BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
*****
Nguyễn Hương Trang
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN ĐIỆN LỰC
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Chu Văn Yêm
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi;
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Nguyễn Hương Trang
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Ý KIẾN NGƯỜI HƯỚNG DẪN LUẬN VĂN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
EVNFC Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực
2.4 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo thời hạn cho vay 46
2.5 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo nhóm khách hàng 47
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vốn là điều kiện tiên quyết trong quá trình tái sản xuất xã hội, là nhu cầu
cần thiết của mọi nền kinh tế, nhất là với nền kinh tế Việt Nam, đang phát triền
nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và thực hiện “công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” đất nước. Việc tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tổ chức
kinh tế, xã hội, dân cư để đầu tư cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế được giao cho các định chế tài chính bao gồm: ngân hàng, công
ty tài chính…hay còn gọi chung là các tổ chức tín dụng (TCTD).
Tuy nhiên, hiện nay hoạt động tín dụng của các công ty tài chính đang gặp
phải sự canh tranh gay gắt; đặc biệt do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới
cũng như những khó khăn trong nước. Việc mở rộng, tăng trưởng tín dụng gắn
với nâng cao chất lượng tín dụng đang là vấn đề mà các TCTD đặc biệt quan
tâm.
Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (EVNFC) là một TCTD phi ngân
hàng được thành lập từ cuối năm 2008. Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo và sự nghiên
cứu kỹ lưỡng về thị trường tài chính Việt Nam, sau hơn 5 năm hình thành và
phát triển Công ty đã đạt được những kết quả nhất định. Hoạt động tín dụng của
Công ty đã đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn tín dụng phục vụ phát triển của Tập
đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Tuy nhiên, Công ty vẫn còn tồn tại một số bất
cập như: Thu nhập từ hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm, hiệu suất sử
dụng vốn tín dụng còn thấp và khả năng thu hồi vốn tín dụng chưa cao, mức độ
an toàn vốn tín dụng có những dấu hiệu suy giảm, tỷ trọng dư nợ cho vay ngắn
hạn còn thấp, tỷ lệ nợ xấu nợ quá hạn gia tăng….
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất
lượng tín dụng tại Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực” có ý nghĩa lớn với
- Phương pháp khảo sát, tham khảo ý kiến của các cán bộ nhân viên trong
Công ty để có cái nhìn khách quan hơn về thực trạng cũng như bổ sung
thêm các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng
5. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của luận văn được chia thành 03 chương:
- Chương 1: Lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng của Công ty Tài chính
- Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Công ty Tài chính Cổ phần
Điện lực
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Công ty Tài chính
Cổ phần Điện lực
9
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1.1. Khái niệm công ty tài chính
Công ty Tài chính là loại hình TCTD phi ngân hàng, với chức năng là sử
dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng
các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy
định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận
tiền gửi dưới 1 năm. (Theo Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính
phủ)
Theo điều 4 luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 thì:
Tổ chức tín dụng (TCTD) là doanh nghiệp được thực hiện một số hoặc tất cả
các hoạt động Ngân hàng. TCTC bao gồm Ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ
chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
Ngân hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng
theo quy định của Luật này.
TCTD phi ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện một hoặc một số
hoạt động ngân hàng theo qui định của pháp luật, trừ các hoạt động nhận tiền gửi
nhân trong và ngoài nước theo quy định hiện hành của Luật Các TCTD và hợp đồng
uỷ thác; Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay mua trả góp.
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
- Bảo lãnh: Công ty Tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài
chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Việc bảo lãnh của Công ty Tài chính
phải được thực hiện theo quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60 Luật Các TCTD và
hướng dẫn của NHNN.
- Các hình thức cấp tín dụng khác
Mở tài khoản và dịch vụ ngân quỹ
- Mở tài khoản: Công ty Tài chính được mở tài khoản tiền gửi tại NHNN,
nơi Công ty Tài chính đặt trụ sở chính và các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam. Việc mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải
được NHNN cho phép.
- Dịch vụ ngân quỹ: Công ty Tài chính được thực hiện dịch vụ thu và phát
tiền mặt cho khách hàng.
Hoạt động khác
Các nghiệp vụ khác được phép thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
hiện hành: Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các TCTD khác; Đầu tư
cho các dự án theo hợp đồng; Tham gia thị trường tiền tệ; Thực hiện các dịch vụ
kiều hối, kinh doanh vàng; Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại
giấy tờ có giá cho các doanh nghiệp; Được quyền nhận uỷ thác, làm đại lý trong các
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
12
lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý
tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng; Cung ứng các dịch vụ tư
vấn về tài chính, tiền tệ, đầu tư cho khách hàng; Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện
vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác.
Các nghiệp vụ phải được các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cho
phép: Hoạt động ngoại hối; Hoạt động bao thanh toán; Các hoạt động khác
1.2. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG CÔNG TY TÀI CHÍNH
dụng sẽ góp phần cung cấp đủ vốn cho hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra khoản
lãi phải trả khi vay sẽ khiến các doanh nghiệp buộc phải tính toán đầu tư vào các
dự án đem lại hiệu quả cao.
Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân, làm
nhiệm vụ chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ những nhà tiết kiệm
sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế.
Do tập trung được vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng
góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu tư phát triển kinh tế.
Tín dụng còn có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
NHNN luôn quản lý tín dụng bằng các quy định và chính sách của mình. Thông qua
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
14
tín dụng, Chính Phủ cũng có thể quản lý và thực hiện các chương trình kinh tế lớn
một cách có hiệu quả.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động tín dụng của Công ty tài chính
Xét về bản chất và phạm vi hoạt động, công ty tài chính là loại hình TCTD
phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn
khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực
hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch
vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm. Trong khi đó, Ngân hàng là
loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan, cụ thể là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín
dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Tuy có phạm vi hoạt động có thể ở mức hẹp hơn so với các ngân hàng trên
thị trường tiền tệ song công ty tài chính vẫn là một công cụ đắc lực để các tập đoàn
kinh tế điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất.
Đặc điểm khác biệt đầu tiên trong hoạt động tín dụng của công ty tài chính so
với với các ngân hàng là đối tượng khách hàng. Đối tượng khách hàng của hoạt
Cho vay: là việc Công ty tài chính đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả cả gốc và tiền lãi trong một thời gian xác định với các
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
16
điều kiện đã được thoả thuận trước trong hợp đồng; Là hình thức cấp tín dụng trong
đó tiền là đối tượng tín dụng. Có nhiều hình thức cho vay như: cho vay thấu chi,
cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển,
Bảo lãnh
Bảo lãnh: là việc Công ty tài chính cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song Công ty tài chính đã
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi;
Là cam kết của Công ty tài chính dưới các hình thức phát hành thư bảo lãnh,
mở thư tín dụng, ký hối phiếu nhận nợ về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đó như cam kết với bên
thứ ba.
Cho thuê
Cho thuê: là việc Công ty tài chính bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thoả thuận nhất định.
Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng Công ty tài chính gồm các hình
thức:
Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng được sử dụng để
bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn
hạn của cá nhân.
Tín dụng trung hạn
Tín dụng trung hạn: có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng. Loại tín dụng
này chủ yếu được doanh nghiệp sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
17
hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án
hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập, Công ty tài chính thường không ấn định
thời hạn cụ thể đối với hình thức tín dụng này.
Căn cứ xuất xứ tín dụng
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng, tín dụng Công ty tài chính gồm các hình thức:
- Tín dụng trực tiếp: Công ty tài chính cấp tín dụng trực tiếp cho người đi
vay, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Công ty tài chính.
- Tín dụng gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các khế ước hoặc những chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
1.3. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.3.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng
Có thể hiểu chất lượng tín dụng của công ty tài chính chính là sự đáp ứng yêu
cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại
phát triển của công ty tài chính. Chất lượng tín dụng quyết định sự tồn tại và phát
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
19
triển của mỗi công ty tài chính. Vì chất lượng tín dụng đáp ứng tốt được nhu cầu
của khách hàng thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng và ngược lại. Việc thu hút
được nhiều khách hàng sẽ đem đến nhiều cơ hội đầu tư có hiệu quả cho công ty tài
chính.
Chất lượng tín dụng vừa là một khái niệm mang tính cụ thể vừa mang tính trừu
tượng.
Tính cụ thể được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá chất lượng có thể lượng
hóa được (nợ quá hạn, nợ xấu, tốc độ tăng trưởng tín dụng )
Tính trừu tượng thể hiện qua khả năng lôi cuốn hấp dẫn khách hàng uy tín của
công ty tài chính và mức độ tác động đối với nền kinh tế.
1.3.2. Ý nghĩa và sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang phát triển theo nền kinh tế thị
trường, đặc biệt trong giai đoạn những năm 2000-2009 với việc thanh lập thêm
hàng loạt Ngân hàng, Công ty tài chính lĩnh vực kinh doanh tài chính tiền tệ chưa
bao giờ sôi động và có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Chính vì sự cạnh tranh
Tín dụng đồng thời là động lực, yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Các điều kiện trong hợp đồng tín dụng giữa công ty tài chính và
doanh nghiệp tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh có hiệu quả cố
gắng quay vòng vốn nhanh, tìm kiếm các chính sách có hiệu quả nhất nhằm mục
đích kiếm lợi nhuận và trả nợ.
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
21
Đối với nền kinh tế
Xét trên phương diện toàn nền kinh tế, chất lượng tín dụng cao sẽ tác động
tích cực tới các lĩnh vực kinh tế - chính trị - xã hội. Phát triển cho vay tín dụng sẽ
đáp ứng nhu cầu thu xếp vốn trong nội bộ các tổng công ty, tập đoàn lớn, giảm bớt
đáng kể các khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư sản suất kinh doanh.
Tín dụng Công ty tài chính còn góp phần đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập
trung lớn của nền kinh tế. Không những thế chất lượng tín dụng còn góp phần kìm
chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia.
Kinh tế phát triển sẽ làm xã hội ổn định hơn và chính trị theo đó cũng ổn
định và phát triển hơn.
1.3.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Thông thường, khi đánh giá chất lượng tín dụng cần phải xem xét trên cả ba
khía cạnh: TCTD - khách hàng - nền kinh tế. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của
luận văn chỉ xem xét, đánh giá chất lượng tín dụng trên khía cạnh của TCTD nói
chung và Công ty tài chính nói riêng.
Để đánh giá chất lượng tín dụng của một Công ty tài chính, người ta dùng 02
hệ thống chỉ tiêu: chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính. Trong đó, hệ thống các
chỉ tiêu định lượng bao gồm: (1) nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ an toàn vốn tín
dụng, (2) nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng vốn tín dụng và (3) nhóm chỉ
tiêu phản ánh khả năng sinh lời vốn tín dụng
1.3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ an toàn vốn tín dụng
Khi cấp tín dụng cho khách hàng, công ty tài chính quan tâm hàng đầu là vấn
đề về an toàn vốn, tức khả năng thu hồi cả gốc lẫn lãi của khoản vay, đây là yếu tố
chú ý rằng các chỉ tiêu này có thể bị thay đổi do định kì hạn nợ không đúng; do đảo
nợ, giãn nợ; hoặc do chính sách cho vay,… khi đó sẽ không phản ánh chính xác về
các mức độ an toàn của hoạt động tín dụng.
Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ quá hạn
Ngoài tỷ lệ nợ quá hạn, các Công ty tài chính còn sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ nợ
khó đòi trên tổng dư nợ quá hạn hoặc tỉ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi trên tổng
dư nợ quá hạn. Nhờ có các chỉ tiêu đó mà Công ty tài chính có thể biết được bao
nhiêu phần trăm trong tổng nợ quá hạn có khả năng thu hồi, bao nhiêu phần trăm
không có khả năng thu hồi. Việc kết hợp giữa các chỉ tiêu này cho phép đánh giá
chi tiết, chính xác hơn về độ an toàn tín dụng.
Rõ ràng tỷ lệ này càng cao, thì tín dụng có chất lượng càng thấp. Nợ khó đòi
có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của công ty tài chính và nếu tỷ lệ nợ khó đòi cao sẽ
là nguy cơ làm cho công ty tài chính phá sản. Các Công ty tài chính cần cố gắng
giảm đến mức tối đa các khoản nợ khó đòi để làm tăng chất lượng tín dụng.
Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ ( tỷ lệ nợ xấu)
Chỉ tiêu này cho thấy số nợ khó đòi trên toàn bộ dư nợ của công ty. Chỉ tiêu này
càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của công ty càng thấp và ngược lại. Theo
thông lệ quốc tế thì:
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012
Dư nợ khó đòi
Tỷ lệ nợ khó đòi (%)= ×100%
Dư nợ quá hạn
Dư nợ khó đòi
Tỷ lệ nợ xấu (%)= ×100%
Tổng dư nợ
24
- Tỷ lệ nợ xấu <= 3% có thể nói mức độ an toàn tương đối cao;
- Tỷ lệ 3% - 5% được coi là bình thường;
- Tỷ lệ nợ xấu>= 5% cho thấy hoạt động tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro .
- Tỷ lệ >=7% thì mức độ an toàn vốn tín dụng được đánh giá là yếu kém
gây tổn thất cho TCTD, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ,
đúng hạn cả gốc và lãi cho TCTD.
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là TCTD cho vay và người
đi vay. Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ
thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi
trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng. Rủi ro
tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách
quan. Rủi ro xuất phát từ người vay (sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí
trả nợ, khả năng quản lý kinh doanh kém, …) và rủi ro xuất phát từ phía TCTD cho
vay (quản lý lỏng lẻo, thiếu giám sát, trình độ và đạo đức cán bộ tín dụng kém …)
gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan.
Cho dù rủi ro tín dụng xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì
nó vẫn có khả năng gây ra tổn thất cho TCTD nói chung và Công ty tài chính nói
riêng. Do vậy, Công ty tài chính cần phải lường trước được những khoản tín dụng
Nguyễn Hương Trang –CHC10-2012