301 Xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam - Pdf 25

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
......................................................................................................... 1

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN VÀ THUẾ TÀI SẢN

1.1 Khái niệm và phân loại tài sản ................................................................................. 3
1.1.1 Khái niệm tài sản................................................................................................... 3
1.1.2 Phân loại tài sản .................................................................................................... 5
1.2 Khái niệm về sở hữu tài sản và quyền tài sản ......................................................... 5
1.2.1 Sở hữu tài sản........................................................................................................5
1.2.2 Quyền tài sản........................................................................................................ 6
1.3 Thuế tài sản .............................................................................................................. 6
1.3.1 Khái niệm về thuế tài sản...................................................................................... 6
1.3.2 Cơ sở tính thuế tài sản ..........................................................................................7
1.3.3 Sự cần thiết của thuế tài sản trong nền kinh tế...................................................... 7
1.3.4 Vai trò của thuế tài sản trong nền kinh tế ............................................................. 8
1.3.5 Vị trí thuế tài sản và hệ thống thuế .................................................................... 11
1.4 Định giá tài sản .................................................................................................... 13
1.5 Kinh nghiệm về chính sách thuế tài sản ở một số nước trên thế giới .................... 13
1.5.1 Thuế tài sản ở Cộng Hoà Pháp............................................................................ 14
1.5.2 Thuế tài sản ở Thuỵ Điển.................................................................................... 15
1.5.3 Thuế tài sản ở Đài Loan ...................................................................................... 16
1.6 Bài học kinh nghiệm cho VN trong việc xây dựng hệ thống thuế tài sản ............. 17CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM


3.3.1.2 Nội dung chủ yếu của Luật thuế đăng ký tài sản .............................................54
3.3.2 Xây dựng Luật thuế sử dụng đất .........................................................................56
3.3.2.1 Quan điểm xây dựng Luật thuế sử dụng đất ....................................................56
3.3.2.2 Nội dung chủ yếu của Luật thuế sử dụng đất................................................... 57
3.3.3 Nội dung chủ yếu của Luật thuế nhà...................................................................60
3.3.1 Quan điểm về xây dựng thuế nhà .......................................................................60
3.3.2 Nội dung chủ yếu của Luật thuế nhà...................................................................60
3.4 Một số điều kiện để áp dụng thành công hệ thống thuế tài sản ở Việt Nam .........63
3.4.1 Giải pháp về vấn đề định giá tài sản ..................................................................63
3.4.2 Một số điều kiện khác ........................................................................................63
3.5 Lộ trình xây dựng và ban hành các luật thuế tài sản..............................................65
KẾT LUẬN
............................................................................................................ 68 * LỜI MỞ ĐẦU

1) Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Xu
thế hội nhập và liên kết kinh tế đồng nghĩa với việc xóa bỏ hàng rào thuế quan,
cắt giảm thuế nhập khẩu. Việc cắt giảm này kéo theo sự thay đổi trong tỷ trọng
thuế gián thu trong tổng thu ngân sách nhà nước. Từ đó , đặt ra cho chúng ta sự
lựa chọn, đó là phải đảm bảo tỷ trọng hợp lý giữa các loại thuế, hệ thống thuế cần
cơ cấu lại theo hướng tăng tỷ trọng thuế trực thu, giảm tỷ trọng thuế gián thu đảm
bảo nguồn thu ổn định và thường xuyên cho ngân sách Nhà nước. Việc cơ cấu
nguồn thu từ thuế trực thu có thể thực hiện theo hướng mở rộng các hình thức
thuế trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân, các loại thuế đất
và thuế tài sản cũng không nằm ngoài mục tiêu này.
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển nên thu nhập bình
quân GDP trên đầu người đang gia tăng, tài sản của nhà nước, của các tổ chức

Dựa trên những lý luận cơ bản về tài sản và thuế tài sản, luận văn sử dụng
phương pháp phân tích , thống kê so sánh để đánh giá thực trạng vận dụng chính
sách thuế tài sản ở nước ta hiện nay, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm của
một số nước về chính sách thuế tài sản. Thông qua quá trình phân tích, thống kê
so sánh luận văn sẽ đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng chính sách thuế tài
sản sao cho phù hợp với nền kinh tế Việt Nam trong những năm tới.

Đề tài “ Xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam” lấy thực trạng
chính sách thuế tài sản ở Việt Nam và chương trình cải cách và hiện đại hóa
ngành thuế đến năm 2010 là đối tượng nghiên cứu. Trong luận văn này tôi sử
dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để khái quát lên được những lý luận cơ
bản về tài sản và thuế tài sản, đánh giá ưu và nhược điểm của các chính sách thuế
tài sản. Đồng thời bằng phương pháp thực nghiệm từ thực tế trên cơ sở có tham
khảo kinh nghiệm của một số nước có nền kinh tế đã và đang phát triển, qua quá
trình phân tích, tôi sẽ rút ra những nguyên nhân tồn tại , hạn chế của việc thực
hiện chính sách thuế tài sản ở Việt Nam, từ đó định hướng các giải pháp chủ yếu
có tính khả thi nhằm hoàn thiện, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội
đến năm 2010 và các năm tiếp theo.
4) Kết cấu của luận văn
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, luận văn được kết cấu gồm 03 chương
chính như sau :
Chương 1 : Tổng quan về tài sản và thuế tài sản
Chương 2 : Thực trạng chính sách thuế tài sản ở VN
Chương 3 : Các giải pháp nhằm xây dựng chính sách thuế tài sản ở VN.
2
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN VÀ THUẾ TÀI SẢN

như tiền và các quyền thuộc sở hữu của một chủ thể nhât định. Tài sản có được là
do sự tích lũy thu nhập của chủ thể từ tất cả các nguồn có thể tạo ra thu nhập : do
thiên nhiên mang lại, do lao động, do đầu tư vốn, do thừa kế, biếu tặng, do hoạt

3
động sản xuất kinh doanh. Tài sản có thể thường xuyên thay đổi trạng thái và giá
trị tùy thuộc vào hành động của chủ sở hữu : tài sản bằng tiền có thể được chuyển
thành hiện vật hoặc ngược lại, nếu chủ sở hữu tiến hành bán tài sản. Tài sản có
thể tăng thêm nếu có sự đầu tư, bổ sung hoặc do tăng giá; tài sản có thể giảm đi
nếu có sự chuyển sở hữu tài sản cho chủ thể khác hoặc cũng có thể giảm do hao
mòn, giảm giá hoặc biến mất do rủi ro.
Như vậy khái niệm về tài sản không phải là khái niệm bất biến mà nó được
biến đổi và hoàn thiện theo quan niệm về giá trị vật chất. Vì vậy khi nghiên cứu
về tài sản, chúng ta cần lưu ý các khía cạnh sau :
- Tài sản phải luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất định.
- Tài sản có thể đồng nghĩa với sự tồn tại của của cải dưới dạng hữu hình
trong trường hợp của cải đó trị giá được bằng tiền và có thể dùng để giao dịch
mang lại lợi ích cho chủ sở hữu.
- Tài sản khác với vốn : tài sản và vốn là 2 khái niệm có khi đồng nhất, có
khi không đồng nhất. Tài sản sẽ trở thành vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh, dưới dạng là tài sản hữu hình hoặc vô hình. Vốn thường vận động và
chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác để thực hiện giá trị của hàng
hóa.Vốn được tiền tệ hóa và quá trình vận động, luân chuyển của vốn làm cho
của cải xã hội ngày càng tăng, phong phú. Từ đó khái niệm vốn có thể hiểu là
tiền và các hình thức biểu hiện khác của tiền với tư cách là hàng hóa tham gia vào
thị trường. Tài sản và vốn không là khái niệm đồng nhất khi tài sản còn trong lưu
giữ, không dùng vào sản xuất kinh doanh.
- Tài sản khác với thu nhập: Nói đến tài sản của một chủ thể là nói về
lượng của cải dồn tích đến tại một thời điểm nhất định nào của chủ thể. Còn nói
đến thu nhập là nói đến lượng của cải mà chủ thể thu được trong một thời kỳ nhất

lý, không bắt buộc phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng (máy vi tính, thiết bị văn phòng, hàng kim khí điện máy,...).
1.2 Khái niệm về sở hữu tài sản và quyền tài sản
1.2.1 Sở hữu tài sản
Có bảy hình thức sở hữu tài sản , có thể chia thành 04 nhóm chính sau đây:
- Sở hữu toàn dân : Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên
trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài
sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh
cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu
toàn dân. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
- Sở hữu tập thể là sở hữu của hợp tác xã, tổ chức chính trị, tổ chức nghề
nghiệp hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác nhằm thực hiện mục đích
chung được quy định trong điều lệ, theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân
chủ, cùng quản lý và cùng hưởng lợi.
- Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình.
Sở hữu tư nhân bào gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.
- Sở hữu hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận. 5
1.2.2 Quyền tài sản
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong
giao lưu dân sự. Các quyền đối với tài sản gồm :

- Quyền chiếm hữu là quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài
sản thuộc sở hữu của mình. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền
chiếm hữu tài sản trong trường hợp được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp
luật quy định. Trong trường hợp chủ sở hữu tự mình chiếm hữu tài sản thuộc sở

không có tính hoàn trả trực tiếp
Thuế tài sản là loại tên gọi chung của các sắc
thuế đánh vào quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng
tài sản. Thuế được thu hàng năm một lần. Sắc thuế tài sản

6
phổ biến nhất là thuế bất động sản (ở một số nước, chính quyền tách bất động
sản thành nhà ở và đất ở và tương ứng là hai sắc thuế riêng). Có một sắc thuế tài
sản được thu khi phát sinh sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản,
như
thuế trước bạ, thuế thừa kế.
1.3.2 Cơ sở tính thuế tài sản
- Đối tượng chịu thuế : là các tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu tài sản
hoặc quyền sử dụng tài sản ( đối với đất).
- Căn cứ tính thuế : là giá trị của tài sản và thuế suất. Giá trị tài sản được
các cơ quan định giá xác định, hoặc được xác định trên cơ sở khung giá do Chính
phủ quy định.
Để giảm thiểu hành vi trốn lậu thuế, các nước đều thành lập cơ quan định
giá tài sản. Về nguyên tắc, mọi cá nhân (hộ gia đình) có sở hữu hay sử dụng tài
sản đều phải đóng thuế tài sản, tuy nhiên trong trường hợp tài sản có giá trị nhỏ
đến mức mà số thuế thu được trở nên không có ý nghĩa khi xét thêm chi phí của
công tác thu thuế, chính quyền sẽ quyết định mức thuế phải nộp là 0.
Việc đánh thuế tài sản sẽ tránh được sự méo mó trong
thuế thu nhập, đó là
việc chuyển hóa
thu nhập thành tài sản. Thuế tài sản thường chỉ đánh trong
những trường hợp sau:
- Khi hình thành hoặc chấm dứt quyền sở hữu tài sản: thuế đăng ký tài sản,
thuế chuyển quyền sở hữu tài sản

Thuế tài sản đánh vào bất động sản, không thể di chuyển, ít biến động nên
ít bị trốn lậu thuế, dễ quản lý thu thuế. Do đó, số thu về thuế thường ổn định, việc
thay đổi thuế suất không gây tác động đến giá cả, tiêu dùng xã hội. Do đó, chính
quyền địa phương có điều kiện sâu sát nắm chắc biến động về sử dụng đất đai để
quản lý thu thuế. Số thu từ thuế tài sản là nguồn thu chủ yếu đáp ứng các nhu cầu
dịch vụ công cộng, các nhu cầu chi tiêu của địa phương.
Thứ hai, có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng cho thuế thu nhập
Thuế tài sản thực chất là một loại thuế bổ sung cho thuế thu nhập vì nó
đánh vào một dạng tồn tại khác của thu nhập (thu nhập tích lũy được tài sản hoá).
Theo quan điểm này, việc sử dụng nhiều hình thức đánh thuế vào các dạng tồn tại
của thu nhập (như yêu cầu đánh thuế lũy tiến vào thu nhập) là cần thiết để đảm
bảo yêu cầu bao quát hết tất cả các nguồn thu. Về nguyên tắc thì chỉ cần đánh
thuế thu nhập là đủ vì tất cả các khoản thuế có tính chất trực thu suy cho cùng
đều được trích từ thu nhập của đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh một
lần duy nhất vào thu nhập khi phát sinh thì mức thuế sẽ phải cao và do đó không

8
có lợi về mặt tâm lý, thậm chí kìm hãm các hoạt động tạo ra thu nhập. Hơn thế
nữa, việc đánh thuế một lần vào thu nhập sẽ có khuynh hướng không đảm bảo
công bằng vì khả năng kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu thường rất khó khăn đối
với chính quyền thu thuế. Vì vậy, việc đánh thuế tài sản thực chất cũng là đánh
thuế vào phần thu nhập được tài sản hoá. Diện đánh thuế tài sản rộng hơn diện
đánh thuế thu nhập, bao gồm mọi tài sản, không phân biệt tài sản đó mang lại thu
nhập hay không, đảm bảo công bằng xã hội. Việc đánh thuế tài sản sẽ có thêm cơ
hội để hạ bớt thuế suất thuế thu nhập, làm cho sắc thuế này dễ được đông đảo
quần chúng nhân dân chấp nhận.

Thứ ba, là một trong những biện pháp can thiệp của Chính phủ trong
việc giải quyết sự bất công về phân phối tài sản giữa các tầng lớp dân cư
Thuế tài sản được coi là hình thức phân phối lại cần thiết để thực hiện mục

sản sẽ là loại thuế dễ được chấp nhận và dễ kiểm soát.

Thứ năm, phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu
dùng, đầu tư và tiết kiệm
Thuế tài sản phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu
dùng, đầu tư và tiết kiệm của các tác nhân trong nền kinh tế. Việc đánh thuế tài
sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích luỹ bằng tài sản và khuyến khích tăng
tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh. Qua đó góp phần thực hiện tốt chủ
trương kích cầu để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ sáu, thuế tài sản còn được coi là công cụ hữu hiệu của Chính phủ
Thuế tài sản còn được coi là công cụ hữu hiệu của Chính phủ nhằm thực
hiện việc quản lý, kiểm kê, kiểm soát đối với các loại tài sản có giá trị. Thông qua
đó thấy được sự chênh lệch giàu nghèo, mức sống của các tầng lớp dân cư, tiềm
năng nguồn lực xã hội,... để Chính phủ có những quyết sách hợp lý phát triển
kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ nhất định.
Như vậy, xét trên khía cạnh, việc đánh thuế tài sản là cần thiết vì nó khắc
phục các khiếm khuyết của thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt là đối với những nước
mà chế độ thu nhập cá nhân có diện đánh thuế hạn hẹp và bị hạn chế do năng lực
thực hiện. Cùng với các loại thuế khác, thuế tài sản cho phép thực hiện được các
mục tiêu, yêu cầu đề ra về tài chính, kinh tế, xã hội,... đồng thời phát huy tác
dụng hỗ trợ có hiệu quả cho thuế đánh vào thu nhập và tiêu dùng trong hệ thống
thuế. Đó cũng chính là lý do mà thuế tài sản ra đời đã từ lâu và đang được nhiều
nước sử dụng, kể cả trong xu thế cải cách hệ thống chính sách thuế hiện nay theo
hướng đơn giản, giảm bớt các loại thuế. Tuy nhiên trong một hệ thống thuế gồm
nhiều loại thuế thu nhập có diện đánh thuế mở rộng thì hình thức thuế tài sản
đánh vào những tài sản do thu nhập tạo ra (như các tài sản kinh doanh hoặc cổ
phiếu công ty) đã chịu thuế thu nhập có thể dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng
vào khoản tiết kiệm và vì vậy sẽ không mang lại hiệu quả kích thích các đối


11
SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN CHU KỲ VẬN ĐỘNG CỦA THU NHẬP
Thu nhập tiêu dùng

Thuế tiêu dùng
Thu nhập tích luỹ hiện
vật hoá thành tài sản

Thuế tài sản

phiếu,…tạo nên tài sản hiện vật của người vay vốn.
(5)Thu nhập đem tiêu dùng, mua tài sản hoặc tích luỹ dưới dạng tài sản tài chính đến
lượt nó lại tạo ra thu nhập tiềm năng trong tương lai và một trình đánh thuế mới lại bắt
đầu (mũi tên đứt đoạn chỉ dòng thu nhập tương lai ở nhiều chu kỳ đánh thuế sau đó). Như vậy, hệ thống thuế là một chỉnh thể thống nhất gồm nhiều loại thuế
cấu thành, được thiết kế dựa trên những nguyên lý và tiêu thức nhất định nhằm
phát huy tối đa những chức năng của mỗi sắc thuế đồng thời thực hiện một cách
có hiệu quả mục tiêu của toàn bộ hệ thống. Một hệ thống hoàn chỉnh phải là hệ
thống gồm đầy đủ các loại thuế cơ bản là: thuế tiêu dùng, thuế thu nhập và thuế

12
tài sản. Sự hiện diện của 3 loại thuế nói trên không đơn thuần là biện pháp cốt để
thu được thuế mà quan trọng hơn là một sự tinh xảo, một kỹ nghệ trong việc
thiết kế hệ thống các sắc thuế nhằm đảm bảo tiêu thức công bằng và hiệu quả một
cách tối ưu.
1.4 Định giá tài sản để tính thuế
* Định giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ là việc đánh giá hoặc đánh giá lại
giá trị của tài sản , hàng hoá, dịch vụ phù hợp với thị trường tại một địa điểm,
thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế.
* Căn cứ xác định giá tài sản, hàng hoá, dịch vụ ( động sản):
1. Chi phí sản xuất, chí phí bán hàng thực tế hợp lý (đảm bảo trung bình
phổ biến của giá thành sản xuất) và chất lượng của tài sản, hàng hoá, dịch vụ tại
thời điểm tính giá.
2. Quan hệ cung cầu của tài sản, hàng hóa, dịch vụ và sức mua của đồng
tiền Việt Nam.
3. Giá thị trường trong nước, khu vực, thế giới và khả năng cạnh tranh của
tài sản, hàng hoá, dịch vụ tại thời điểm tính giá.
4. Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước thuộc phạm vi cả

• Thuế đánh 1 lần khi có chuyển dịch tài sản (chuyển dịch cho không hoặc
chuyển dịch có thu tiền) như: thuế thừa kế, thuế quà tặng, thuế trước bạ đánh vào
chuyển nhượng đất đai, nhà cửa hoặc lợi thế thương mại, thuế đánh vào các hợp
đồng bảo hiểm.
Ngoài ra, còn có một số loại thuế tài sản giành riêng cho địa phương như:
thuế đất đối với xây dựng (bao gồm cả đất xây dựng, đất ở, đất kinh doanh) và
thuế đất đối với đất không xây dựng (đất nông nghiêp do các chủ sở hữu đất nộp
hàng năm). Nguồn thu từ các loại thuế này được giành toàn bộ cho nhân sách địa
phương. Địa phương có quyền quy định mức thuế suất trên cơ sở khung thuế suất
đã được quy định trong Luật.
- Về thuế của cải đánh hàng năm trên giá trị tài sản ròng của cá nhân
+ Tài sản chịu thuế: là toàn bộ tài sản bằng tiền, bằng hiện vật cấu thành
sản nghiệp của đối tượng nộp thuế tại thời điểm ngày 01 tháng 01 của năm tính
thuế (sản nghiệp được hiểu là một tập hợp các tài sản có, tài sản nợ bao gồm toàn
bộ tài sản hiện có cộng với số cho vay, cho mượn, trừ đi số tiền phải trả nợ cho
người khác).
+ Đối tượng nộp thuế: gồm các thể nhân là đối tượng cư trú thuế tại Pháp
hoặc các thể nhân không là đôí tượng cư trú thuế tại Pháp nhưng có sở hữu tài
sản mà giá trị ròng vượt trên khởi điểm tính thuế.
+ Căn cứ tính thuế: thuế tài sản được tính trên cơ sở giá trị tài sản chịu
thuế và thuế suất. Giá trị tài sản chịu thuế là giá trị ròng sau khi đã trừ các khoản
nợ của bộ thuế trong năm tính thuế. Thuế suất được qui định theo biểu thuế luỹ
tiến từng phần (tương tự như biểu thuế thu nhập cá nhân ở nước ta).
- Về thuế trước bạ (thuế đăng ký tài sản) đánh 1 lần khi chuyển dịch
tài sản

14
Đây là loại thuế thu vào tổ chức, cá nhân có nhu cầu được cơ quan thuế
xác nhận tính pháp lý của các loại văn tự liên quan đến tài sản chuyển nhượng
(bao gồm cả chuyển dịch cho không như tặng biếu, cho thừa kế và chuyển


15
người sở hữu tài sản mà trị giá ròng từ 800.000 SEK trở lên bao gồm bất động
sản (nhà và đất), xe ôtô, tàu, thuyền, cổ phần tiền gửi ở Ngân Hàng.
Thuế nộp hàng năm, tính theo biểu luỹ tiến từ 1.5% đến 3% trên tổng giá trị tài
sản ròng thực có. Giá trị tài sản càng lớn thì thuế suất càng cao.
- Về thuế bất động sản
Là loại thuế thu trên giá trị nhà và đất, có bao nhiêu thu bấy nhiêu, không
quy định mức khởi điểm tính thuế như tài sản.
Như vậy, bất động sản (nhà và đất) bị đánh thuế 2 lần: lần thứ nhất khi bị
đánh thuế thông qua thuế tài sản (nếu trị giá tài sản ròng đạt từ 800.000 SEK trở
lên và lần thứ hai, khi thu thuế đối với nhà đất riêng).
- Về thuế quà tặng, thuế thừa kế tài sản

Là loại thuế đánh vào quà tặng và tài sản thừa kế của bố, mẹ, ông bà. Có quy
định mức khởi điểm đánh thuế cho từng khoản tài sản là quà tặng hay thừa kế.

1.5.3 Thuế tài sản ở Đài Loan
- Về thuế đối với tài sản thừa kế (còn được gọi là thuế thừa kế)
+ Đối tượng đánh thuế: Tài sản thừa kế của người quá cố là công dân Đài
Loan hoặc là đối tượng cư trú tại Đài Loan phải chịu thuế thừa kế không phân
biệt tài sản thừa kế nằm trong hay ngoài lãnh thổ Đài Loan. Các loại tài sản thừa
kế bao gồm: bất động sản, động sản có giá trị như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng,
chứng khoán, cổ phiếu, hàng hoá, ôtô, tàu thuyền, đất đai, quyền chủ nợ. Quyền
khai thác,...).
+ Đối tượng nộp thuế: là người thực hiện di chúc, người được thừa kế hoặc
người quản lý tài sản được quy định theo luật trong trường hợp không có người
thừa kế, hoặc vợ hoặc chồng còn sống của người quá cố và những người thừa kế
tài sản hợp pháp theo luật dân sự.
- Về thuế đối với quà tặng

được chủ sở hữu thì người đang trực tiếp sử dụng tài sản phải nộp thuế (như thuế
đất của Đài Loan,... ).
- Về căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế có thể được xác định trên cơ sở tổng trị giá các tài sản
thuộc sở hữu cá nhân (bất động sản, động sản, tiền vốn,...) trừ đi các khoản chi
phí, tiền vay để tạo thành tài sản; có thể là giá trị riêng từng loại tài sản trong diện
đánh thuế thuộc sở hữu của một cá nhân (cho tài sản là xe ôtô, tàu, thuyền, các
phương tiện vận tải,...). Giá tính thuế tài sản, thường được căn cứ theo giá thị
trường tại thời điểm đánh thuế tài sản, một số trường hợp khó xác định giá trị thị
trường thì áp dụng giá tính thuế do Chính phủ qui định.
- Về thuế suất
Các loại thuế bất động sản thu hàng năm như thuế đất, thuế trị giá đất, thuế
nhà thuế chuyển nhượng tài sản (trừ thuế quà biếu, quà tặng và thuế thừa kế)
thường đánh theo thuế suất tỷ lệ trên giá trị tài sản chịu thuế, với mức động viên

17
thấp. Thuế suất qui định đối với tài sản thừa kế hoặc tài sản biếu tặng thường cao
hơn và được đánh luỹ tiến. Mức độ luỹ tiến phụ thuộc vào mối quan hệ giữa
người nhận tài sản với người tặng quà hoặc người cho thừa kế.

1.6 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong việc xây dựng hệ thống
thuế tài sản.
Từ những chính sách thuế tài sản được áp dụng ở một số nước trên thế
giới, ta có thể rút ra một số kinh nghiệm khi xây dựng chính sách thuế tài sản ở
Việt Nam như sau:
Thứ nhất, việc đánh thuế tài sản chỉ nên giới hạn ở những tài sản có giá trị
lớn và dễ kiểm tra, kiểm soát theo yêu cầu quản lý của nhà nước. Nguyên lý này
một mặt đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế tài sản, một mặt tạo ra hiệu ứng
“luỹ tiến“ so với thu nhập. Đa số những người chỉ sở hữu những tài sản có giá trị
nhỏ là những người có mức thu nhập thấp thì cũng không cần thiết phải đánh

bởi vì giá quá “xơ cứng” không theo kịp diễn biến thực tế, không đáp ứng được
yêu cầu thực hiện chính sách động viên ngân sách nhà nước và phục vụ cho hoạt
động quản lý đất đai.

Thứ ba, thuế đánh vào tài sản có thể thực hiện một lần nhưng cũng có thể
thực hiện nhiều lần hoặc kết hợp. Việc đánh thuế một lần vào tài sản thường được
áp dụng đối với những tài sản lần đầu được xây dựng, mua sắm hay chuyển giao.
Loại thuế này được áp dụng là thuế trước bạ hay còn gọi là thuế đăng ký
tài sản, thuế thừa kế, thuế quà biếu, quà tặng. Loại thuế đánh nhiều lần vào tài
sản, thuế suất thường phải rất thấp, vì nguồn nộp thuế tài sản bị giới hạn bởi thu
nhập hiện tại của chủ sở hữu. Hơn nữa, do thuế tài sản là thuế trực thu, hệ số co
giãn cung của đối tượng đánh thuế rất nhỏ (nhất là đối với bất động sản) nên khả
năng chuyển thuế của đối tượng nộp thuế hầu như không xảy ra. Vì vậy, nếu thuế
tài sản đánh hàng năm với mức thuế quá cao sẽ vượt quá khả năng của đối tượng
nộp thuế.
Thứ tư, việc đánh thuế tài sản cần phải được kết hợp một cách chặt chẽ
với các hình thức thuế thu nhập từ tài sản và phải đặt trong mối quan hệ biện
chứng với các loại thuế thu nhập khác. Nguyên lý xuất phát từ chỗ người chiếm
hữu tài sản thường có lợi thế hơn những người khác. Do vậy, họ có dễ dàng có
được thu nhập lớn từ việc đầu cơ tích trữ tài sản, hoặc từ việc được hưởng lợi
ngẫu nhiên do sự đầu tư của nhà nước. Do đó, thu nhập chênh lệch từ việc mua
bán, trao đổi tài sản cần phải đánh thuế cao, một mặt làm hạn chế tình trạng đầu
cơ, một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội.
19

20
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THUẾ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM

2.1 Khái quát lịch sử hình thành thuế tài sản ở Việt Nam
2.1.1 Thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945
Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, các chính sách thuế lấy đối tượng
đánh thuế là tài sản đã hình thành ở Việt Nam khá lâu và được áp dụng rộng rãi,
là thuế đánh vào những người có ruộng đất, vì nền kinh tế lúc đó dựa vào kinh tế
đất đai là tài sản có giá trị nhất và là tài sản duy nhất thực sự có giá trị của dân
chúng có thể đánh thuế được.

Từ năm 1862, khi mới chiếm 3 tỉnh miền đông, thực dân Pháp đã ban hành
ngay các sắc thuế để vơ vét của cải ở Đông Dương, trong đó có các sắc thuế lấy
đối tượng đánh thuế là tài sản như thuế khai mỏ, thuế trước bạ văn khế, thuế điền
thổ , thuế động sản lợi tức .

2.1.2 Sau cách mạng tháng 8 năm 1945
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, để xoá bỏ các sắc thuế khắc nghiệt của
Chính quyền thực dân Pháp và nhằm để có nguồn thu phục vụ công tác quản lý
điều hành đất nước, Nhà nước đã xây dựng hệ thống thuế đầu tiên của chính
quyền cách mạng. Sau đây là những chính sách thuế lấy đối tượng đánh thuế là
tài sản ở Việt Nam sau cách mạng tháng 8 năm 1945.
(1) Thuế nông nghiệp- thuế sử dụng đất nông nghiệp

Ngày 05/12/1987, Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Nghị Định
222/HĐBT về lệ phí trước bạ áp dụng thống nhất trong cả nước, thay thế các chế
độ về thuế trước bạ cũ. Chế độ thu lệ phí trước bạ hiện nay được thực hiện theo
Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 22/12/99 về lệ phí trước bạ của Chính phủ.
(5) Các loại thuế khác
Bên cạnh các loại thuế tài sản trên, nhà nước còn ban hành các loại thuế tài
sản khác để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội.
- Thuế tài nguyên: được quản lý thu theo Pháp lệnh thuế tài nguyên được
Hội Đồng Nhà nước thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1991 và được
Quốc hội sửa đổi, bổ sung vào ngày 16/1/1998.
- Tiền thuê đất: Chế độ thu tiền thuê đất hiện nay được qui định tại Nghị
định 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/12/2004 về hướng dẫn thi hành
Luật đất đai năm 2003. Tiền thuê đất là khoản thu đối với tổ chức, cá nhân ở

22

Trích đoạn Xây dựng Luật thuế đăng ký tài sả n Xây dựng Luật thuế sử dụng đất Một số điều kiện khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status