PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc, nhanh chóng của khoa học kỹ
thuật, lượng kiến thức của nhân loại không ngừng tăng lên gấp bội, đặt ra
nhiều thách thức đối với người học, đặc biệt đối với tầng lớp sinh viên –
Những người làm chủ tương lai. Hoạt động học của sinh viên hiện nay
không chỉ là thụ động nghe giảng mà chủ động chiếm lĩnh tri thức nhờ
hứng thú học tập môn học cụ thể.
Hiện nay, cùng chung với xu thế phát triển của các ngành khoa học
khác, Tâm lý học giao tiếp yêu cầu người học phải có hứng thú học tập.
Chính vì vậy, thầy và trò Học viện Quản lý Giáo dục luôn ý thức được vai
trò của việc tạo động lực, hứng thú học tập trong sinh viên. Tạo hứng thú
học tập Tâm lý học giao tiếp trong sinh viên không chỉ nâng cao chất
lượng học tập môn Tâm lý học giao tiếp ở khoa Giáo dục nói riêng mà còn
nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện nói chung. Tuy nhiên, không
phải tất cả những sinh viên, đặc biệt sinh viên Khóa 5(K5) – sinh viên năm
nhất của khoa Giáo dục đều có hứng thú học tập Tâm lý học giao tiếp. Do
đó, việc tìm hiểu sinh viên K5 - Khoa Giáo dục có hứng thú học tập Tâm
lý học giao tiếp hay không, hứng thú ở mức độ nào, có những yếu tố nào
ảnh hưởng tới hứng thú học tập Tâm lý học giao tiếp của sinh viên, là
một đòi hỏi khách quan mà thực tiễn đặt ra để nâng cao chất lượng đào tạo
của khoa Giáo dục.
Xét về mặt lý luận, những nghiên cứu về hứng thú trong tâm lý học là
một vấn đề được các nhà Tâm lý học quan tâm. Các nghiên cứu Tâm lý
học về hứng thú thường quan tâm đến vấn đề bản chất của hứng thú, cấu
trúc của hứng thú, mối quan hệ của hứng thú đối với những yếu tố như nhu
cầu, động cơ, năng lực, sự hình thành và phát triển nhân cách, các yếu tố
ảnh hưởng tới hứng thú,… Song song với việc nghiên cứu những lý luận
1
tổng quát về hứng thú cũng có nhiều công trình quan tâm, đi sâu vào
nghiên cứu thực tiễn về hứng thú trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau,
6.3. Phương pháp quan sát
6.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
6.5. Phương pháp xử lý thông tin bằng toán thống kê
7. Cấu trúc công trình
Đề tài gồm ba chương, ngoài ra còn có phần mở đầu, kết luận và kiến
nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục. Phần nội dung của luận văn gồm 3
chương:
- Chương 1: Cở sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
1.2. Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Khái niệm hứng thú
1.2.1.1. Khái niệm Hứng thú
a) Quan niệm của một số nhà tâm lý học phương Tây
b) Quan niệm của các nhà Tâm lý học Mác xít
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm hứng thú trong cuốn
Giáo trình Tâm lý học đại cương (Nguyễn Xuân Thức chủ biên) làm khái
niệm công cụ:
“Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó
vừa có ý nghĩa trong đời sống vùa có khả năng mang lại khoái cảm”
[23;225].
1.2.1.2. Cấu trúc của hứng thú
Trong đề tài, chúng tôi đã sử dụng cấu trúc về hứng thú theo Giáo
trình Tâm lý học đại cương(Nguyễn Xuân Thức chủ biên). Theo đó, hứng
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hứng thú học tập Tâm lý học Giao tiếp
Các yếu tố ảnh hưởng tới hứng thú học tập Tâm lý học giao tiếp được
chúng tôi phân loại thành hai nhóm: Nhóm các yếu tố chủ quan và nhóm
các yếu tố khách quan, được cụ thể hóa như sau
2.2 Tiến trình nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện từ tháng 2 năm 2012
đến tháng 5 năm 2012, kéo dài 4 tháng. Được cụ thể hóa thông qua bảng kế
hoạch như sau:
2.3. Các tiêu chí đánh giá
Để nghiên cứu về hứng thú học tập Tâm lý học giao tiếp của sinh viên
K5 – Khoa Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục, chúng tôi đã xây dựng
tiêu chí đánh giá dựa trên những kết quả nghiên cứu lý luận, bao gồm ba
mặt: nhận thức, thái độ và hành vi.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu về hứng thú học tập môn Tâm lý học giao tiếp
của sinh viên K5- Khoa Giáo dục, Học viện Quản lý giáo dục, chúng tôi đã
sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu:
6
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
2.4.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket)
2.4.3. Phương pháp quan sát
2.4.4. Phương pháp phỏng vấn sâu
2.4.5. Phương pháp xử lí thông tin bằng toán thống kê
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
7
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
3.1. Thực trạng hứng thú học tập Tâm lý học giao tiếp của sinh viên
K5 – Khoa Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục
3.1.1 Nhận thức của sinh viên K5 – Khoa Giáo dục về tầm quan trọng
Hai vai trò xếp thứ bậc thứ nhất và thứ hai là những vai trò được sinh
viên đánh giá cao: “Hiểu biết hơn về các quá trình, trạng thái giao tiếp
góp phần tự hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp của bản thân” và “Có
được những kiến thức cơ bản phục vụ cho ngành học”.
Ngoài ra hai vai trò được xếp thứ bậc thứ 3 và thứ 4 chỉ được sinh
viên đánh giá ở mức độ trung bình: “Thiết thực cho cuộc sống và quan hệ
với mọi người” và “Thiết thực đối với nghề nghiệp tương lai của bản
thân”
Tóm lại, sinh viên K5 – Khoa Giáo dục bước đầu nhận thức được về
vai trò của môn Tâm lý học giao tiếp đối với bản thân và nghề nghiệp
tương lai.
3.1.1.3 Nhận thức về tính chất của môn Tâm lý học giao tiếp
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát ý kiến của sinh viên K5 – Khoa Giáo
dục nhằm đánh giá tính chất môn học và thu được những kết quả như sau:
Sinh viên K5 – Khoa Giáo dục cho rằng những kiến thức Tâm lý học
giao tiếp là “Dễ hiểu”, chiếm 64% trong tổng số. Trong khi đó, có 26%
sinh viên K5 cho rằng những kiến thức Tâm lý học giao tiếp là “Bình
thường”. Ngoài ra còn có một số sinh viên nhận thấy kiến thức Tâm lý học
giao tiếp là “Khó hiểu”(chiếm 10%).
Tóm lại, Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy rằng hầu hết sinh
viên K5 – Khoa Giáo dục đánh giá cao ý nghĩa môn Tâm lý học giao tiếp
9
đối với bản thân, với những vai trò mà môn học mang lại cho mình và
những kiến thức Tâm lý học giao tiếp là không quá khó trong việc tiếp thu
của sinh viên.
3.1.2 Thái độ của sinh viên K5 – Khoa Giáo dục môn Tâm lý học giao
tiếp
3.1.2.1 Thái độ của sinh viên K5 – Khoa Giáo dục đối với môn Tâm
lý học giao tiếp.
Qua quá trình tổ chức phát phiếu hỏi và xử lý số liệu thu được kết quả
dụng được vào thực tiễn giao tiếp nên chỉ học cho qua, không quan tâm
nhiều”, “Tâm lý học giao tiếp cũng bình thường, chưa cảm thấy có kiến
thức thú vị”, “Không biết hôm nay có tiết học Tâm lý học giao tiếp”
Để tìm hiểu sâu hơn chúng tôi kết hợp với những kết quả quan sát và
phỏng vấn sâu một số sinh viên.
Tóm lại, với những kết quả phân tích trên cho thấy, đa số sinh viên K5
– Khoa Giáo dục có thái độ tích cực đối với môn học, tuy nhiên vẫn còn
một số sinh viên có biểu hiện chưa tích cực đối với môn học.
3.1.3 Mặt hành vi trong hứng thú học tập Tâm lý học giao tiếp của
sinh viên K5 – Khoa Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát về mức độ tích cực trong hành vi của
sinh viên K5 – Khoa Giáo dục và thu được kết quả như sau:
Những biểu hiện hành vi được sinh viên lựa chọn ở mức độ “thường
xuyên” với những thứ bậc khác nhau (với điểm trung bình trung khoảng
3.4 – 4.2 với thứ bậc 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8) là: “Chú ý nghe giảng”; “Luôn suy
nghĩ khi giáo viên nêu vấn đề cần giải quyết”, “Trao đổi, tranh luận với
bạn bè, thầy cô để làm rõ các tình huống học tập khi được yêu cầu”,
“Hoàn thành đầy đủ, đúng hạn các bài tập được giao”, “Ghi bài theo cách
hiểu của mình”; “Tìm cách vận dụng những tri thức Tâm lý học giao tiếp
11
vào hoạt động thực tiễn chuyên ngành của mình” và “Bạn chủ động tìm
tòi, phát hiện ra những vấn đề mới”.
Biểu hiện hành vi “Rất thường xuyên” của sinh viên K5 với thứ bậc
đầu tiên là: “Đi học đầy đủ các giờ Tâm lý học giao tiếp”,
X
= 4.46.
Mặt khác, những biểu hiện hành vi chỉ “Thỉnh thoảng” xuất hiện ở
sinh viên K5 bao gồm: “Chuẩn bị bài trước khi lên lớp”, “Tìm đọc sách
báo và các tài liệu tham khảo, sưu tầm các câu ca dao tục ngữ về các vấn
đề Tâm lý học giao tiếp”, “Chủ động phát biểu ý kiến xây dựng bài” , và
10% số sinh viên tham gia đưa ra ý kiến của mình.
* Không chỉ có nhóm những nguyên nhân khách quan, nhóm các
nguyên nhân chủ quan cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến hứng thú học tập
Tâm lý học giao tiếp của sinh viên K5 – Khoa Giáo dục, cụ thể là:
Vị trí cao nhất trong nhóm những nguyên nhân chủ quan là: “Môn
học ít có tác dụng thiết thực đối với bản thân”, chiếm 98% ý kiến sinh
viên. Ở vị trí tiếp theo là “Muốn mở rộng tầm hiểu biết về những kiến thức
Tâm lý học giao tiếp”, chiếm 70% số lượng sinh viên. Vị trí tiếp theo,
được sinh viên xếp ở vị trí thứ 5, với 40% số lượng sinh viên tham gia trả
lời câu hỏi cho rằng: “Môn học dễ hiểu, dễ tiếp thu đối với bản thân”
Ở vị trí thứ 6 trong nhóm các nguyên nhân, chiếm 36% sinh viên quan
tâm là: “Môn học phù hợp với khả năng và sở thích”. Vị trí cuối cùng
trong nhóm các nguyên nhân chủ quan mà sinh viên quan tâm tới ở đây là:
“Luôn đạt kết quả cao”, nguyên nhân này ít được sinh viên quan tâm, chỉ
chiếm 4% số lượng sinh viên tham gia trả lời câu hỏi, xếp ở vị trí thứ 9.
Trong khi đó một số sinh viên tham gia trả lời câu hỏi, cho rằng còn
có những nguyên nhân khác, ảnh hưởng tới 8% số sinh viên tham gia điều
tra.
13
Tóm lại, nhóm những nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng không đồng
đều hứng thú của sinh viên K5 trong học tập Tâm lý học giao tiếp. Trong
đó một số nguyên nhân được sắp xếp thứ bậc cao, còn một số nguyên nhân
có thức bậc thấp hơn.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Tuy sinh viên K5 – Khoa Giáo dục có hứng thú học tập Tâm lý học
giao tiếp nhưng ở mức độ chưa cao, biểu hiện ở sự thiếu cân đối trong ba
mặt: Nhận thức, thái độ và hành vi.
14
Trong đó biểu hiện tích cực hơn cả là mặt nhận thức. Kế tiếp, kết quả