1
Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh ở Hà Nội
(Qua truyện kể và lễ hội)
Vũ Thị Huế
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Văn học
Chuyên ngành: Văn học Dân gian; Mã số: 60 22 01 25
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Nguyệt
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Tổng quan về vùng văn hóa Hà Nội, Hà Tây (cũ) và nguồn gốc của hiện
tượng Từ Đạo Hạnh. Tìm hiểu về con người và cuộc đời Từ Đạo Hạnh. Khảo sát
truyền thuyết, lễ hội về Từ Đạo Hạnh.
Keywords. Văn học dân gian; Văn hóa dân gian; Hà Nội; Lễ hội
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ Đạo Hạnh (? - 1117) tục gọi là đức Thánh Láng, Thánh Từ, là một thiền sư
nổi tiếng Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền
thoại. Ông là một trong những hiện tượng văn hóa chứa nhiều nghịch lý.
Từ Đạo Hạnh được biết đến không chỉ là một thiền sư, ông còn là một danh nhân văn hóa
- lịch sử, một tác giả văn học. Ông có tên húy (Từ Lộ), cha ông là Từ Vinh, mẹ ông là bà Tăng
Thị Loan. Quê ông tại hương Yên Lãng, nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà
Nội. Từ một con người xác thực, Từ Đạo Hạnh đã chuyển hóa dần thành nhân vật thần linh,
truyền thuyết, nhân vật của truyện cổ tích. Ông được tôn vinh vào hàng Thánh, Thánh Láng,
thánh Từ Đạo Hạnh, tương truyền ông có phép thần thông, thác sinh làm vua Lý Thần Tông
(1128 - 1138), sau còn là hậu thân Lê Thần Tông (1619 - 1643).
Việt Nam [4], Truyền thuyết dân gian người Việt [22], Lễ hội Việt Nam [84], Kho
tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam [39]…
Có thể thấy dưới mỗi thời đại, mỗi điểm nhìn văn hóa, mỗi tư duy tiếp cận khác
nhau, các nhà biên soạn đã có những ghi chép, đánh giá riêng về hiện tượng này.
Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào, câu chuyện về Từ Đạo Hạnh vẫn luôn luôn được
thêu dệt, huyền thoại hóa, dân gian hóa.
- Về mặt nghiên cứu:
+ Nhóm các công trình nghiên cứu về lễ hội dân gian nói chung và lễ hội về Từ
Đạo Hạnh nói riêng: Hai công trình dày dặn nhất về lễ hội nói chung là Kho tàng lễ hội cổ
truyền Việt Nam và Lễ hội Việt Nam là pho từ điển về lễ hội của ba miền Bắc - Trung -
Nam đã khảo sát diện mạo cụ thể, làm rõ những đặc trưng riêng của mỗi lễ hội từ địa
điểm, thời gian tổ chức, di tích thờ cúng - nơi diễn ra lễ hội, nhân vật phụng thờ, diễn biến
lễ hội, giá trị văn hóa của lễ hội.
+ Nhóm các bài nghiên cứu về Từ Đạo Hạnh và các hiện tượng liên quan tới
nhân vật này:
Các công trình nghiên cứu về Phật giáo: Lịch sử Phật giáo Việt Nam [72], Việt Nam
Phật giáo sử lược [75], Việt Nam Phật giáo sử luận [34] đã giới thiệu về Từ Đạo Hạnh với
vai trò là vị thiền sư thuộc thế hệ thứ 12 của phái thiền Tì Ni Đa Lưu Chi thời Lý. Đặc biệt,
Từ Đạo Hạnh còn được nhắc đến như là đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng Mật giáo.
Cũng từ quan điểm triết học, Khải Nguyên có bài Từ Đạo Hạnh có phải là vị
chân tu của đạo Phật? Trong bài viết, tác giả cho rằng: nhân thân, hành trạng của Từ
3
Đạo Hạnh giống các đạo sĩ nhiều hơn và không nên xếp ông vào bậc chân tu Phật
giáo.
Từ góc độ văn hóa, PGS. Nguyễn Hữu Sơn trong bài Thiền sư Từ Đạo Hạnh -
từ chùa Láng đến chùa Thầy đã cho rằng Từ Đạo Hạnh là “một trong những hiện
tượng văn hóa chứa nhiều nghịch lý”, được khúc xạ qua thời gian và không gian,
trong đó mang nhiều yếu tố của Phật – Nho và Đạo giáo.
Cùng tác giả Nguyễn Hữu Sơn, các bài nghiên cứu: Tìm hiểu đặc trưng “lạ hóa”
trên phương diện văn học, văn hóa, tín ngưỡng của hiện tượng đã phần nào được đề
4
cập tới. Trên cơ sở kế thừa những thành quả của người đi trước từ việc khảo sát hiện
tượng Từ Đạo Hạnh qua truyện kể và lễ hội dân gian, chúng tôi sẽ tiến hành hệ thống
hóa các truyền thuyết cũng như những lễ hội về hiện tượng này với mong muốn đưa
ra cái nhìn toàn diện, hệ thống hơn về nhân vật dưới cả hai góc độ văn học và văn
hóa dân gian.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng: Nhân vật Từ Đạo Hạnh thể hiện trong văn học và trong văn hóa
dân gian, cụ thể là thể hiện trong truyền thuyết và trong lễ hội dân gian Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Những truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh (đã công bố và sưu tầm được).
- Các lễ hội dân gian xung quanh hiện tượng Từ Đạo Hạnh (qua các lễ hội ở các
chùa ở Hà Nội: chùa Láng, chùa Thầy…).
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp cấu trúc - loại hình
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điền dã - khảo sát thực tế
5. Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn
5.1. Mục đích
Khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh trong văn học và trong lễ hội dân gian,
chúng tôi muốn nhìn nhận và khái quát hóa, hệ thống hóa về hiện tượng này từ góc
độ văn học và góc độ văn hóa. Qua đó thấy được mối liên hệ giữa hiện tượng Từ Đạo
Hạnh trong văn học và trong đời sống lễ hội dân gian Việt Nam. Từ đó chứng minh
rằng hiện tượng Từ Đạo Hạnh không chỉ là một truyền thuyết, một lễ hội bó hẹp
trong một địa phương nhất định mà nó được sinh ra và lưu truyền, có sức sống bền bỉ
về mặt thời gian và ảnh hưởng rộng lớn về mặt không gian.
nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Từ thế kỷ XI cho đến khoảng hết thời
nhà Lý, Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội nước ta trên mọi phương
diện: văn hóa, chính trị, xã hội.
1.2.2. Vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo tới văn hóa, chính trị của đất nước
Không chỉ trong chính trị, xã hội mà trong đời sống văn hóa, Phật giáo cũng ghi
dấu ấn mạnh mẽ.
Đối với văn học, đặc biệt phải kể tới nền văn học Phật giáo với sự xuất hiện của
một lực lượng tác gia lỗi lạc mà đa phần là các vị thiền sư uyên bác: thiền sư Mãn
Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm, Bảo Giác, Ngộ Ấn…
1.2.3. Yếu tố Mật giáo của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi
Mật giáo chấp nhận sự có mặt của các thần linh được thờ phụng trong dân gian
vì thế đạo Phật có cơ hội được phát triển rất rộng trong sinh hoạt của người dân. Khi
vào nước ta, khuynh hướng của Mật giáo rất phù hợp với sinh hoạt tín ngưỡng và
phong tục người Việt, vì vậy Mật giáo đã trở thành một yếu tố rất quan trọng trong
sinh hoạt văn hóa của người dân.
1.3. Con người, cuộc đời Từ Đạo Hạnh
1.3.1. Thân thế Từ Đạo Hạnh
Từ Đạo Hạnh (? - 1117) quê sinh ở hương Yên Lãng, tục gọi làng Láng, nay
thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Ông là một thiền sư, một tác
giả văn học, một danh nhân văn hóa - lịch sử. Từ Đạo Hạnh từ nhỏ bản tính đã hào
hiệp phóng khoáng, có chí lớn, việc làm lời nói không ai đoán trước được. Ông kết
6
thân với nho sĩ Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người kép hát là Vi Ất. Ban đêm
ông miệt mài đọc sách, ban ngày thổi sáo, đá cầu, đánh bạc vui chơi. Sau ông dự kỳ
thì Tăng hương thí, đỗ khoa Bạch Liên.
Ông là thiền sư thuộc thế hệ thứ 12 dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi thời Lý. Người
nổi tiếng với những pháp thuật của Mật giáo
1.3.2. Vai trò của Từ Đạo Hạnh trong lịch sử
Những đóng góp và công lao của Từ Đạo Hạnh trong lịch sử đã được dân gian
7
2.2. Khảo sát truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh
2.2.1. Nội dung và cấu trúc của các truyền thuyết
2.2.1.1. Nội dung
Qua so sánh đối chiếu nội dung các truyền thuyết kể về Từ Đạo Hạnh, chúng tôi
nhận thấy nội dung các bản kể về nhân vật này tương đối giống nhau. Từ Đạo Hạnh
là một nhân vật có thật trong lịch sử, có hành trạng và tiểu sử rõ ràng. Ông được nhìn
nhận ở tư cách một vị thiền sư, một đơn vị tác gia văn học, một danh nhân văn hóa,
lịch sử. Theo truyền thuyết, ông đã để lại nhiều công trạng đối với nhân dân, cũng
như với nhà Lý. Theo thời gian, cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền
thoại, dần trở thành nhân vật thần linh, truyền thuyết, nhân vật của truyện cổ tích.
Người ta gọi ông là Thầy, là Phật, là Thánh và tới ngày nay, ông vẫn được thờ phụng
như một người anh hùng văn hóa.
2.2.1.2. Cấu trúc của kiểu truyện Từ Đạo Hạnh
* Nguồn gốc của nhân vật
* Hành trạng của nhân vật
* Đoạn kết của nhân vật
2.3. Các motif chính của kiểu truyện Từ Đạo Hạnh
2.3.1. Motif sinh nở thần kỳ
Motif sự thụ thai thần kỳ bắt nguồn từ thần thoại và phổ biến trong cả truyền
thuyết và truyện cổ tích. Tác giả dân gian đã sử dụng motif sự thụ thai thần kỳ và
sinh nở thần kỳ nhằm “lạ hóa” nhân vật, đem đến cho nhân vật một nguồn gốc thần
linh, dự báo những điều kỳ lạ, phi thường mà những con người này sẽ đạt được.
Sự ra đời của Từ Đạo Hạnh thuộc dạng thức: đứa trẻ ra đời do người mẹ nằm
mộng. Motif này đã rất quen thuộc trong các truyện cổ dân gian.
Motif sự sinh nở thần kỳ có ý nghĩa, trước hết nó tạo nên sức hấp dẫn và lôi
cuốn người đọc bởi những chi tiết hoang đường, kỳ lạ trong việc lý giải nguồn gốc
của nhân vật. Mặt khác, motif này cũng thể hiện ước nguyện và khát vọng của người
Motif tái sinh cùng nằm trong hệ thống nói về cái chết đẹp, cái chết thiêng, là sự tiếp
nối của motif hóa thân. Với truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh, nhân vật được tái sinh để làm
người khác hẳn bằng việc đầu thai vào con nhà người khác. Đó là việc Đại Điên đã tái
sinh thành Giác Hoàng, còn Từ Đạo Hạnh thì thác thai làm con Sùng Hiền Hầu, sau
thành vua Lý Thần Tông.
Tiểu kết
Truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh vừa được lưu truyền trong dân gian, vừa được
ghi chép lại từ rất sớm trong các nguồn thư tịch cổ. Những truyền thuyết này đã thể
hiện được niềm tôn vinh, ngưỡng mộ của nhân dân đối với Từ Đạo Hạnh. Một con
người huyền thoại là Phật, là Thần, là Vua.
Qua khảo sát truyện kể về Từ Đạo Hạnh và những motif chính xây dựng nên
kiểu truyện, chúng tôi thấy kết cấu của truyện tuân theo kết cấu đặc trưng của truyền
thuyết: Nguồn gốc của nhân vật - Hành trạng của nhân vật - Đoạn kết của nhân vật.
Hình tượng Từ Đạo Hạnh được xây dựng bằng các motif điển hình của truyền thuyết
như: motif sinh nở thần kỳ, motif tài năng và phép lạ, motif vật phù trợ, motif hóa,
motif tái sinh. Từ những motif này chất hiện thực, chất lịch sử, chất lãng mạn và chất
thần thánh đã hòa quyện vào nhau tạo nên tính đặc trưng kỳ diệu của truyền thuyết. 9
Chương 3
KHẢO SÁT LỄ HỘI VỀ TỪ ĐẠO HẠNH
3.1. Khái niệm lễ hội
3.1.1. Khái niệm lễ hội
Như vậy, lễ hội là một hiện tượng văn hóa dân gian, là sự tổng hòa những giá trị
văn hóa thông qua các hiện tượng, các đề tài về lịch sử, sản xuất nông nghiệp, tôn
giáo tín ngưỡng, sinh hoạt văn hóa dân gian, đáp ứng nhu cầu tư tưởng, tình cảm
10
Hội Láng đã cho ta thấy sinh động cảnh sinh hoạt của người Việt đời Lý. Xưa kia
dường như Đạo và Đời hoà vào làm một chính vì thế những ngôi chùa dọc hai bờ Tô
giang liên quan đến sự tích Từ Đạo Hạnh vẫn được dân gian gọi là đền. Hình thức hội
Láng nằm trong hệ thống các phong tục hội hè miền phụ cận, mang đậm nét văn hóa của
kinh thành Thăng Long. Trải nhiều đời, nó đã góp vào quá trình sinh hoạt văn hoá dân
gian chốn đế đô một tổng thể lễ tiết phong phú và độc đáo. Câu chuyện rất đời của một vị
Thánh Tổ (Từ Đạo Hạnh làm thuốc cứu dân lại dạy dân trò hát chèo, múa đáo thanh lịch
rối nước nên được suy tôn làm Thầy) hoá ra lại là một nét văn hóa đặc sắc của người
Tràng An.
Lễ hội chùa Láng thực chất là lễ hội mùa xuân của cả một vùng gồm nhiều làng
ở hai bên bờ sông Tô Lịch Hà Nội trước kia nên có những nét khác lạ. Từ chùa ra tới
đường cái đám rước đi rất chậm, ra đến cổng làng thì tốc độ mới tăng dần lên. Vừa có
lễ dành cho Thánh, vừa có lễ dành cho Phật lại vừa có lễ dành cho thiên tử tượng
trưng cho ba kiếp hoá của Từ Đạo Hạnh.
3.3.2. Lễ hội chùa Thầy
3.3.2.1. Lịch sử, vị trí, kiến trúc chùa Thầy
3.3.2.2. Lễ hội chùa Thầy
* Phần lễ
Nghi lễ quan trọng đầu tiên của hội chùa Thầy là lễ tắm Phật được tiến hành trước
ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch. Tham dự lễ này là các nhà sư, tăng ni phật tử và đông đảo
nhân dân.
Tiếp đến là lễ cúng Phật và chạy đàn. Lễ rước đi Thần về Phật được tái diễn vô cùng
sinh động. Đây là một nghi lễ lớn, quan trọng nhất và gây ấn tượng nhất ở hội chùa Thầy.
Khoảng ba giờ chiều, kiệu của bốn thôn đã tề tựu đông đủ theo thứ tự trước sân
chùa. Sau khi làm lễ cũng, đám rước bắt đầu xuất phát từ chùa Thầy ra gò Quán Thánh -
tương truyền đây là địa điểm quân Minh đốt xác Từ Đạo Hạnh.
Ra đến Quán Thánh, các thôn rước lễ vào quán để nhà sư và ông Thống trông
coi quán làm lễ.
hàng năm vào ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch, đều là những lễ hội lớn và độc đáo với
nhiều nghi lễ có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Có thể thấy, ở cả
hai lễ hội vẫn dung chứa, đan xen trong nó nhiều nghi lễ, tín ngưỡng dân gian: nghi
lễ thờ thành hoàng làng, thờ Phật, thờ Thánh, thờ thiên tử, các tín ngưỡng của lễ hội
nông nghiệp như lễ hội cầu mưa…
Lễ hội chùa Láng và lễ hội chùa Thầy đều tổ chức để tôn thờ Từ Đạo Hạnh
nhưng ở mỗi lễ hội vẫn có những sự độc đáo riêng. Lễ hội chùa Láng mang tính đồ sộ
hơn cả về quy mô mà chủ đề của lễ hội cũng khá phong phú. Hình thức hội Láng nằm
trong hệ thống các phong tục hội hè miền phụ cận, mang đậm nét văn hóa của kinh
thành Thăng Long. Lễ hội chùa Láng thực chất là lễ hội mùa xuân của cả một vùng
gồm nhiều làng ở hai bên bờ sông Tô Lịch Hà Nội. Chùa Láng tương truyền là nơi
Từ Đạo Hạnh sinh ra và lớn lên, nên trong lễ hội ngoài việc tôn thờ Từ Đạo Hạnh
nhân dân trong vùng còn nhắc tới thân phụ, thân mẫu của ông cùng với các địa danh
chùa Nền, cống Cót, cầu Yên Quyết, chùa Hoa Lăng nơi ghi dấu cuộc đời họ, qua các
nghi lễ rước tượng. Đặc biệt trong lễ hội chùa Láng có nghi lễ đấu thần khi kiệu
thánh Từ đi tới trước chùa Thánh Tổ - thờ Đại Điên. Lễ hội chùa Láng mang đậm
tính lễ và ít tính hội hơn trong trong khi đó lễ hội chùa Thầy hai yếu tố lễ và hội đan
xen hòa quyện với nhau rất tự nhiên. Trong lễ hội chùa Thầy ngoài các nghi lễ tắm
Phật, cúng Phật, chạy đàn thì nghi lễ rước đi Thần về Phật là nét riêng rất độc đáo.
12
Cũng trong lễ hội này người xem được thưởng thức các tiết mục múa rối nước vốn
nổi tiếng từ lâu mà tương truyền Từ Đạo Hạnh là thầy tổ của nghệ thuật này.
Lễ hội bao giờ cũng gắn liền với truyền thuyết. Nếu coi truyền thuyết là nội
dung thì lễ hội chính là nghệ thuật. Các hình tượng nhân vật trong truyền thuyết sẽ
được sáng tỏ qua hình thức lễ hội và ngược lại lễ hội góp phần thần thánh hóa các
hình tượng. Truyền thuyết là nội dung cốt lõi giúp lễ hội trở nên thiêng liêng phong
phú. Lễ hội lại có ý nghĩa khẳng định sức sống lâu bền của truyền thuyết. Đến với lễ
hội con người không chỉ đến với ước vọng, giao cảm, giao hòa với siêu nhiên và tự
nhiên mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình tái tạo và sáng tạo. Như vậy, lễ hội là
13
Thần về Phật. Nhìn vào bề sâu, có thể thấy ở các lễ hội này vẫn dung chứa và đan xen
trong nó những nghi lễ, tín ngưỡng của lễ hội nông nghiệp. Và dù có những điểm khác
biệt nhưng tựu chung lại, lễ hội chùa Láng, lễ hội chùa Thầy, lễ hội chùa Đồng Bụt…
đều hướng chung tới thiền sư Từ Đạo Hạnh với tất cả niềm tin, lòng biết ơn của nhân
dân. Chính các lễ hội này là môi trường diễn xướng nhằm lưu truyền, gìn giữ và phát
huy hệ thống truyền thuyết về Từ Đạo Hạnh trên phạm vi địa bàn Hà Nội nói riêng,
vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ nói chung.
5. Qua việc khảo sát hiện tượng Từ Đạo Hạnh trên phương diện truyện kể và lễ
hội, chúng tôi nhận thấy đây là một hiện tượng văn học, văn hóa độc đáo. Cùng với
truyền thuyết, ngày nay các lễ hội về Từ Đạo Hạnh vẫn được gìn giữ và bảo tồn. Từ
hiện tượng Từ Đạo Hạnh nói riêng, các hiện tượng văn học văn hóa dân gian nói
chung, chúng tôi nhận ra một thực tế là nhu cầu về tín ngưỡng của nhân dân hiện nay
đang trỗi dậy mạnh mẽ. Đến với lễ hội, con người được hòa mình vào thiên nhiên mỹ
lệ của đất nước, được thưởng thức những công trình văn hóa sáng tạo của người đi
trước, được hòa hợp cộng đồng và trong mỗi người tình yêu thiên nhiên, đất nước và
con người được bồi đắp hơn nữa. Ngày nay, xã hội hiện đại, càng có thêm điều kiện
để kết hợp lễ hội với du lịch, khiến cho hội lễ tiếp nhân được các phương tiện hoạt
động của du lịch để tăng cường sức sống, mở mang tiếp xúc trao đổi với thế giới và
về phần mình, du lịch không ngừng được bổ sung những hệ thống sản phẩm có giá trị
cao về ý nghĩa và thẩm mỹ.
References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn An, Múa rối chùa Bi, http://www.daibieunhandan.vn.
2. Trần Thị An (2000), Đặc trưng thể loại truyền thuyết và việc văn bản hóa truyền
thuyết dân gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Thư viện Quốc gia.
3. Nguyễn Huệ Chi (1977), Thơ văn Lý - Trần, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
4. Nguyễn Đổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 3), Viện Văn
học, Hà Nội
19. Đỗ Đức Hiểu (chủ biên) (1984), Từ điển văn học, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
20. Nguyễn Duy Hinh (2007), Một số bài viết về tôn giáo học, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
21. Nguyễn Duy Hinh (1994), “Đôi điều suy nghĩ lý luận về lễ hội”, Lễ hội truyền
thống trong xã hội hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
22. Kiều Thu Hoạch (chủ biên), Trần Thị An, Mai Ngọc Hồng (2009), Truyền thuyết
dân gian người Việt (Tập 3), Truyền thuyết về thời Lý và Trần. Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội.
23. Kiều Thu Hoạch (1971), Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến, in
trong Truyền thống anh hùng trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
24. Đỗ Danh Huấn, Làng Đồng Bụt và thiền sư Từ Đạo Hạnh,
http://www.tainguyenso.vnu.edu.vn
25. Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An (2001), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam (tập
1), Thần thoại - truyền thuyết, Nxb Giáo dục.
26. Nguyễn Xuân Kính (1991), “Phác thảo lịch sử lễ hội của người Việt ở Bắc Bộ”,
Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, tr 38 - 45.
15
27. Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) (1993), Từ điển văn hóa Việt Nam - Nhân vật chí,
Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
28. Vũ Ngọc Khánh, Trần Thị An, Phạm Minh Thảo (1998), Truyền thuyết Việt Nam,
Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
29. Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) (2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
30. Vũ Ngọc Khánh (2006), Kho tàng thần thoại Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội.
31. Hồ Phương Lan (tuyển chọn và giới thiệu) (2011), Thăng Long - Hà Nội ngàn
năm văn hiến, Nxb Lao động, Hà Nội.
32. Đặng Thị Phong Lan (2009) “Từ huyền tích của Từ Đạo Hạnh đến lễ hội chùa
cổ truyền Việt Nam”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 7, tr. 27 - 32.
50. Thạch Phương, Lê Trung Vũ (1995), 60 lễ hội truyền thống Việt Nam,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
51. Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San (dịch) (2001), Lĩnh
Nam chích quái, chuyện lạ sưu tầm ở Lĩnh Nam, Nxb Kim Đồng, Hà Nội.
52. Vũ Quỳnh, Kiều Phú, (1990), Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn học, Hà Nội.
53. Vũ Quỳnh (1993), Tân đính Lĩnh Nam chích quái, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
54. Vũ Tú Quỳnh (2004), Múa rối nước dân gian làng Ra, Luận văn thạc sĩ văn hóa
học, Viện Văn học.
55. Lê Chí Quế (chủ biên - 1998), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vỹ, Văn học dân
gian Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
56. Lê Chí Quế (1990), Phương pháp loại hình học trong khoa học văn học dân gian
trong sách văn học dân gian - những lĩnh vực nghiên cứu, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
57. Lê Chí Quế (1985), “V. Ia. Prop (1895 - 1970) và phương pháp nghiên cứu folklore
theo so sánh loại hình lịch sử”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3 & 4, tr. 18 - 23.
58. Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Thiền sư Từ Đạo Hạnh - Từ chùa Láng đến chùa
Thầy”, Tạp chí Sông Hương, số 10, tr. 5 - 8.
59. Nguyễn Hữu Sơn (1994), “Tìm hiểu đặc trưng lạ hóa về sự ra đời của các thiền sư
trong Thiền uyển tập anh”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 4, tr. 28 - 30.
60. Nguyễn Hữu Sơn (2003), Loại hình tác phẩm Thiền uyển tập anh, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội.
61. Nguyễn Hữu Sơn (1996), “Về motip quy tịch của các thiền sư trong Thiền uyển tập
anh”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 4 + 5, tr. 57 - 59/ 50 - 52.
62. Nguyễn Hữu Sơn (1998), “Về khả năng tích hợp các yếu tố folklore trong sách
Thiền uyển tập anh”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, tr. 40 - 44.
63. Phạm Văn Sinh (1994), Về vai trò Phật giáo ở Việt Nam (qua thời đại nhà Lý),
luận án PTSKH Triết học.
64. Lê Tắc (2002), An Nam chí lược, Nxb Thuận Hóa, Huế.
65. Phạm Minh Thảo (2006), Truyện linh dị Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà
84. Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý (2005), Lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà
Nội.
85. Lê Trung Vũ (1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
86. Nguyễn Hữu Vinh (dịch và giới thiệu), Thích Thiện Niệm đính chính, Bút ký
Chùa Thiên Phúc và sư Từ Đạo Hạnh, http://www. trangnhahoaihuong.com.
87. Lý Tế Xuyên (1972), Việt điện u linh, Nxb Văn học, Hà Nội.