1
LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển của Vật lý Kỹ thuật nói chung và Vật lý Hạt nhân nói riêng,
thành quả đạt được từ nghiên cứu trong lĩnh vực này ngày càng được ứng dụng rộng
rãi, đặc biệt là trong hiện đại hóa các ngành công nghiệp. Nổi bật trong số đó là ứng
dụng đồng vị phóng xạ để kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm mà không phải
phá hủy chúng.
Quét gamma là phương pháp tốt nhất trong những kỹ thuật ứng dụng đồng vị
phóng xạ để kiểm tra không phá hủy mẫu. Các chùm tia gamma trực chuẩn truyền
qua mẫu khảo sát cho ta biết được những thông tin về kích thước và môi trường vật
chất bên trong của nó. Phạm vi khảo sát của phương pháp này khá rộng lớn, trong
khóa luận này, đối tượng được chọn lựa nghiên cứu là vùng cặn đóng bám bên
trong đường ống dẫn.
Việt Nam có một vùng biển chủ quyền lâu đời với vô số tài nguyên khoáng
sản, đặc biệt là dầu khí. Vì vậy, để đáp ứng tốc độ phát triển của đất nước, ngành
công nghiệp khai thác dầu khí đã liên tục phát triển không ngừng, đồng hành với đó
là hàng nghìn ki-lô-mét đường ống dẫn được đưa vào sử dụng cho việc vận chuyển
nguyên liệu và sản phẩm. Bên cạnh đó, nền nông nghiệp truyền thống với lúa nước,
cây ăn quả nhiệt đới và những cây công nghiệp ngắn hay dài ngày đều cần các hệ
thống cấp nước tưới tiêu kịp thời và đảm bảo vệ sinh. Ngoài ra, các hệ thống đường
ống cung cấp nước sạch và dẫn xả chất thải quy mô rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt và sản xuất ở các đô thị. Như vậy, có thể thấy rằng việc lưu thông vật chất
bằng đường ống dường như hiện hữu ở mọi nơi và rất thường nhật, đáp ứng những
nhu cầu từ cơ bản đến phức tạp.
Với những nhiệm vụ to lớn và liên tục như thế, nếu không có những biện
pháp kiểm tra và xử lý kịp thời, trong trường hợp có vấn đề gây tắc nghẽn sự lưu
thông của dòng vật chất thì rất có thể sẽ dẫn đến những hậu quả to lớn và nghiêm
trọng về kinh tế và sức khỏe con người.
2
Trong đề tài này, tác giả thực hiện việc “ Xây dựng hệ khảo sát hiện tượng
đóng cặn đường ống” nhằm ứng dụng kỹ thuật quét gamma để giải quyết vấn đề
Tuy nhiên, những dịch vụ trên chỉ mới có mặt ở các quốc gia có nền công
nghiệp tiến bộ trên thế giới. Do đó, đây vừa là khó khăn nhưng cũng vừa là cơ hội
tốt cho các nước đang phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
4
1.1.3. Tình hình phát triển và tiềm năng của kỹ thuật quét gamma ở nước ta
Công tác kiểm tra không phá hủy mẫu đã được áp dụng trong các ngành
công nghiệp ở Việt Nam trong nhiều năm nay, bằng các phương pháp quen thuộc
như chụp ảnh phóng xạ, siêu âm hay thẩm thấu. Tuy nhiên, việc áp dụng phương
pháp quét gamma dường như vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu. Điều này
dẫn đến bất lợi cho các ngành công nghiệp ở nước ta, vì mỗi khi muốn áp dụng việc
kiểm tra bằng phương pháp này thì đều phải dựa vào các công ty kiểm định ngoài
nước với mức chi phí không hề nhỏ.
Bộ môn Vật lý Hạt nhân trực thuộc Khoa Vật lý – Vật lý Kỹ thuật của
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã chế tạo thành công “ Hệ đo tán xạ gamma để
xác định bề dày của vật liệu”. Bên cạnh đó, hiện nay Bộ môn cũng đang nghiên cứu
việc thiết kế tích hợp cả 2 kỹ thuật gamma tán xạ và gamma truyền qua cùng nằm
trong một hệ đo.
Trên cơ sở các thiết bị kỹ thuật có sẵn của Bộ môn và một số thiết bị tự chế
tạo khác, dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thiện Thanh, em đã thực hiện khóa luận
“ Xây dựng hệ khảo sát hiện tượng đóng cặn đường ống” và thu được nhiều kết quả
tích cực. Những kết quả này đã khẳng định được sự thành công của hệ khảo sát ở
quy mô phòng thí nghiệm và tính khả thi của việc ứng dụng kỹ thuật quét gamma.
1.2. Tương tác của bức xạ gamma đối với vật chất
Bức xạ γ là sóng điện từ có bước sóng nhỏ hơn khoảng cách giữa các nguyên
tử (λ
γ
<<a, với a có giá trị khoảng 10
-8
cm), bức xạ này ngoài tính chất sóng còn
được hình dung như dòng hạt nên gọi là bức xạ γ. Giới hạn năng lượng thấp nhất
c) Hiệu ứng tạo cặp.
1.2.1. Hiệu ứng quang điện
Bức xạ γ va chạm không đàn hồi với nguyên tử và trao toàn bộ năng lượng
của mình cho electron liên kết của nguyên tử. Một phần năng lượng này giúp cho
electron thắng lực liên kết, phần còn lại trở thành động năng của electron.
Theo định luật bảo toàn năng lượng:
E = T
e-
+ I
0
(1.2)
với I
0
: năng lượng liên kết của electron trong nguyên tử.
T
e-
: động năng của electron.
6
Động lượng của hệ được bảo toàn do sự giật lùi của nguyên tử. Do điều kiện
bảo toàn năng lượng và động lượng electron tự do không thể hấp thụ hay bức xạ
một photon. Do đó, hiệu ứng quang điện xảy ra mạnh nhất đối với bức xạ γ có năng
lượng cùng bậc với năng lượng liên kết của electron trong nguyên tử. Đối với các
eletron nằm ở các lớp vỏ nguyên tử sâu và nguyên tử có bậc số nguyên tử Z lớn,
năng lượng liên kết của electron càng lớn. Vì vậy, khoảng năng lượng của bức xạ γ
cao hơn tia X, hiệu ứng quang điện chủ yếu xảy ra ở lớp K (30%). Mặt khác, hiệu
ứng quang điện tăng mạnh đối với môi trường vật chất có bậc số nguyên tử lớn.
Hình 1.1: Hiệu ứng quang điện
Tiết diện của hiệu ứng quang điện phụ thuộc vào năng lượng của bức xạ γ và
loại nguyên tử. Cụ thể là tiết diện hấp thụ tỉ lệ với Z
5
ρ: là khối lượng riêng (g/cm
3
).
Do vậy, τ tỉ lệ thuận với σ
f
(E). Trong khoảng năng lượng liên kết của
electron trong nguyên tử, tiết diện hấp thụ σ
f
(E) lớn hơn rất nhiều so với tiết diện
của các quá trình khác. Khi tăng năng lượng, tiết diện hấp thụ σ
f
(E) giảm mạnh, vì
khi đó electron trong nguyên tử được xem như electron tự do. Ví dụ, với Al ta có:
σ
f
6.10
-18
cm
2
ở E = 1 keV.
σ
f
6.10
-25
cm
2
ở E = 0,1 MeV. [3]
Hiệu ứng quang điện là cơ cấu hấp thụ chủ yếu ở vùng năng lượng thấp, vai
trò của nó trở nên không đáng kể ở vùng năng lượng cao. Đây cũng là vùng hiệu
ứng chủ yếu mà ta quan tâm trong quá trình khảo sát cặn trong ống của chúng ta.
2
e
2
/(M
nuc
c
2
), rất nhỏ. [3]
1.2.3. Hiệu ứng tạo cặp
Khi năng lượng của bức xạ γ lớn hơn rất nhiều so với 2m
0
c
2
(bằng 1,022
MeV) thì quá trình tương tác chính của γ lên vật chất là sự tạo cặp electron –
positron. Cặp e
-
, e
+
sinh ra trong trường điện từ của nhân, khi đó bức xạ γ biến mất
(hấp thụ hoàn toàn) và năng lượng của nó truyền hết cho cặp e
-
, e
+
và nhân giật lùi.
9
Năng lượng giật lùi của nhân không đáng kể, do đó biểu thức định luật bảo toàn
năng lượng được viết như sau:
E = T
-
2
= 1,022
MeV). Do đó, hiệu ứng tạo cặp có thể bỏ qua khi năng lượng của bức xạ γ nhỏ hơn
1,022 MeV. Trên ngưỡng năng lượng này, tiết diện tương tác tăng dần và đạt đến
một giá trị không đổi ở năng lượng rất cao (~ 1000m
0
c
2
). Giá trị này bằng σ
π
0,08Z
2
r
0
2
, với r
0
là bán kính cổ điển của electron.
Hình 1.4 : Hiệu ứng tạo cặp.
Vì cả hiệu ứng quang điện và hiệu ứng Compton có tiết diện tán xạ giảm đến
không ở khoảng năng lượng rất cao, nên sự tạo cặp ở vùng này là cơ chế chủ yếu
hấp thụ bức xạ γ. Cặp e
-
, e
+
có thể tạo được tạo bởi photon không chỉ trong trường
Tia γ tới
10
Coulomb của nhân, mà còn của electron. Tuy nhiên, quá trình sau dẫn đến sự hấp
(1.8)
Khi xét đến tiết diện tán xạ, cần chú ý rằng tâm tán xạ của hiệu ứng quang
điện và sự tạo cặp là nguyên tử, còn của hiệu ứng Compton là electron, ta có :
μ = nσ
f
+ nZσ
c
+ nσ
π
(1.9)
t (cm)
I (I
0
)
t
11
với n là số nguyên tử trong một đơn vị thể tích của môi trường. Số hạng thứ nhất
trong (1.8) chiếm ưu thế ở miền năng lượng thấp, số hạng thứ hai chiếm ưu thế ở
miền năng lượng trung bình (vài MeV) và số hạng thứ ba chiếm ưu thế ở miền năng
lượng cao. Do đó, hệ số hấp thụ tuyến tính toàn phần có cực tiểu trong khoảng mà
hiệu ứng Compton chiếm ưu thế. Cực tiểu này càng rõ nét đối với các nguyên tố
nặng vì μ
f
, μ
π
lần lượt tỉ lệ với Z
5
và Z
2
, trong khi đó μ
• Môi trường vật chất bên trong ống (khí, lỏng hoặc rắn)
Giá đỡ nguồn và đầu dò cần thiết phải trực chuẩn và luôn luôn giữ khoảng
cách cố định trong quá trình khảo sát. Nguồn phải được bao bọc bằng một ống
chuẩn trực có độ sâu tối thiểu là 6 đến 8 mm và đường kính trong khoảng một bước
dịch chuyển nhằm để hạn chế bức xạ phóng ra có dạng chùm phân kì. Đầu dò cũng
phải được bao phủ xung quanh để cho kết quả ghi nhận tốt nhất có thể.[5]
1.3.2. Cơ sở lý thuyết của kỹ thuật quét khảo sát cặn trong ống
Nguyên lý cơ bản: cường độ của bức xạ gamma bị hấp thụ bên trong vật chất
khi đi từ nguồn đến đầu dò được mô tả bởi quy luật truyền qua:
I = I
0
.exp(-μ
m
.ρ.x) = I
0
.exp(-μ.x) (1.11)
I là cường độ bức xạ sau khi truyền qua vật chất
I
0
là cường độ bức xạ ban đầu
μ
m
là hệ số hấp thụ khối của vật chất (cm
2
/g)
μ là hệ số hấp thụ tuyến tính của vật chất (cm
-1
)
ρ là mật độ vật chất đặc trưng của từng loại vật liệu (g/cm
3
xác định quãng đường x bằng cách đo khoảng cách từ nguồn phóng xạ đến đầu dò.
Ta thực hiện phép đo tiết diện mặt cắt của ống theo hệ đo ngang đã bố trí, ghi nhận
một bộ số liệu của cường độ bức xạ truyền qua I theo từng góc xoay đều xác định.
Chuyển phương trình (1.11) về dạng :
μ = ln(I
0
/I)/x (1.12)
Sau khi đã có các số liệu ρ theo từng góc xoay, ta sử dụng thuật toán dựng ảnh hai
chiều để mô phỏng hình ảnh bên trong ống. Thông qua hình ảnh tái tạo, ta dễ dàng
xác định được bề dày của cặn đóng bám bên trong ống.
1.4. Nhận xét chương 1
Trong chương này, khóa luận đã trình bày vấn đề cơ bản và khái quát nhất về lý
thuyết tương tác của bức xạ gamma với vật chất. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã giới
thiệu một cách tổng quan nhất về tình hình phát triển của kỹ thuật quét gamma
trong và ngoài nước, cũng là mục tiêu chính được nghiên cứu trong khóa luận này.
CHƯƠNG 2
BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM
2.1. Hệ tải vận chuyển hệ đo
2.1.1. Mô hình hóa – Các thông số dự kiến
• Hai trụ chính của hệ, đồng thời cũng là thanh trượt của hệ: vật liệu sắt, đường kính
2 cm, dài 100 cm.
14
• Tấm sắt đặt động cơ: diện tích bề mặt (40x20) cm
2
, dày 0,5 cm. Khoan 3 lỗ thẳng
hàng, cách đều nhau 10 cm đường kính 1 cm, lỗ giữa là tâm hình chữ nhật, dùng để
luồn dây cáp, 2 lỗ còn lại để cố định 2 thanh trụ.
• Tấm sắt đế: diện tích bề mặt (40x40) cm
2
; dày 1cm. Khoan 2 lỗ cách nhau 20 cm,
• Dây cáp tải: đường kính 0,2 cm, dài 120 cm.
• Động cơ tải: sử dụng nguồn DC 24V, cường độ 2A, tải trọng tối đa 8 kg.
15
• Thước đo độ cao dịch chuyển: thước dây dài 100 cm, một đầu gắn cố định với tấm
đặt động cơ, đầu còn lại gắn cố định với tấm đế.
Hai trụ chính
Cáp tải
Thước đo
độ cao
Thanh giá đỡ
hình chữ U
Động cơ tải
16
Hình 2.1: Mô hình hóa và thực tế của hệ đo.
• Hộp điều khiển
Hình 2.2: Hộp điều khiển và sơ đồ mạch điều khiển
Khi đóng khóa K, mạch vẫn hở. Khi ta nhấn nút số 1, dòng điện đi qua của
động cơ, tạo nên lực từ khiến nó quay (theo chiều đưa hệ đi lên), bánh xoay gắn cố
định trên động cơ truyền động cho dây cáp nối với hệ đo, vận chuyển hệ đo đi lên,
khi hệ đo lên tới độ cao mong muốn, ta ngừng nhấn nút số 1, mạch lại tiếp tục hở,
động cơ ngừng quay. Tương tự, khi nhấn nút số 2, động cơ cũng sẽ quay nhưng sẽ
theo chiều ngược lại.
• Hệ tọa độ đo ngang
Một vị trí hình tròn cố định ống, đường kính 12 cm. Trên vành tròn, đánh
dấu các góc cố định cần thiết cho phép đo khi xoay ống. Đặt 7 vạch ngang mỏng,
cách đều nhau 1 cm.
Hình 2.3: Hệ tọa độ đo ngang.
Vị trí đặt ống
• Hoạt độ: 10μCi.
• Chu kì bán rã: 30,17 năm.
• Đường kính ngoài: 4 cm.
• Đường kính phát bức xạ: 0,3 cm.
• Mục đích: khảo sát chi tiết vùng có đóng cặn, tạo nguồn cung cấp số liệu cho quá
trình dựng ảnh. Gồm khảo sát dọc theo chiều cao và khảo sát ngang theo tiết diện
mặt cắt ở vùng ống có cặn.
• Colimator: là một khối chì đa diện dày 4,2 cm, mặt chính là hình vuông có cạnh 6,1
cm. Bên trên mặt chính là một khối hình trụ dẹt dày 1 cm, đường kính đáy ngoài là
4,5 cm và đường kính đáy trong là 4,1 cm. Tại tâm mặt sau, tiện một hình trụ sâu
1,9 cm, đường kính đáy là 4,1 cm dùng để đặt nguồn vào. Tại tâm mặt chính khoan
một lỗ tròn đường kính 0,3 cm tạo nên một ống chuẩn trực cho nguồn.
• Chì che chắn phía sau: là hình hộp chữ nhật dày 2 cm, rộng 4 cm và cao 5,5 cm.
Lớp che chắn này nhằm tăng tính an toàn trong quá trình tiến hành khảo sát.
Hình 2.6: Nguồn điểm trước và sau khi đã được che chắn
19
Hình 2.7: Colimator của nguồn điểm.
2.3. Hệ ghi nhận
2.3.1. Detector nhấp nháy NaI (Tl)
• Cấu hình: là tinh thể NaI (Tl) hình trụ, đường kính tinh thể là 2,54 cm, dày 2,3 cm;
đường kính ngoài là 4 cm, tổng chiều dài của detector là 25 cm.
• Nguyên tắc hoạt động: khi một bức xạ ion hóa đi vào khối nhấp nháy sẽ kích thích
các nguyên tử hay phân tử. Sau đó, với sự dịch chuyển về trạng thái cơ bản, chúng
sẽ phát ra một ánh sáng nhấp nháy, đó là các photon ánh sáng. Qua một lớp dẫn
sáng, các photon đập vào các photocathode của nhân quang điện và ở lối ra của
nhân quang điện sẽ xuất hiện một tín hiệu điện có biên độ khá lớn. Tín hiệu điện
này được đưa vào bộ tiền khuếch đại, thiết bị này có tác dụng hòa hợp tổng trở giữa
lối ra của detector và lối vào của bộ khuếch đại. Xung điện tạo thành sau khi đi qua
colimator này, ta tạo cho detector một tiết diện ghi nhận chuẩn trực xấp xỉ 9,86 cm
2
,
phù hợp cho các quá trình khảo sát chi tiết với các bước dịch chuyển nhỏ.
Hình 2.9: Detector NaI (Tl).
2.3.2. Hệ điện tử ghi nhận
• Thiết bị: máy đếm đơn kênh (SCA).
• Cao thế: 800 V, là vùng cao thế mà hệ hoạt động tối ưu, do nhà sản xuất cung cấp.
• Hệ số khuếch đại: 80, là mức khuếch đại ghi nhận tối ưu cho quá trình đo, được so
sánh và chọn ra sau khi khảo sát vùng ghi nhận của hệ theo các mức khuếch đại
khác nhau.
• Ngưỡng dưới: 70, là ngưỡng mà các số đếm chịu ảnh hưởng tối thiểu của các loại
nhiễu không mong muốn, được so sánh và chọn ra sau khi khảo sát vùng ghi nhận
của hệ theo các mức khuếch đại khác nhau.
• Ngưỡng trên: 100, là ngưỡng tối đa trong khả năng ghi nhận của hệ.
• Độ rộng cửa sổ: 30, là độ rộng được thiết lập cho mục đích đo lấy tổng số đếm (CT)
từ ngưỡng dưới đến ngưỡng trên.
• Thời gian đo: 600 giây, hoạt độ của nguồn phóng xạ tương đối nhỏ, do đó thời gian
dài sẽ giúp ghi nhận được nhiều số đếm hơn và giảm được mức độ thăng giáng
thống kê trong quá trình ghi nhận.
21
• Gồm 2 chế độ đo: chế độ đo (SCA) cho mục đích khảo sát hệ ghi nhận, chế độ đo
(CT) dùng trong tất cả quá trình khảo sát cặn trong ống dẫn với mục đích ghi nhận
tổng số đếm.
Hình 2.12: Hệ điện tử ghi nhận.
2.3.3. Hạn chế và sai số của hệ điện tử
Thời gian sử dụng của hệ đã khá lâu (hơn 30 năm) cho nên mạch điện tử hoạt
động đôi khi không ổn định, tạo nên nhiễu điện tử trong qua trình ghi nhận và khiến
quá trình đo đôi khi gián đoạn. Mặt khác, điện thế của khu vực thí nghiệm không
thật ổn định, ảnh hưởng đến cao thế của hệ có sự dao động xung quanh vùng 800 V.
Vậy độ thăng giáng tương đối gây ra bởi sự thăng giáng hiệu điện thế V sẽ là:
ΔM/M = n(ΔV/V) (3.2)
Như vậy, một thăng giáng nhỏ V của nguồn điện sẽ dẫn đến độ thăng giáng của hệ
số khuếch đại n lần lớn hơn. Do đó, việc khảo sát để tìm ra hệ số khuếch đại phù
hợp, ổn định trong thời gian đo để giảm sai số từ hệ điện tử là quá trình rất cần thiết.
Mặt khác, như đã nói ở chương 1, hiệu ứng quang điện là hiệu ứng chủ yếu
được sử dụng trong quá trình khảo sát. Do đó, cần khảo sát khoảng mà các kênh chủ
yếu xảy ra hiệu ứng này.
Việc khảo sát cũng giúp ta xác định được khoảng thời gian đo phù hợp, cần
thiết cho quá trình thực hiện các phép đo và thích hợp với tiến độ của toàn bộ quy
trình khảo sát hiện tượng đóng cặn đường ống.
23
3.1.2. Các bước chuẩn bị và tiến hành
• Nguồn đĩa Cs -137, hoạt độ 1 μCi.
• Khoảng cách từ nguồn đến detector: cố định 20 cm.
• Cài đặt các thông số trên hệ ghi nhận điện tử:
+ Cao thế: 800 V.
+ Chế độ đo SCA: đo đơn năng.
+ Kênh đầu: kênh 0.
+ Kênh cuối: kênh 100.
+ Độ rộng cửa sổ: 1 kênh.
+ Thời gian đo: 30 giây; 60 giây; 600 giây điều chỉnh tùy theo từng lần đo.
+ Mức khuếch đại khảo sát: 60; 70; 80 điều chỉnh theo mục đích khảo sát.
3.1.3. Khảo sát thông số của hệ điện tử
• Khuếch đại 60, thời gian đo 30 giây
Hình 3.1: Đồ thị khảo sát hệ số khuếch đại 60 và thời gian đo 30 giây.
Từ hình 3.1, ta nhận thấy:
+ Vùng từ kênh 0 đến kênh 50 có độ thăng giáng lớn, chứng tỏ đây chính là vùng
nhiễu điện tử lớn và tán xạ Compton.
+ Vùng từ kênh 51 đến kênh 90, độ thăng giáng có dạng phân bố Gauss, chứng tỏ đây
• Mỗi bước cách đều 1 cm, đo theo chiều dài của vùng ống có cặn bám bên trong: là
phép đo thực hiện trên một phạm vi nhỏ hơn và có khoảng cách mỗi bước nhuyễn
hơn, kết quả của nó sẽ giúp xác định được chiều cao gần đúng của cặn bám bên
trong và phần nào phát họa lên hình ảnh về độ dày của lớp cặn đó.
• Khảo sát ống theo từng vị trí xoay khác nhau:
+ Xoay ống một góc 90 độ quanh trục của nó sau khi thực hiện các quy trình khảo sát
khảo sát tại vị trí ban đầu: giúp dò tìm và phát hiện cặn bám bên trong bề mặt vuông
góc với bề mặt khảo sát đầu tiên.
+ Với 2 lần xoay ống một góc 90 độ kế tiếp: 2 phép đo này mang tính chất kiểm tra để
đảm bảo số liệu ghi nhận ở 2 lần đo trước là ổn định và đáng tin cậy.
3.2.2. Các bước chuẩn bị và tiến hành
• Nguồn đĩa Cs -137, hoạt độ 1 μCi.
• Khoảng cách từ nguồn đến detector: cố định 20 cm.
• Cài đặt các thông số trên hệ ghi nhận điện tử:
+ Cao thế: 800 V.
+ Chế độ đo CT: ghi nhận tổng số đếm.
+ Kênh bắt đầu: kênh 70.
+ Kênh cuối: kênh 100.
25
+ Độ rộng cửa sổ: 30 kênh.
+ Thời gian đo: 600 giây.
+ Mức khuếch đại: 80.
+ Ống nhựa PVC dùng khảo sát: dày 1,3cm; có cặn giả định bên trong.
• Đặt 4 vị trí xoay ống như sau:
+ Vị trí xoay thứ 1: là vị trí đặt ống ban đầu có góc xoay bằng 0 độ.
+ Vị trí xoay thứ 2: ống được xoay tròn tại chỗ theo chiều kim đồng hồ, với
góc xoay là 90 độ so với “ vị trí xoay thứ 1”.
+ Vị trí xoay thứ 3: ống được xoay tròn tại chỗ theo chiều kim đồng hồ, với
góc xoay là 180 độ so với “ vị trí xoay thứ 1”.
+ Vị trí xoay thứ 4: ống được xoay tròn tại chỗ theo chiều kim đồng hồ, với