Thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh ngân hang VPbank yên phụ tây hồ hà nội - Pdf 25

Nguyễn Bình Minh
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 2007, kinh tế Việt Nam phát triển trong điều kiện khó khăn
nhiều hơn thuận lợi so với các năm trước. Thành tựu lớn nhất năm 2007 của
nền kinh tế nước ta là các dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của các dự án
(kể cả các dự án bổ sung vốn) đạt 20,3 tỉ USD, là mức cao nhất từ trước đến
nay. Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta vẫn tăng GDP cao, đứng thứ 3 châu Á
(sau Trung Quốc và Ấn Độ).
Trong bối cảnh chung đó, nổi bật lên vai trò và sự đóng góp của các
hoạt động đổi mới trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ.Những nỗ lực kiềm chế
và kiểm soát lạm phát, nâng cao khả năng tiết kiệm trong nước, thu hút vốn
nước ngoài để đầu tư phát triển, mở mang các quan hệ kinh tế đối ngoại…đã
thúc đẩy mạnh mẽ quá trình ổn định, khôi phục và nâng cao tốc độ tăng
trưởng.
Hiện nay trên căn bản của môi trường phát triển mới, nền kinh tế nước
ta đang phải đối mặt với những thách thức mới.Với tương quan mới của các
mục tiêu kinh tế chung, trong đó tăng trưởng cao lâu bền là mục tiêu hàng
1
1
Nguyễn Bình Minh
đầu.Những mục tiêu đó đặt ra cho chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng
với tư cách là một trong những yếu tố quan trọng trong việc không ngừng
đổi mới và phát huy hệ thống thanh toán nhất là thanh toán không dung tiền
mặt. Đây là nội dung chủ yếu đổi mới công nghệ ngân hàng thích ứng với
phát triển của đất nước thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế.
Thành công bước đầu về đổi mới pháp chế, công cụ và kỹ thuật thanh
toán đã tạo ra những chuyển biến tích cực khắc phục khó khăn tồn tại, cải
tạo đáng kể chất lượng dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế nước ta.
Nhiều ngân hàng đã mạnh dạn tích cực đầu tư vốn cho cải tiến kỹ
thuật, tăng cường cơ sở hạ tầng, tiếp cận với công nghệ mới thu được kinh
nghiệm cho các bước tiếp theo như : NHCT Việt Nam, NHNT Việt Nam,

CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT
1.1.Khái quát về thanh toán tiền tệ trong nền kinh tế :
1.1.1.Sự cần thiết và vai trò của thanh toán tiền tệ trong nền kinh
tế:
4
4
Nguyễn Bình Minh
Để hiểu được tác dụng của tiền đối với nền kinh tế, chúng ta phải hiểu
một cách chính xác tiền là gì ? Chúng ta phải xem xét các chức năng của tiền
tệ và xem vì sao và bằng cách nào chúng thúc đẩy tính hiệu quả của nền kinh
tế qua việc xem xét dạng của nó đã tiến triển như thế nào qua thời gian…
Từ tiền được dùng một cách tự nhiên trong các cuộc nói chuyện hàng
ngày, nó có thể có nhiều nghĩa, nhưng đối với các nhà kinh tế nó có một
nghĩa riêng. Các nhà kinh tế định nghĩa tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận
chung trong việc thanh toán hàng hoá hoặc dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả
các món nợ.
Trong cuộc sống hàng ngày đồng tiền là tiền giấy hay tiền kim loại và
hầu hết chúng nói về “tiền” tức là họ đang nói về tiền mặt. Định nghĩa về
tiền đơn thuần là tiền mặt ( Tiền giấy hay tiền kim loại ) thì quá hẹp với các
nhà kinh tế. Do séc cũng được chấp nhận như tiền trả khi mua, nên các món
gửi ở dạng tài khoản séc cũng được coi là tiền, ngoài ra chúng ta còn có
những khoản khác như séc du lịch hay tiền gửi tiết kiệm đôi khi có thể dùng
để trả cho hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể có tác dụng hữu hiệu như tiền nếu
chúng có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng và dễ dàng thành tiền mặt
hoặc thành món gửi ở dạng tài khoản séc.
5
5
Nguyễn Bình Minh

khuyến khích chuyên môn hoá và phân công lao động.
Để một hàng hoá hoạt động một cách hữu hiệu như tiền thì phải đạt
được một số chuẩn mực:
7
7
Nguyễn Bình Minh
• Nó phải tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng, làm dễ dàng cho
việc xác định giá trị của nó.
• Nó phải được chấp nhận một cách rộng rãi.
• Nó phải, có thể chia nhỏ được để dễ dàng trao đổi.
• Nó phải dễ chuyên chở
• Nó phải không bị hư hỏng một cách nhanh chóng
- Thước đo giá trị (Đơn vị đánh giá):
Chức năng thứ 2 của tiền là làm đơn vị đánh giá nghĩa là nó được
dùng để đo giá trị trong nền kinh tế. Chúng ta đo các giá trị của hàng hoá và
dịch vụ bằng tiền. Chức năng này rất quan trọng trong nền kinh tế sản xuất
hàng hoá và chỉ có ở nền kinh tế sản xuất hàng hoá thì tiền tệ mới có chức
năng này. Chúng ta thử nhìn lại nền kinh tế trao đổi khi hàng hoá chưa phát
triển. Ví dụ nền kinh tế này chỉ có 3 mặt hàng thì chúng ta phải cần có 3 giá
để chúng ta biết phải làm thế nào để trao đổi thứ này với thứ khác, nếu có 10
mặt hàng thì ta phải cần bao nhiêu giá? phải cần 45 giá để trao đổi một thứ
hàng hoá này với một thứ hàng khác và nếu có 100 mặt hàng thì ta cần tới
4950 giá ( Công thức để tính số giá chúng ta cần khi có N mặt hàng là N(N-
1)/2 ) và cứ thế tăng lên nếu không có vật trung gian là tiền tệ để định giá
8
8
Nguyễn Bình Minh
bằng đơn vị tiền cho tất cả các mặt hàng. Chúng ta có thể nhận thấy rằng
việc dùng tiền làm một đơn vị đánh giá giảm được chi phí thời gian để giao
dịch trong một nền kinh tế nhờ giảm số giá cần phải xem xét. Cái lợi của

nên đây là câu trả lời cho câu hỏi tại sao người ta có ý định giữ nó ngay cả
nếu nó không phải là nơi chứa giá trị một cách hấp dẫn nhất. Tiền là nơi
chứa giá trị tốt đến mức nào tuỳ thuộc vào mức giá cả do giá trị của nó được
ấn định theo mức giá cả. Nếu các giá đều tăng gấp 2 chẳng hạn nghĩa là giá
trị của tiền đã sụt một nửa và ngược lại.
10
10
Nguyễn Bình Minh
1.1.2.Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh
tế :
Qua nghiên cứu sự tiến triển của hệ thống thanh toán chúng ta có thể
thấy sự cần thiết khách quan và rất quan trọng của thanh toán không dùng
tiền mặt đối với nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhất là trong giai đoạn phát
triển có nhiều mối quan hệ đa chiều rất phức tạp đó là:
- Tổ chức tốt công tác thanh toán không dùng tiền mặt sẽ góp phần
đẩy nhanh tốc độ thanh toán và tốc độ chu chuyển vốn của nền kinh tế.
- Thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
- Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần làm giảm khối lượng tiền
trong lưu thông, kìm hãm và đẩy lùi lạm phát.
- Thanh toán không dùng tiền mặt sẽ làm giảm thiểu tới mức tối đa
các chi phí giao dịch trong xã hội.
11
11
Nguyễn Bình Minh
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho Ngân hàng tập
trung tăng cường nguồn vốn để đầu tư đúng chỗ có hiệu quả cho sự phát
triển kinh tế. Qua hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ tập trung
được các khoản thanh toán giữa các khách hàng mở tài khoản ở các Ngân
hàng, muốn thanh toán được thì trên tài khoản thanh toán phải luôn có số dư,
điều này đã tạo ra được một nguồn vốn nhàn rỗi và tập trung vào Ngân hàng.

13
13
Nguyễn Bình Minh
1.1.3.2. Những quy định đối với khách hàng (Đơn vị và cá nhân) :
- Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể, đơn vị vũ trang, công
dân Việt Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (Gọi
chung là đơn vị và cá nhân) được quyền lựa chọn Ngân hàng để mở tài
khoản giao dịch và thanh toán…
- Các đơn vị dự toán Ngân sách Nhà nước mở tài khoản tại kho bạc
Nhà nước
- Để đảm bảo thực hiện thanh toán đầy đủ kịp thời, các chủ khoản
(bên trả tiền) phải có đủ tiền trên tài khoản. Mọi trường hợp thanh toán vượt
quá số dư tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước là phạm pháp
và phải bị xử lý theo pháp luật.
- Việc thanh toán giữa các đơn vị phải dựa trên hợp đồng kinh tế.
Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán khi 2 bên mua và bán không có
hợp đồng hoặc không đủ các giấy tờ hợp lệ.
14
14
Nguyễn Bình Minh
- Tất cả các chứng từ thanh toán qua Ngân hàng do khách hàng nộp
vào Ngân hàng phải được lập trên mẫu do Ngân hàng ấn hành, nhượng bản.
Phải lập đủ liên, viết rõ ràng, đầy đủ, chính xác các yếu tố theo quy định.
Mọi giấy tờ phải có dấu, chữ ký của chủ tài khoản, của kế toán trưởng đúng
với mẫu dấu, chữ ký đã đăng ký tại Ngân hàng.
- Khách hàng phải thực hiện đầy đủ và đúng đắn những quy định
trong thể lệ thanh toán của Ngân hàng.
1.1.3.3.Những quy định đối với Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước :
- Phải cung cấp đầy đủ và kịp thời các loại mẫu giấy tờ thanh toán cho
khách hàng.

đầy đủ các yếu tố (séc khống chỉ) nếu vi phạm điều này dễ dẫn đến bị lợi
dụng phải chịu thiệt hại và sẽ bị Ngân hàng, Kho bạc hay tổ chức tín dụng
thu hồi tất cả các tờ séc còn lại chưa sử dụng khi được phát hiện vi phạm.
Đơn vị chi trả phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc chi trả quá số
dư trên tài khoản tiền gửi. Nếu vi phạm phải chịu phạt theo quy định.
Phát hành séc quá số dư lần đầu sẽ bị nhắc nhở và phạt tiền về vi
phạm hợp đồng.
Nếu đơn vị chi trả tái phạm phát hành quá số dư lần thứ 2, thì Ngân
hàng, Kho bạc hoặc nơi chủ tài khoản vi phạm sẽ bị xử lý như sau:
17
17
Nguyễn Bình Minh
• Đình chỉ việc phát hành séc trong 6 tháng, sau đó phải có cam
kết của chủ tài khoản không vi phạm thì mới được phát hành
séc.
• Thu hồi toàn bộ tờ séc trắng chưa sử dụng.
• Nếu tiếp tục vi phạm thì chủ tài khoản sẽ bị đình chỉ hẳn việc
phát hành séc.
Người phát hành séc phải chấp hành đầy đủ những quy định về việc
thanh toán do Ngân hàng ban hành như việc phát hành séc và bảo quản
những tờ séc trắng.
1.1.3.5. Quy định đối với người thụ hưởng:
Khi nhận được tờ séc của bên chi trả phải kiểm tra đầy đủ các yếu tố
trên tờ séc về tính hợp lệ và không có giá trị thanh toán. Nếu tờ séc quá thời
hạn hiệu lực thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu người chi trả phát hành
séc mới để đổi tờ séc đã quá hạn được hưởng.
18
18
Nguyễn Bình Minh
Đối với những hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm chi, thư tín dụng

Mỗi mô hình thanh toán có nội dung kinh tế và yêu cầu kỹ thuật hạch
toán khác nhau nên đòi hỏi phải có bộ chứng từ, các tài khoản và kỹ thuật
hạch toán phù hợp với từng hình thức thanh toán. Còn việc vận dụng hình
thức thanh toán nào là hoàn toàn do sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán
và Ngân hàng có trách nhiệm hướng dẫn cho khách hàng lựa chọn hình thức
thanh toán nào là thuận lợi nhất, hợp lý nhất cho khách hàng.
20
20
Nguyễn Bình Minh
1.1.4.1.Thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu:
Uỷ nhiệm thu được áp dụng trong thanh toán tiền hàng và dịch vụ (trả
tiền điện, nước, cước phí bưu điện…) giữa người mua và người bán trên cơ
sở hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng. Thanh toán uỷ nhiệm thu xuất phát do
người bán lập và nộp vào ngân hàng nơi mình mở tài khoản, để uỷ nhiệm
cho Ngân hàng thu hộ số tiền của người mua theo chứng từ thanh toán hợp
lệ, hợp pháp.
Uỷ nhiệm thu có thể thanh toán trong phạm vi một Ngân hàng hay hai
Ngân hàng cùng hệ thống hoặc khác hệ thống. Tuy nhiên trong nền kinh tế
thị trường hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu thường là thanh toán
chậm trễ, vì chứng từ xuất phát từ bên thụ hưởng song theo nguyên tắc đòi
hỏi phải ghi nợ trước, ghi có sau nên chứng từ phải luân chuyển qua nhiều
khâu gây vòng vèo ách tắc trong thanh toán.
21
21
Nguyễn Bình Minh
1.1.4.2.Thể thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi - chuyển tiền :
Uỷ nhiệm chi thực chất là lệnh chi tiền của chủ tài khoản lập theo mẫu
in sẵn của Ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản
tiền gửi) trích chuyển một khoản tiền từ tài khoản của mình trả cho người
thụ hưởng.

Nguyễn Bình Minh
Hình thức này chủ yếu được sử dụng trong thanh toán quốc tế, nơi mà
người mua và người bán thường không quen biết nhau nên họ phải thận
trọng trong quá trình thanh toán.
1.1.4.4.Thể thức thanh toán bằng Ngân phiếu thanh toán:
Ngân phiếu thanh toán là phương tiện thanh toán thay tiền mặt do
Ngân hàng Nhà nước độc quyền phát hành.Ngân phiếu thanh toán dùng để
chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ, trả nợ, làm nghĩa vụ Ngân sách, nộp vào tài
khoản tiền gửi tại Ngân hàng, gửi tiết kiệm…
Ngân phiếu thanh toán có ghi mệnh giá (gồm 6 loại từ 100.000 đồng
đến 50.000.000 đồng) có thời hạn lưu hành, không ghi tên và được chuyển
nhượng không phải qua 1 thủ tục nào, phạm vi thanh toán rộng khắp trong
cả nước.
24
24
Nguyễn Bình Minh
Đặc điểm của Ngân phiếu thanh toán là mênh giá cao nên gọn, nhẹ,
thanh toán rất thuận tiện gần như thanh toán bằng tiền mặt nên hiện nay
được ưu dùng ( chỉ khác tiền mặt là Ngân phiếu thanh toán có quy định thời
hạn ). Nghiệp vụ thu - chi Ngân phiếu thanh toán cũng rất nhanh chóng,
thuận tiện. Khi khách hàng không sử dụng Ngân phiếu thanh toán nữa hay
khi Ngân phiếu hết thời hạn lưu hành, họ có thể nộp Ngân phiếu vào Ngân
hàng để ghi có vào tài khoản tiền gửi của mình hoặc đổi lấy tiền mặt hoặc
đổi lấy Ngân phiếu đang còn giá trị lưu hành vì Ngân phiếu thanh toán chỉ
được lưu hành trong thời hạn quy định ghi trên tờ Ngân phiếu, Ngân hàng cơ
sở có trách nhiệm tiếp nhận Ngân phiếu thanh toán hết hạn sử dụng (chậm
nhất là ngày ghi sẵn trên tờ Ngân phiếu) và điều chuyển ngay về Ngân hàng
Nhà nước Trung ương. Nếu quá hạn thì người có Ngân phiếu thanh toán phải
chịu một tỷ lệ phạt theo quy định và được đổi lấy Ngân phiếu thanh toán
mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status