, mỗi bài tập có từ 3 đến 4 phần nhỏ chưa kể giờ luyện tập sau 2 đến 3
tiết lý thuyết thì số lượng bài tập nhiều hơn. Vậy nếu không lựa chọn tốt thì làm
sao dạy hết tất cả các bài tập, làm sao đảm bảo mục tiêu kiến thức một cách
toàn diện cho học sinh được, chưa nói gì đến mở rộng, khơi sâu và phát triển
kiến thức từ bài toán này đến các bài tập khác tương tự.
Hiện nay vẫn có những giáo viên dạy giờ luyện tập cứ thực hiện tuần tự các
bài tập theo SGK từ bài thứ nhất trở đi đến khi hết giờ. Như vậy thiết nghĩ chỉ

HS khá Bài 3.1 Bài 3.2 Bài 3.3 Bài 3.4
HS giỏi Bài 4.1 Bài 4.2 Bài 4.3 Bài 4.4
Ghi chú: Mức độ tăng dần từ mức 1 đến mức 4.
Trong đó bài 1.4 tương đương với bài 2.1; bài 2.4 tương đương với bài 3.1;
bài 3.4 tương đương với bài 4.1

Ví dụ : Dạy tiết 5: LUYỆN TẬP
Liên hệ giữa phép nhân và phép khai phương
Từ mục tiêu đã nêu ra ở ví dụ trên tôi lựa chọn các bài tập như sau:
Bài 1(bài 22 - SGK) Tính
a)
22
1213 −
b)
22
817 −
c)
22
108117 −
d)
22
312313 −
Bỏ các phần c,d của bài tập đó vì tương tự 2 phần a, b (yêu cầu học sinh về nhà
làm)
Thêm vào phần c và d mới là:
c)
22
2.38.6 −
d)
12 −+ xx

7
Thứ ba : Các phần bài tập không bị bó hẹp, dễ phát triển, dễ mở rộng thích hợp
với luồng tư duy của học sinh ở tất cả các mức độ yếu, kém- trung bình – khá -
giỏi.
Thứ tư: Từ bài tập gốc khi phát biểu thành bài tập khác gây sự bất ngờ thú vị đối
với học sinh vì cảm giác vừa quen vừa lạ, tạo hứng thú cho học sinh tiếp tục đi
sâu vào giải bài tập mới mà quen đó.
* Qua cách thực hiện như thế sẽ từng bước rèn cho học sinh tư duy lô gíc và khả
năng tổng hợp những bài tập thành loại toán, dạng toán và hình thành phương
pháp giải tổng quát vơi từng dạng toán đó.
* Như VD trên đã nói.
- Phần a và b của bài tập 1 có thể mở rộng thành bài tập
Tính :
a)
14405,265,117
22
−−
b)
223223 −−+
c)
256.275,1095,146
22
+−
- Phần d của bài tập 1 có thể mở rộng thành các bài tập dạng mới như:
1) Giải PT :
a)
12 −+ xx
= x-1 b)
314 +−+ xx
- 1 =

- Ôn luyện lại cho học sinh: + Dạng toán so sánh.
+ Kiến thức về hai số nghịch đảo của nhau.
Lời giải:
a) 4 và 2
3
Ta có : 4 =
16
2
3
=
3.4
=
3.4
=
12


16
>
12
. Vậy 4> 2
3

b) 16 và
17.15
Ta có:
17.15
=
116.116 +−
=

.
3
= 5+
3.2.4
=5+
24
< 5+
25
=10


(
32 +
)
2
< 10 hay
2
+
3
<
10
d) (2-
3
)(2+
3
) và 1
Ta có : (2-
3
)(2+
3

BÀI 3 : Tính giá trị của các biểu thức sau:
a) A = 2
)221()23(2 ++−
2
- 2
6
b) B =
526526 +−−
c) C =
2
222
3
24
xx
xx

+−
tại x =
28 −

Lời giải.
a) Ta có : A= 2
)221()23(2 ++−
2
- 2
6
= 2
2
.
3

│- │
15 +
│=
1515 −−−
= -2
Vậy giá trị của biểu thức là : B = -2.
c) Ta có : C=
2
222
3
24
xx
xx

+−
=
( )
( )
=


2
2
2
2
2
xx
x
( )
2.

vào biểu thức C ta có C =
2
2
2
1
=
Vậy giá trị của biểu thức là: C =
2
2
Phần c, có thể trình bày thay trực tiếp x=
2
vào biểu thức C . (cách 2)
Nhận xét:
* Với bài tập này giáo viên giúp học sinh đạt được mục tiêu sau:
- Rèn cho học sinh kĩ năng giải bài toán dạng : Rút gọn rồi tính giá trị của
biểu thức vối điều kiện cho trước.
- Học sinh được thực hành thành thạo quy tắc nhân can bậc hai, quy tắc
khai phương
AA =
2
.
- Ôn lại cho học sinh các hằng đẳng thức đáng nhớ; và phương pháp phân
tích đa thức thành nhân tử.
* Từ bài tập trên cũng rất dễ dàng và có thể phát triển thành bài tập mở rộng ở
mức độ cao hơn nữa như sau:
Bài tập mở rộng phát triển phần b của bài 3 .Ta có bài tập sau:
1) Tính :
a)
246223 +−+
b)

* Bài này có 2 cách giải:
Cách 1: với x

0

x- 2
x
+5 =
( ) ( )
041412
22
>+−=++− xxx
với

x

R
Bình phương 2 vế cua phương trình ta có:
Pt

x- 2
x
+5 = 4

( )
41
2
+−x
= 4


( )
623
2
24
2
−−+

xx
x
Rút gọn rồi tìm giá trị của x để M có giá trị lớn nhất, tìm giá trị đó.
Lời giải:
M =
( )
623
2
24
2
−−+

xx
x
=
( ) ( )
232
2
222
2
−+−

xxx

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LUYỆN TẬP
(Tổ chức hoạt động theo nhóm học sinh)
A. MỤC TIÊU.
- Xuất phát từ bản chất xã hội của việc dạy – học với nhu cầu giao lưu học tập
của học sinh nhằm traođổi, tìm tòi, học tập, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình
nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng kiến thức vào giải bài tập và ứng dụng trong
đời sống thực tiễn.
- Với ý thức đổi mới phương pháp dạy học nhằm: “Hoạt động hoá người học”,
lấy học sinh làm trung tâm và tận dụng những phát hiện mới,cách giải toán hay
và phương pháp học tập hiệu quả tạo thế lan toả mạnh giữa học sinh và học sinh
trong lớp học đặc biệt từ những học sinh khá giỏi tới những học sinh yếu kém
nhằm tạo động lực thi đua học tập, nêu cao tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn
11
nhau, rèn luyện thái độ hoà nhã thân thiện và nêu cao ý thức đoàn kết tập thể,
được bồi dưỡng trong tập thể và có trách nhiệm với tập thể.
- Từ đó mỗi học sinh trong lớp đều tích cực hoạt động, yêu quí trường lớp, tôn
trọng bạn bè và quyết tâm giữ gìn bảo vệ thành tích của tổ nhóm và của lớp
mình.
B. YÊU CẦU
1. Học sinh:
- Mỗi HS cần chuẩn bị tốt phần bài tập ở nhà.
- Phối hợp tốt với các bạn trong nhóm mình để hoạt động.
- Có tinh thần hoà đồng và có ý thức trách nhiệm tự giác.
2. Giáo viên: Cần chuẩn bị tốt 2 yếu tố sau:
- Kiến thức cơ bản sẽ vận dụng vào bài tập(Có thể gồm cả kiến thức mở rộng và
nâng cao)
- Lựa chọn dạng bài tập phù hợp và cách tổ chức thực hiện tương ứng với bài
tập đó.
+ Các dạng bài tập sẽ thực hiện trong tiết dạy.
+ Với mỗi bài tập cần sử lý tình huống và tổ chức hoạt động nhóm như thế nào?

C. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC.
I. Ổn định – Kiểm tra.
1. Kiểm tra sĩ số lớp và sự chuẩn bị của học sinh
2. Kiểm tra bài cũ
* Yêu cầu:
HS 1:
1/ Nêu hệ thức vi – et của phương trình bậc hai : ax
2
+ bx + c = 0(a

0)?
2/ Áp dụng tìm tổng và tích các nghiệm của phương trình 4x
2
+ x – 5 = 0.
HS 2:
1/ Nêu cách nhẩm nghiệm của phương trình bậc hai theo hệ số a, b, c?
2/ Áp dụng giải phương trình sau?
a/ 5x
2
– 9x + 4 = 0
b/ -x
2
+ 6x + 7 = 0
HS cả lớp theo dõi nhận xét, chữa bài.
GV: - Cùng học sinh chữa đánh giá,cho điểm HS.
- GV treo bảng phụ, tóm tắt hệ thức vi-et, 2 cách nhẩm nghiệm và ứng
dụng tìm 2
số biết tổng và tích của chúng(đã chuẩn bị sẵn).
- Nêu vấn đề dạy học luyện tập.
II. Nội dung luyện tập.

= -
2
1
x
1
x
2
= -
4
5
HS:
- Thảo luận, trả lời câu hỏi.
- Thực hiện giải toán theo nhóm học
tập.
* Đại diện nhóm trình bày lời giải.
* HS nhóm khác đánh giá, nhận xét
GV: Đưa ra lời giải (ghi bảng hoặc
chiếu bằng máy).
13
b/ 5x
2
+ x + 2 = 0 có:

= - 39 < 0


Phương trình vô nghiệm.
HĐ3: Củng cố bài tập
-Lưu ý: Trước khi tìm tổng và tích các
nghiệm của phương trình phải xét

= 1 – 2m
Để phương trình (1) có nghiệm thì




0

1 – 2m

0

m


2
1
Khi đó pt có 2
nghiệm thoả mãn:
{ x
1
+ x
2
= -2m + 2
x
1
x
2
= m
2


1)
HĐ1: GV gợi ý trình bày lời giải
(Lưu ý cách giải ngắn gọn, khoa học)
Câu hỏi:
1. Khi giải phương trình bậc 2 đầu tiên ta
nên lưu ý cách giải nào?
TL: Nhẩm nghiệm theo hệ thức vi- et.
2. Với bài này có cách giải khác hay không?
HS lắng nghe và ghi nhớ
HS:
- Thảo luận theo nhóm(yêu cầu của
bài toán)
- Trả lời các câu hỏi gợi ý của GV
- suy nghĩ tim lời giải.
Các nhóm tiến hành giải toán
- Báo cáo kết quả và đánh giá chéo
nhau giữa các nhóm.
- Cử đại diện trình bày lời giải.
* GV kết luận và trình chiếu lời giải
HS lắng nghe và ghi nhớ
HS:
- Thảo luận, trả lời câu hỏi.
- Tiến hành giải bài tập theo nhóm
học sinh
- Báo cáo kết quả bằng phiếu học tập
(Chỉ báo kết quả)
14
HĐ2: Trình bày lời giải.
a/ 1,5x


c. (m - 1)x
2
– (2m + 3)x + m + 4 = 0 (m

1)
Có a + b + c =m - 1 – (2m + 3) + m + 4=0
Phương trình có 2 nghiệm là:
x
1
= 1 ; x
2
=
1
4

+
m
m
(m

1)
* Nếu m = 1 thì phương trình tương đương
với
-5x + 5 = 0

x = 1
HĐ3: Củng cố bài tập
-Lưu ý cách giải phương trình bậc 2 bằng
cách nhẩm nghiệm theo hệ số :

– 42x + 441 = 0 có


= (-21)
2
– 1.441 = 0


Phương trình có nghiệm kép:
x
1
= x
2
= 21
HS 1: Trình bày lời giải phần a.
* HS đánh giá nhận xét, chữa bài
(Nếu cần)
GV đưa ra lời giải.
HS 2: Lên bảng trình bày lời giải
phần b.
* HS đánh giá nhận xét, chữa bài .
GV kêt luận, cho điểm.
HS 3: Trình bày lời giải phần c.
* HS đánh giá nhận xét, chữa bài
(Nếu cần)
GV đưa ra lời giải.
HS lắng nghe và ghi nhớ
Câu hỏi:
1. Theo bài ta có 2 số u và v là
nghiệm của phương trình nào(nêu

(u + v)
2
– 18 = 7

(u + v)
2
= 25

u + v =
±
5
* Với u + v = 5 và uv = 9 ta có u và v là
nghiệm của phương trình:
x
2
– 5x +9 = 0


= 25 – 36 = -11 < 0

Phương trình vô nghiệm.
* Với u + v =-5 và uv = 9 ta có u và v là
nghiệm của phương trình: x
2
+ 5x +9 = 0


= 25 – 36 = -11 < 0

Phương trình vô nghiệm.

trong suốt quá trình làm bài tập nên học sinh dễ theo dõi và vận dụng tốt hơn.
- Khả năng tìm lời giải nhanh, hiệu quả và làm bài chính xác hơn.
- Mỗi bài tập đều được giáo viên gợi mở bằng các câu hỏi hợp lý nên học
sinh nắm bài tốt, hứng thú vận dụng kiến thức vào làm bài tập nên lớp sôi nổi
hơn.
- Các dạng bài tập được phân định rõ ràng, lựa chọn bài tập phù hợp nên
làm được đủ dạng, phong phú và hiệu quả hơn. Học sinh dễ nhớ và vận dụng để
làm các bài tập cùng dạng.
- Có những bài tập khó dành cho những học sinh khá, giỏi và những bài tập
dễ dành cho những học sinh yếu kém nên tất cả học sinh đều tích cực, sôi nổi
xây dựng bài, giờ dạy và học trở nên nhẹ nhàng hơn.
• Qua đó có thể thấy được rằng:
16
- Cùng một bài dạy luyện tập nhưng người giáo viên có sự chuẩn bị tốt, sự lựa
chọn và hoạch định khoa học về nội dung kiến thức về số lượng bài tập và các
dạng bài tập phù hợp cho các đối tượng học sinh.
- Bài soạn với hệ thống câu hỏi dễ hiểu, cách lưu lại kiến thức hợp lý trên
bảng phụ để học sinh tiện dụng khi làm bài tập sẽ mang lại hiệu quả cao hơn rất
nhiều trong từng tiết học, giờ dạy và học “ Luyện tập toán”

KẾT LUẬN CHUNG
I. YÊU CẦU TỔ CHỨC TỐT GIỜ DẠY HỌC LUYỆN TẬP.
 Trong từng giờ luyện tập giáo viên cần đặc biệt lưu ý các dạng bài tập và
phương pháp giải dạng bài tập đó. Cần chú ý đến các tình huống của từng bài
tập cụ thể để định hình cách thức tổ chức hoạt động của thầy và trò đối với bài
tập đó.
Không phải bài tập nào cũng thíh hợp với việc tổ chức hoạt động theo nhóm học
sinh và không phải giờ luyện tập nào cũng hoạt động theo nhóm. Vì vậy người
thầy phải lựa chọn và chuẩn bị tốt các tình huống trong bài soạn của mình sễ
luôn tạo được tâm thế chủ động chỉ đạo, hướng dẫn học sinh thực hiện.

- Bước 3: Trình bày lời giải (cần chặt chẽ, lô gíc, chính xác, rõ ràng và ngắn
gọn)
- Bước 4: Nghiên cứu sâu lời giải (cách giải khác, bài toán tương tự và khả năng
ứng dụng vào các bài mở rộng khác)
 Tóm lại hướng dẫn học sinh giải quyết tốt từng bài tập thì sẽ tổ chức thành
công một giờ “luyện tập”.
Tổ chức tốt nhiều giờ luyện tập thì sẽ tạo tiền đề lớn để tổ chức thành công các
giờ ôn tập chương. Từ đó học sinh sẽ hăng hái thi đua vận dụng kiến thức tiếp
thu được vào thực hành giải toán và hăng say học tập tiếp thu và lĩnh hội tri
thức.
IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÓ SO SÁNH ĐỐI CHỨNG:
 Sau một thời gian (1năm học ) thực hiện đề tài một cách nghiêm túc, có đánh
giá rút kinh nghiệm, có so sánh và đối chứng từng giờ dạy, từng lớp học tôi nhận
thấy :
-Với thái độ quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinhchuẩn bị tốt kiến thức lí
thuyết bài học trước cho học sinh bằng cách tích cực hoá hoạt động của các em
dưới nhiều hình thức tổ chức hoạt động khac nhau: “ độc lập, tự học, giao lưu ,
đôi bạn hoặc hoạt động theo nhóm học sinh ”một cách đa dạng phong phú đặc
biệt nên đẩy mạnh hai hình thức tự học và hoạt động theo nhóm học sinh . Tất cả
các yếu tố đó sẽ tạo nên phương pháp dạy học tốt giờ luyện tập toán.
- Học sinh có sự tiến bộ rất nhanh không còn hiện tượng học sinh sợ học môn
toán, không khí lớp học sôi nổi, các em hăng hái phát biểu, làm bài tập và tích
cực xây dựng bài.
Tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng cao, học sinh yếu kém giảm nhiều.
 Kết quả cụ thể như sau: (Thông qua kết quả của học kì I, giữa kì II )
Lớp 9B : Môn toán
Đầu năm:
Lớp Sĩ số Giỏi Khá TB Yếu, kém
9B 30 0 0 22 8
9C 31 0 1 25 5

Do vậy tôi xin được mạnh dạn nêu ra, kiến nghị và mong nhà trường, các cơ
quan quản lý giáo dục cấp trên có biện pháp khắc phục, tạo điều kiện cho GV và
HS có bộ dụng cụ, thiết bị dạy học đồng bộ, chất lượng và chính xác hơn đảm
bảo đặc trưng bộ môn.
- Đề nghị nhà trường tiếp tục quan tâm đến việc tổ chức các chuyên đề đổi mới
phương pháp dạy học, động viên GV làm dụng cụ dạy học, sử dụng thiêt bị dạy
học và giáo án điện tử. Tiếp tục bồi dưỡng kinh nghiệm giảng dạy cho GV trẻ
giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tốt công tác của mình.
Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài với một khoảng thời gian nhất định, tôi đã
trình bày đề tài của mình sau khi đã nghiên cứu, tìm hiểu và thực nghiệm nhiều
tiết dạy ở lớp 9C, có so sánh đối chứng và rút kinh nghiệm cho từng tiết dạy.
Nội dung của đề tài đề cập đến phương pháp dạy học tốt giờ luyện tập đại số lớp
9. Nhằm mục đích làm cho giờ luyện tập toán nhẹ nhàng hơn, sôi nổi và hiệu
quả hơn.
19
Giúp học sinh hiểu bài và yêu thích môn toán và hăng say học tập và rèn luyện.
Phương pháp mang tính khái quát chung có minh hoạ bằng các bài soạn cụ thể,
có thể vận dụng cho nhiều bài dạy học luyện tập đại số 9.
Tuy nhiên đề tài không tránh khỏi những hạn chế thiếu khuyết, tôi rất mong
được sự tham khảo, góp ý của các đồng chí, đồng nghiệp và người đọc để đề tài
được tốt và hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Nguyên Bình, ngày 9 tháng 4 năm 2013
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác
Tác giả:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status