Luận văn thạc sỹ: Nghiên cứu thống kê chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN THỊ HUỆ
NGHIÊN CỨU THỐNG KÊ CHÊNH LỆCH
GIÀU NGHÈO Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - NĂM 2007
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu luận văn Thạc sỹ kinh tế, em đã nhận được sự
hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các thày cô giáo trong Khoa Thống kê, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, các cán bộ Vụ Xã hội - Môi trường Tổng cục
Thống kê. Đặc biệt, luận văn đã được hoàn thành dưới sự giúp đỡ tận tình của
Thầy giáo - Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Kiểm.
Nhân dịp này em xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thày cô giáo, đến
Ban Giám Hiệu Trường Cao đẳng Thống kê, các đồng nghiệp, bạn bè đã tạo điều
kiện, giúp đỡ trên nhiều phương diện để em có thể hoàn thành tốt Khoá học cũng
như bản luận văn này.
Tác giả
Nguyễn Thị Huệ
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, đồ thị
Tóm tắt luận văn
Lời mở đầu
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDP : Tổng sản phẩm trong nước
GNI : Tổng thu nhập quốc dân
UNDP : Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
LDC : Các nước chậm phát triển
LTTP : Lương thực, thực phẩm

Hồ Chí Minh đã nói: nhiệm vụ của chính phủ từ trung ương đến địa phương là “làm
cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm".
Tuy nhiên, sau 30 năm kháng chiến gian khổ vì độc lập và thống nhất tổ quốc, những
năm đầu sau chiến tranh thiếu thốn mọi bề, các sản phẩm xã hội làm ra về cơ bản
được phân phối bình quân thì ranh giới giàu nghèo dường như đã bị xóa mờ trong ý
thức của đại đa số người dân nước ta.
Nhưng khi nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển sang thời kỳ đổi mới đó là nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì sự phân hóa giàu nghèo dần dần bộc
lộ rõ. Đặc biệt, trong giai đoạn 1998 - 2006, khi Việt Nam đạt được tốc độ tăng
GDP hàng đầu thế giới thì vấn đề chênh lệch giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập
và chi tiêu tuy chưa lớn so với các nước trên thế giới và khu vực, song lại càng có
chiều hướng gia tăng trên phạm vi cả nước, giữa thành thị và nông thôn, cũng như
giữa các vùng, các tỉnh, các địa phương và các nhóm dân cư trong cả nước. Đây là
một thách thức lớn cho quá trình phát triển bền vững, mang tính nhân văn ở Việt
Nam. Kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng tình trạng chênh lệch giàu nghèo, bất bình
đẳng về thu nhập có ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển nói chung, phương
hại đến sự gắn kết xã hội, gây ra những tổn phí không đáng có cả về mặt kinh tế và
xã hội, cụ thể: gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống của người dân, làm tăng
tỷ lệ nghèo đói, cản trở tiến bộ trong y tế và giáo dục, góp phần làm gia tăng tình
trạng tội phạm.
Trong quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, cũng đã
làm nảy sinh sự gia tăng chênh lệch về thu nhập và chi tiêu giữa các nhóm dân cư.
Vì vậy, việc nghiên cứu chênh lệch giàu nghèo là một vấn đề cấp thiết và hết sức
có ý nghĩa không những trên phạm vi thế giới mà còn cả trong phạm vi của một
quốc gia. Do đó, tôi đã chọn đề tài: " Nghiên cứu thống kê chênh lệch giàu nghèo
ở Việt Nam " cho luận văn thạc sĩ của mình. Nội dung của đề tài tập trung chủ yếu
vào phân tích vấn đề chênh lệch về thu nhập và chi tiêu của dân cư theo yếu tố địa
lý và theo thời gian. Qua đó thấy được các nguyên nhân cơ bản gây ra sự chênh lệch
giàu nghèo. Đồng thời đề tài cũng phân tích các yếu tố chủ yếu quyết định giàu
nghèo, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đưa ra những kiến nghị góp phần thu

-Hệ thống hóa các vấn đề lý luận chung về thống kê chênh lệch giàu nghèo.
- Hệ thống hóa và lựa chọn các chỉ tiêu thống kê thu nhập, chi tiêu, thống kê
chênh lệch giàu nghèo và các phương pháp phân tích, đánh giá chênh lệch giàu
nghèo.
-Phân tích sự gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, giữa thành thị
với nông thôn, giữa các vùng, qua đó tìm ra được các nguyên nhân cơ bản gây ra sự
chênh lệch này.
-Phân tích các yếu tố quyết định đến sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm dân
cư.
-Đề xuất các kiến nghị nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và giảm bất bình
đẳng về thu nhập và chi tiêu.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương:
-Chương I: Những vấn đề lý luận chung về thống kê chênh lệch giàu nghèo.
-Chương II: Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê và các phương pháp thống kê phân
tích chênh lệch giàu nghèo.
-Chương III: Phân tích thống kê chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2002-
2006.
6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
THỐNG KÊ CHÊNH LỆCH GIÀU NGHÈO
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN THỐNG KÊ CHÊNH LỆCH GIÀU
NGHÈO
1.1.1. Khái niệm về thu nhập
Thu nhập là một trong những phương tiện quan trọng để mở rộng sự lựa
chọn cho con người và là một trong những chỉ tiêu kinh tế để đánh giá mức sống
của dân cư. Vì vậy, tăng thu nhập là yếu tố hàng đầu để cải thiện và nâng cao mức
sống, tăng tích lũy, mở rộng sản xuất.
Thu nhập của dân cư là toàn bộ các khoản thu nhập bằng tiền và hiện vật mà

7
vật chất và dịch vụ sử dụng cho nhu cầu đời sống sinh hoạt hàng ngày của hộ gia
đình dân cư như: ăn, uống, ở, đi lại, quần áo, chăm sóc sức khoẻ, đồ dùng lâu
bền, và các khoản chi tiêu khác trong một thời gian nhất định thường là một năm.
Theo Điều tra mức sống dân cư Việt Nam chi tiêu dùng của hộ gia đình bao
gồm các khoản sau:
- Chi tiêu cho đời sống:
Chi giáo dục: tiền học phí, học thêm, tiền đóng góp xây dựng trường, lệ phí
thi, đóng góp hội huynh
Chi về y tế và chăm sóc sức khoẻ: chi khám chữa bệnh, đóng góp bảo hiểm y
tế, mua thuốc, tiền nằm viện
Chi lương thực thực phẩm (LTTP) và sản phẩm tự sản xuất: chi ăn uống
hàng ngày và vào các dịp lễ tết.
Chi tiêu phi lương thực thực phẩm và đồ dùng lâu bền: đó là các khoản chi
về phi LTTP do hộ tự sản xuất hoặc mua trên thị trường như: than, củi,
quạt, tivi, tủ lạnh,
Chi về điện, nước và vệ sinh môi trường.
Chi về thuốc lá, thuốc lào.
Chi phí về thuê nhà ở.
- Chi tiêu khác: đóng góp các quỹ, ma chay, cưới xin, đóng góp lao động công ích,
cho, biếu, tặng
1.1.3. Các khái niệm về nghèo
Nghèo được khái niệm là sự bần cùng hoá về phúc lợi. Nhưng tình trạng bần
cùng hoá là gì? làm thế nào để đo lường nó? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về
nghèo, theo Ngân hàng thế giới (WB 2000) "đói nghèo là sự mất đi tình trạng ấm
no". Ấm no có thể được đo bằng việc sở hữu của cá nhân về thu nhập, sức khỏe,
dinh dưỡng, giáo dục, tài sản, nhà ở và các quyền nhất định trong xã hội như quyền
tự do ngôn luận, quyền chữa bệnh, quyền thụ hưởng sinh hoạt văn hoá, thể dục thể
thao Cũng có thể hiểu đói nghèo là sự thiếu các cơ hội, thiếu các quyền lực và khả
năng dễ bị tổn thương trước các sự kiện bất lợi.

Những nhu cầu cơ bản của con người được xác định theo chuẩn nghèo và
phụ thuộc vào thời gian và không gian. Quốc gia nào càng giàu thì chuẩn nghèo của
quốc gia đó càng cao. Đối với các nước nghèo, nghèo thường được hình dung là sự
thiếu hụt tuyệt đối, sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng cơ bản cho cuộc sống. Trong
khi đó đối với các nước giàu, có thể là sự thiếu hụt tương đối, sự thiếu khả năng để
có một mức sống ngang bằng với các nhóm dân cư hiện có thu nhập cao hơn.
Nhìn chung nghèo được hiểu theo hai nghĩa sau đây:
1.1.3.1.Nghèo tuyệt đối
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả
mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống.
Với khái niệm này thì nhu cầu tối thiểu của các nước rất khác nhau và luôn
thay đổi theo thời gian. Một cái gì đó có thể được coi là xa xỉ ở nước này nhưng lại
được coi là một nhu cầu tối thiểu ở nước khác. Ví dụ, có một hệ thống lò sưởi trong
nhà là tiện nghi tối thiểu ở Pháp nhưng lại là xa xỉ ở Butan. Chính vì vậy, một người
ở Mỹ và một người ở Việt Nam đều được coi là người nghèo, mặc dù thu nhập và
chi tiêu của người ở Mỹ cao gấp nhiều lần so với người ở Việt Nam. Rất nhiều
người nghèo ở Mỹ được xem là khá ấm no theo chuẩn nghèo của Việt Nam. Tuy
nhiên, các nhu cầu tối thiểu cần thiết về lương thực, thực phẩm ở các quốc gia lại
không khác nhau nhiều lắm.
Nói tới nghèo tuyệt đối, người ta thường hay đưa ra một đường nghèo tuyệt
đối được cố định theo trình độ phát triển của mức sống và được dùng để thực hiện
các so sánh nghèo đói.
Đối với các nước nghèo, chậm phát triển thì hiện tượng nghèo tuyệt đối
không đáp ứng đủ các nhu cầu tối thiểu về ăn, ở, mặc, chất đốt là phổ biến.
Khái niệm nghèo tuyệt đối không có ý nghĩa nhiều lắm đối với các nước
công nghiệp phát triển như: Mỹ, Anh, Nhật, bởi vì ở các nước này có mức thu
nhập cao và sự giàu có ngày càng tăng lên. Do đó, nghèo tuyệt đối hầu như không
có ở các nước này mà chủ yếu là nghèo tương đối.
1.1.3.2.Nghèo tương đối
Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức

và sự biến động của nó còn chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân tố.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam
1.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ, phải thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Như thế tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội mới là mục tiêu vươn tới của xã hội
nước ta.
Trong 20 mươi năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu rất cơ bản về
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi
năm từ 1986 đến 2000 đạt 6,3% và đạt 7,5% trong thời kỳ 2001 - 2005. Với tốc độ
tăng trưởng như trên, nước ta đứng vào hàng các nước có tăng trưởng kinh tế khá
cao. Những thành tựu đã đạt được trong tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở vật chất để
chúng ta thực hiện công bằng xã hội.
Ngoài hình thức phân phối thu nhập theo hiệu quả lao động, theo các nguồn
lực đóng góp thì nước ta còn hình thức phân phối thông qua quỹ phúc lợi như: thực
10
hiện chính sách người có công với nước, với dân; chính sách bảo trợ những người
già cô đơn không nơi nương tựa; chính sách đối với trẻ em lang thang có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn; chính sách hỗ trợ các hộ gia đình thuộc diện đói nghèo; chính
sách bảo trợ phát triển xã hội ở vùng sâu, vùng xa
Mỗi năm chính phủ đã dành từ 24,4% đến 28,4% ngân sách nhà nước đầu tư
cho các lĩnh vực xã hội. Hiện nay cả nước không còn hộ đói kinh niên, số hộ nghèo
đã giảm nhanh chóng, số hộ giàu ngày một tăng. Tính đến 31 -12 - 2005 cả nước có
85% hộ gia đình chính sách, người có công với đất nước có mức sống bằng hoặc
khá hơn mức sống trung bình của cộng đồng nơi cư trú. Nhờ có hệ thống các chính
sách an sinh xã hội đã góp phần làm cho đời sống của các hộ nghèo được cải thiện
hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hiện nay chúng ta đang
đứng trước một loạt các vấn đề cần giải quyết. Một trong các vấn đề đó là tăng
trưởng kinh tế càng nóng thì khoảng cách giàu nghèo ngày càng doãng rộng. Hay

Như vậy, giữa tăng trưởng kinh tế và chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam có
11
mối quan hệ với nhau. Điều này không chỉ xảy ra ở riêng Việt Nam mà nó cũng
diễn ra ở các nước khác trên thế giới.
Chẳng hạn như ở Trung Quốc, khoảng 10 năm trở lại đây Trung Quốc đang
trên con đường trở thành một siêu cường quốc nhờ tốc độ phát triển kinh tế như vũ
bão. Trong giai đoạn 1993 - 2005 Trung quốc là một nước có tốc độ tăng trưởng
cao nhất Châu Á. Nhưng đằng sau ánh hào quang ấy còn tồn đọng nhiều khoảng tối,
đặc biệt là tình trạng phân hoá giàu nghèo, khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa
thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư đã trở thành một trong những hiểm
hoạ được kỳ họp quốc hội của Trung Quốc mới đây đưa vào.
Theo khảo sát sơ bộ thu nhập bình quân của lao động nông thôn là 395,7
nhân dân tệ/tháng (49 USD), so với thu nhập bình quân của một giám đốc công ty là
8000 nhân dân tệ (997 USD). Trung quốc hiện còn tới 100 triệu người nghèo, một
nửa vùng nông thôn không có nước sạch. Các cơ sở vệ sinh và y tế còn lạc hậu,
nông dân phải tự trả tiền cho các công trình làm đường xá, hệ thống nước sạch và
hệ thống chiếu sáng công cộng.
Như vậy, có thể thấy ở Trung Quốc cùng với sự tăng trưởng mạnh về kinh tế
thì tình trạng phân hoá giàu nghèo cũng ngày một gia tăng.
Việt Nam, trong mấy năm qua, mặc dù kinh tế tăng trưởng cao nhưng hiệu
quả của nó tác động đến người nghèo lại giảm tương đối. Theo một số nghiên cứu
nếu tăng trưởng kinh tế tăng 10% thì người nghèo chỉ được hưởng lợi từ 1/4 số đó.
Trái lại nhóm các hộ giàu có thể khai thác nhiều hơn cơ hội tăng trưởng đó cho
phúc lợi của mình. Nghĩa là trong khi tăng trưởng kinh tế góp phần to lớn vào xoá
đói, giảm nghèo thì chính nó lại làm gia tăng thêm khoảng cách chênh lệch giàu
nghèo, do thành quả của tăng trưởng không được chia sẻ một cách đồng đều mà lại
theo hướng có lợi cho nhóm người vốn đã có cuộc sống dư dật khá giả hơn.
Điều này được lý giải như sau: trong quá trình đổi mới, bắt đầu theo đuổi
kinh tế thị trường, nền kinh tế Việt Nam có hiệu suất sinh lời của đồng vốn đầu tư
cao. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng tập trung vào những ngành đòi hỏi vốn

bình đẳng thu nhập tăng nhanh, sau đó chậm dần rồi đến một thời điểm nào đó bắt
đầu giảm xuống. Nguyên nhân của hiện tượng này là do các yếu tố liên quan tới
cầu. Cụ thể, tại thời điểm bắt đầu thực hiện công nghiệp hoá, công nghệ và thể chế
thay đổi sẽ kéo theo nhu cầu về vốn và lao động có kỹ năng, trong khi hạ thấp vai
trò của lao động không có kỹ năng dẫn đến bất bình đẳng tăng nhanh. Sau đó khi
nền kinh tế đã phát triển mạnh, thu nhập của lao động nói chung đều được cải thiện
thì bất bình đẳng thu nhập sẽ tăng chậm lại và giảm dần (hình chữ U ngược).
Việc mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới sẽ làm lợi chủ yếu cho các
trung tâm kinh tế của đất nước. Đầu tư vốn từ nước ngoài thường tập trung ở những
vùng đã có sẵn một hạ tầng cơ sở sản xuất tương đối tốt, nghĩa là ở thành thị. Mở
rộng kinh doanh và thu hút đầu tư nước ngoài như vậy sẽ có tác động đào sâu thêm
mức phân hoá giữa thành thị với nông thôn. Tuy nhiên, quá trình hội nhập với kinh
tế khu vực và thế giới giúp nền kinh tế của nước ta tiếp cận với các công nghệ hiện
đại, máy móc thiết bị hiện đại. Điều này đòi hỏi cán bộ, công nhân phải có trình độ,
tay nghề cao. Vì vậy mà những người lao động có trình độ chuyên môn sẽ được thu
hút vào làm việc và được trả lương cao, còn những lao động tay nghề thấp sẽ trở
nên thất nghiệp. Thêm vào đó, những người giàu có nhiều vốn và trình độ càng có
cơ hội làm ăn kinh doanh dẫn đến càng giàu có, những người nghèo không có vốn
và trình độ thì càng trở nên nghèo hơn. Do đó, không tránh khỏi sự gia tăng chênh
lệch về thu nhập và chi tiêu giữa thành thị với nông thôn, giữa lao động có tay nghề
với lao động giản đơn, giữa những người giàu có với những người nghèo.
Quá trình mở cửa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới dẫn đến sự chênh lệch
về thu nhập và mức sống giữa thành thị và nông thôn cũng là một sự kiện thường
thấy ở những nước nông nghiệp trong đó có Việt Nam. Từ những thập niên vừa
qua, giá quốc tế những mặt hàng nông, lâm sản, những nguyên liệu thô và sơ chế
giảm đi rất nhiều so với các mặt hàng công nghiệp. Mà công nghiệp lại thường có
địa bàn hoạt động ở các khu vực thành thị và vùng lân cận, khiến cho người dân
thành thị cổ cồn giàu lên và hưởng lợi nhiều nhất, trong khi nông dân hưởng lợi ít
nhất nên tương đối nghèo đi, dẫn đến mức thu nhập của dân cư thành thị tăng so với
dân cư nông thôn. Ngoài ra, những tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp và công

Trong những năm qua chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều chính sách quan
tâm tới các vùng núi, vùng xa xôi, hẻo lánh, các hải đảo và các nhóm dân cư nghèo
khó như: cung cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, khám chữa bệnh miễn phí
cho những gia đình nghèo khó, miễn giảm học phí cho con em các gia đình nghèo,
gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, các đối tượng ưu tiên khác Và hàng loạt
các chương trình như: chương trình 135 (phát triển cơ sở hạ tầng ở các vùng sâu,
vùng xa), chương trình 327 (Dự án trồng năm triệu ha rừng), chương trình 120 (Tạo
việc làm), chương trình tái định canh, định cư, thành lập ngân hàng người nghèo để
cung cấp tín dụng cho các hộ nghèo
Những chương trình và chính sách trên đã tạo được việc làm và thu nhập cho
hàng trăm ngàn hộ nghèo, giúp họ tự thoát khỏi nghèo đói. Điều này đã góp phần
làm giảm chênh lệch thu nhập và chi tiêu giữa các nhóm dân cư, các khu vực.
Song bên cạnh đó vẫn còn một số chính sách có tác động làm cho khoảng
cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư dường như ngày một nới rộng. Chẳng hạn
như chính sách chi tiêu công, theo báo cáo phát triển thế giới 2004 của Ngân hàng
thế giới, công bố cuối tháng 9/2003, nhóm 1/5 nghèo nhất của dân cư nhận được ít
hơn 1/5 chi tiêu cho giáo dục và y tế, trong khi nhóm 1/5 giàu nhất lại nhận được
nhiều hơn. Lý do cơ bản là chi tiêu công cộng đã nghiêng về những dịch vụ được
14
người giàu tiêu dùng nhiều hơn, cho dù ban đầu nó có xu hướng vươn tới người
nghèo.
Đối với chính sách đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng chưa hợp lý và
hiệu quả. Những vùng trọng điểm, kinh tế phát triển mạnh lại được đầu tư nhiều,
những vùng nghèo tỷ lệ vốn đầu tư còn quá thấp so với tổng vốn đầu tư. Chính sách
đầu tư công chủ yếu dành cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng lại tạo ra rất ít việc
làm cho người lao động. Cụ thể, giai đoạn 2002 - 2004, trong khi khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh có tổng số vốn đầu tư là 320,9 nghìn tỷ đồng đã tạo ra khoảng
hơn 1 triệu việc làm mới, còn khu vực kinh tế nhà nước với tổng số vốn đầu tư là
384,8 nghìn tỷ đồng nhưng nhìn chung việc làm thay đổi ít.
Chính sách quản lý của nhà nước còn chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều bất cập.

đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam bộ và tình trạng thiếu đất canh tác
cũng xảy ra nghiêm trọng ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Không có đất hay
thiếu đất canh tác, đồng nghĩa với việc người nông dân thiếu việc làm gay gắt, thu
nhập không ổn định và cuộc sống trở lên khó khăn hơn.
15
Tại các vùng ven đô đất canh tác không tăng thêm mà bị thu hẹp do quá trình
đô thị hoá. Đối với khu vực thành thị và các vùng sắp được đô thị hoá, việc đầu cơ
đất đai, đẩy giá đất lên mức khá cao hay việc chuyển nhượng bất động sản phi chính
thức chưa bị đánh thuế thu nhập, thuế lợi nhuận dẫn đến một số nhóm người giàu có
một cách nhanh chóng góp phần làm cho chênh lệch giàu nghèo và bất bình đẳng
trong xã hội tăng lên.
Bên cạnh đó thị trường bất động sản chính thức thì hầu như đóng băng trong
khi thị trường bất động sản phi chính thức hoạt động với quy mô rất lớn không được
kiểm soát và điều tiết. Thị trường lao động thì chưa phát triển mạnh các dịch vụ môi
giới lao động, giới thiệu việc làm
1.3. Tình hình chung về chênh lệch giàu nghèo
1.3.1. Bức tranh chung về chênh lệch giàu nghèo của thế giới
Mức phân phối thu nhập giữa các nước vừa có xu hướng phân kỳ, vừa có xu
hướng hội tụ: ở một số khu vực khoảng cách thu nhập đang thu hẹp, trong khi một
số khác khoảng cách về thu nhập lại đang có chiều hướng gia tăng. Năm 1960, một
số khu vực tương đương nhau: vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương, Nam Á,
Châu Phi cận Sahara và các nước kém phát triển nhất có mức thu nhập bình quân
đầu người từ 1/10 đến 1/9 mức thu nhập bình quân đầu người của các nước thuộc
OECD thu nhập cao. Các nước Mỹ Latinh và vùng Caribê có mức thu nhập đầu
người khá hơn nhưng cũng chỉ bằng 1/3 đến 1/2 mức thu nhập đầu người của các
nước thuộc OECD.
Sự tăng trưởng đầy ấn tượng của các nước Đông Á và Thái Bình Dương làm
tăng tỷ lệ thu nhập của các nước này so với các nước thuộc OECD thu nhập cao, từ
khoảng 1/10 lên đến gần 1/5 trong thời kỳ 1960 - 2004. Thu nhập tương đối của các
nước vùng Caribê và Mỹ La tinh vẫn không thay đổi. Thu nhập của các nước Nam

(Bắc - Nam), phân hoá hai cực giàu nghèo, phân hoá xã hội một cách sâu sắc. Sự
nghèo khổ và hố ngăn cách giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển
ngày càng tăng lên. Trong báo cáo về " sự phát triển nhân văn" năm 1999, chương
trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) khẳng định: "Các thế lực của quá trình toàn
cầu hoá đã mang lại sự giàu có vô độ cho những người biết tận dụng lợi thế các
nguồn hàng hoá, dịch vụ đang tràn qua đường biên giới quốc gia", trong khi đa số
dân chúng trên thế giới ngày càng nghèo đi. Chính vì vậy, khoảng cách chênh lệch
giàu nghèo trên thế giới ngày một doãng ra.
Theo báo cáo của Liên hiệp quốc về phát triển con người năm 2000 cho thấy:
chỉ trong vòng 5 năm (1995 - 2000), 200 người giàu nhất thế giới đã nhân gấp đôi
số tài sản kếch xù của họ lên hơn 1000 tỷ USD; cũng trong thời gian đó 1,3 tỷ
người sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập bình quân 1 USD/ngày vẫn không
thay đổi. Quá nửa dân số thế giới trên 3 tỷ người chủ yếu thuộc các nước đang phát
triển có mức thu nhập dưới 2 USD/ người/ngày, trên 90% số người nghèo khổ hiện
đang sống ở các nước đang phát triển. Từ năm 1971 đến nay, số nước nghèo và
chậm phát triển nhất (LDC) không giảm đi mà còn tăng từ 25 lên 48 nước. Trong
khi các nước công nghiệp phát triển với khoảng 1,2 tỷ người, bằng 1/5 dân số thế
giới đang chiếm tới 86% GDP toàn cầu và 4/5 thị trường xuất khẩu và 1/3 vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khống chế 75% đường dây điện thoại thế giới thì các
nước nghèo nhất chiếm 1/5 dân số thế giới nhưng chỉ tạo ra được 1% GDP toàn cầu
và chỉ chiếm 0,4% kim ngạch xuất khẩu, 0,6% kim ngạch nhập khẩu của thế giới.
Tỷ lệ về khoảng cách GDP theo đầu người giữa các nước giàu nhất và nghèo nhất
cũng gia tăng nhanh chóng từ 31/1 vào những năm 1960, lên 61/1 vào thập niên
cuối cùng của thế kỷ XX và hiện nay khoảng cách này là 74/1.
Trên đây, chúng ta mới chỉ xem xét vấn đề chênh lệch thu nhập giữa các khu
vực, giữa nước giàu với nước nghèo, giữa các nước phát triển với các nước đang
phát triển ở trên phạm vi toàn thế giới. Còn vấn đề chênh lệch thu nhập hay chênh
lệch giàu nghèo trong phạm vi mỗi quốc gia cũng rất quan trọng và có thể tác động
đến triển vọng của quốc gia đó trong dài hạn.
Một nghiên cứu bao gồm 77 nước, chiếm 82% dân số thế giới cho thấy,

hơn 1/20.
Các nước thuộc khối OECD cũng có sự khác biệt trong bất bình đẳng thu
nhập, từ những mức thấp như ở Áo và Đan Mạch, đến những mức tương đối cao
như ở Anh và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, so với thế giới, mức độ bất bình đẳng về thu
nhập ở các nước này là tương đối thấp. Xu hướng thay đổi theo thời gian của các
nước này như thế nào? Kết quả từ nhiều nghiên cứu khác nhau ở các nước và giữa
các nước cho thấy rằng, bất bình đẳng thu nhập ở nhiều nước thuộc OECD đã tăng
lên từ giữa và cuối những năm 80 và những năm đầu của thế kỷ XXI.
Tóm lại, trong khi thế giới ngày càng giàu có hơn thì bất bình đẳng thu nhập
- dù là tuyệt đối hay tương đối, đều gia tăng nhanh chóng trong nội bộ từng nước và
giữa nước giàu với nước nghèo.
1.3.2. Sự phân hóa giàu nghèo của Việt Nam
Chúng ta biết rằng, quá trình phân hoá giàu nghèo tiếp diễn liên tục trong
lịch sử loài người theo dòng chảy của sự phát triển của lực lượng sản xuất. Từ khi
lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa ra đời và phát triển, xuất hiện chế độ chiếm hữu tư nhân và trao đổi, sự phân
hoá giàu nghèo bắt đầu từ đó. Trong tác phẩm " Nguồn gốc của gia đình, của chế độ
tư hữu, của chế độ nhà nước", Ăng ghen đã viết: " Sự phân biệt giữa kẻ giàu và
người nghèo đã xuất hiện bên cạnh sự phân biệt giữa người tự do và người nô lệ.
Cùng với sự phân công mới là sự phân chia mới xã hội thành giai cấp".
Như vậy, chính sự phân hoá giàu nghèo tất yếu dẫn đến sự phân hoá giai cấp
18
và khi lợi ích của các giai cấp mâu thuẫn thì xung đột xã hội trở nên gay gắt. Việt
Nam dưới thời kỳ xã hội phong kiến được chia ra thành hai giai cấp đó là giai cấp
địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân, người lao động làm thuê. Sự giàu có tập
trung vào tay các nhà địa chủ, họ nắm trong tay hàng trăm héc ta ruộng đất, hàng
ngàn lao động làm thuê. Còn sự nghèo khó lại rơi vào những người nông dân,
những lao động làm thuê. Ngay trong giai đoạn này xã hội đã được chia thành hai
tầng lớp giàu có và nghèo khổ.
Đến thời kỳ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, các sản phẩm xã hội

phân hoá đi quá xa, tập trung ở các khu vực hay các vùng nhạy cảm trong thời gian
dài sẽ trở thành lực cản thực sự trên bước đường phát triển kinh tế và thực hiện
công bằng xã hội. Đó cũng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn xung đột về
mặt chính trị, xã hội, đánh mất các cơ hội phát triển kinh tế. Sự chênh lệch giàu
nghèo không chỉ là điều đáng lo ngại đối với những người dân quan tâm đến tình
trạng thu nhập tương đối của họ mà nó còn đáng lo ngại cho cả một quốc gia vì các
tác động sau:
19
Một là, chênh lệch giàu nghèo có thể làm trầm trọng tác động của các thất
bại chính sách và thất bại thị trường tới tăng trưởng kinh tế, do vậy, tới sự tiến bộ
đối với người nghèo. Điều này làm cho chênh lệch giàu nghèo trở lên đặc biệt quan
trọng ở các nước nghèo như Việt Nam, nơi mà thị trường không hoàn hảo và các
thất bại về thể chế mang tính phổ biến. Ví dụ, những nơi thị trường vốn kém phát
triển như ở các tỉnh miền núi, các khu vực nông thôn và các khu vực vùng sâu, vùng
xa, người nghèo không có tài sản thế chấp sẽ khó có khả năng có thể vay vốn được.
Khả năng thực hiện các công việc kinh doanh nhỏ của họ do đó sẽ rất hạn chế - dẫn
đến làm giảm mức tăng trưởng chung của cả nước và hạn chế các cơ hội cho các hộ
nghèo.
Mặc dù, tăng trưởng kinh tế không phải là tất cả để thúc đẩy phát triển con
người và để giảm nghèo đói. Bởi vì khi có sự tăng trưởng kinh tế thì những người
nghèo chỉ được hưởng một phần từ sự tăng trưởng đó. Đặc biệt, đối với các quốc
gia chậm phát triển và bất bình đẳng về thu nhập ở mức cao, sự tăng trưởng sẽ tác
động rất ít đến việc giảm nghèo đói. Trái lại, đối với các nước có nền kinh tế phát
triển thì giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói lại có mối quan hệ về số học.
Kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước khác ở Đông Á cho thấy,
tăng trưởng kinh tế mang lại sự đóng góp rất lớn.
Hai là, sự tập trung thu nhập vào nhóm giàu nhất có thể làm hạn chế các
chính sách công cộng như chính sách hỗ trợ cho giáo dục công nhằm mục đích phổ
cập và nâng cao chất lượng - đây là một chính sách có thể nâng cao sự phát triển
của con người. Chi tiêu công cho giáo dục có xu hướng phân bổ không công bằng,

khiến cho khó đạt được sự đồng thuận về chính trị giữa các nhóm dân cư có mức
thu nhập cao thấp khác nhau. Bất ổn về chính trị sẽ làm tăng rủi ro khi đầu tư vào
một quốc gia và làm suy giảm một cách đáng kể tiềm năng phát triển của quốc gia
đó. Bởi vì, một môi trường đầu tư thuận lợi bao gồm nhiều yếu tố làm cho việc đầu
tư vào nước này mang lại nhiều lợi ích hơn và ít rủi ro hơn khi đầu tư vào nước
khác. Sự ổn định về chính trị là một trong những yếu tố quan trọng nhất.
Tất cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước đều lo lắng trước những biến động
chính trị và viễn cảnh chế độ mới có thể áp đặt các mức thuế hà khắc hay tịch thu
các tài sản đầu tư. Kết quả là một quốc gia lại có thể rơi vào cái vòng luẩn quẩn của
đói nghèo, điều này đã từng xảy ra trong lịch sử tại nhiều nước Châu Phi và một vài
nước Châu Mỹ Latinh. Sự bất ổn chính trị "xua đuổi" những khoản đầu tư mới, cái
bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn và cải thiện phúc lợi cho cuộc sống
của người dân, thậm chí gây ra sự bất mãn về chế độ chính trị và làm tăng sự bất ổn
chính trị. Rơi vào cái vòng luẩn quẩn này có thể gây trở ngại to lớn cho các nỗ lực
thúc đẩy phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo.
Năm là, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng thường phản ánh điều kiện
địa dư của phân bố tài nguyên, mặt khác phản ánh mức độ phát triển của từng vùng
và sự hoà nhập kinh tế của các vùng với nhau. Nếu sự chênh lệch này mà ở mức
không đáng kể thì có thể coi như là ổn định, nếu sự chênh lệch này đạt đến một mức
độ nào đó, mâu thuẫn quyền lợi kinh tế địa phương là điều không tránh khỏi. Những
mâu thuẫn này có thể dẫn đến những xung đột mà mức gay gắt nhất là ly khai. Lịch
sử nhân loại đầy những thí dụ này và nhất là ở Châu Phi trong hai mươi năm trở lại
đây. Cách giải thích thường ghép thêm sắc tộc vào những vùng xảy ra ly khai và
đem những lý lẽ như văn hoá, quyền tự trị ra làm nguyên do cho những xung đột
không thể hoà giải này được. Thực ra, chính mức thu nhập mới là động cơ và nếu
thêm tác động từ bên ngoài, thường là từ một cường quốc có quyền lợi kinh tế trong
vùng thì khả năng đẩy mức xung đột đến bạo loạn ly khai mới có thể được.
Sáu là, sự chênh lệch thu nhập giữa thành thị với nông thôn quá cao sẽ gây ra
các tác hại không thể lường trước được. Chẳng hạn như vấn đề an ninh quốc gia và
an ninh xã hội. Vì vậy, nếu phân hoá giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị theo

chính là các chỉ tiêu phản ánh sự bất bình đẳng về thu nhập và chi tiêu phải phản
ánh được ở nhiều góc độ khác nhau, cho nên khi nghiên cứu cần phải có các chỉ tiêu
22
phản ánh về thu nhập, về chi tiêu và các chỉ tiêu phản ánh chênh lệch giàu nghèo.
Bên cạnh đó, việc lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đo lường chênh lệch giàu nghèo
rất hữu ích cho việc so sánh sự chênh lệch về thu nhập hoặc chi tiêu giữa các nhóm
dân cư, các khu vực, các vùng trong nội bộ một quốc gia hay có thể so sánh quốc tế,
đồng thời có thể so sánh mức độ chênh lệch giàu nghèo theo thời gian.
Ngày nay, vấn đề chênh lệch giàu nghèo được coi là vấn đề quan trọng đối
với bất kỳ quốc gia nào. Đảng và Nhà nước ta luôn nỗ lực đưa ra các biện pháp
nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo như các chương trình phát triển, ưu đãi đầu
tư cho khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và các chương trình xoá đói giảm
nghèo mà điển hình là chương trình 135 Vì vậy, cần phải lựa chọn hệ thống chỉ
tiêu đo lường, đánh giá chênh lệch giàu nghèo cho phù hợp với điều kiện cụ thể của
nước ta.
Việc lựa chọn các chỉ tiêu thống kê chênh lệch giàu nghèo phải đảm bảo một
số yêu cầu sau đây:
Tính chuyển nhượng: đây chính là nguyên lý chuyển nhượng của Pigou- Dalton,
nguyên lý chuyển nhượng đòi hỏi một chuyển nhượng thu nhập hoặc chi tiêu từ
một người giàu hơn tới một người nghèo hơn sẽ làm giảm tính toán chênh lệch
giàu nghèo mà không làm thay đổi vị trí tương đối của họ. Tất cả các chỉ số đo
lường chênh lệch giàu nghèo đều thỏa mãn nguyên lý chuyển nhượng.
Tính độc lập trung bình: các hệ số chênh lệch giàu nghèo sẽ không thay đổi nếu tất
cả thu nhập hoặc chi tiêu tăng hay giảm cùng một tỷ lệ. Điều này có nghĩa là nó
phụ thuộc vào tỷ lệ Y
1
:Y
2
:Y
3

đó bất bình đẳng trong từng nhóm nhỏ và bất bình đẳng giữa các nhóm cộng lại
bằng tổng bất bình đẳng. Tuy nhiên, nếu phân tách bất bình đẳng giữa các nguồn
thu nhập thì cần phải lưu ý vì thu nhập không phải là các nhóm loại trừ lẫn nhau.
Nhiều hộ có các nguồn thu nhập từ hơn một nhóm, ví dụ như vừa từ hoạt động
nông nghiệp, vừa từ lao động hưởng lương.
Có thể xử lý được các giá trị thu nhập âm: thu nhập âm xảy ra khi mất mùa diễn ra
từ năm này qua năm khác hoặc các doanh nghiệp tự trả lương làm ăn thua lỗ từ
năm này qua năm khác. Với tiêu chí này chỉ có hệ số Gini mới thỏa mãn.
Như vậy, các chỉ tiêu đo lường chênh lệch giàu nghèo có thể thỏa mãn tất cả hoặc
23
chỉ một vài yêu cầu đưa ra ở trên. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng tất cả các hệ số
chênh lệch giàu nghèo đều là các đơn vị tự do, do đó có thể nói nó chỉ là các con số
thuần túy. Chính vì vậy nó rất thuận tiện cho việc so sánh chênh lệch giàu nghèo
giữa các nhóm dân cư, các vùng, các khu vực, các địa phương trong cả nước và
giữa các nước với nhau.
Để phân tích được sự chênh lệch giàu nghèo thì cần phải tính toán được các
chỉ tiêu về thu nhập như thu nhập của dân cư ( hộ gia đình), thu nhập bình quân đầu
người Tuy nhiên, việc tính toán thu nhập của hộ gia đình có nhiều sai số, nhất là ở
các nước có thu nhập thấp như nước ta mà hộ nông dân và doanh nghiệp phi nông
nghiệp chiếm ưu thế, người trả lời phỏng vấn có thể rất miễn cưỡng khi đưa ra con
số về thu nhập thực tế của họ. Các hộ có thể cũng không biết chính xác được mức
thu nhập của họ. Việc tính toán nguồn thu thuần cho các doanh nghiệp cá thể đòi
hỏi phải tổng hợp một số lượng lớn đầu vào có định kỳ, chi phí lao động và doanh
số sản phẩm cũng như giải quyết được các vấn đề có tính khái niệm và khó trên
thực tiễn. Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình đã cố gắng rất nhiều để có thể tính
toán được tất cả các mục này qua hàng trăm loại đầu vào và đầu ra nhưng tổng hợp
chung về nguồn thu nhập thuần của hộ vẫn không tránh khỏi sai số. Có khá nhiều số
âm và dương với khác biệt rất lớn trong nguồn thu thuần của hộ nông dân và hộ gia
đình không phải ở nông thôn. Chẳng hạn như cuộc điều tra mức sống dân cư năm
1993 rất nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp hơn chi tiêu của hộ.

N
Y
Y =
Trong đó:
Y
là thu nhập bình quân đầu người
Y là tổng thu nhập của dân cư
N là dân số bình quân.
Chỉ tiêu này phản ánh sức mua của từng người trong một thời gian nhất định và
được tính cho từng nhóm dân cư, từng khu vực, từng vùng và toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
2.1.2.3. Chi tiêu của hộ gia đình
Chi tiêu của hộ gia đình là tổng số tiền mà hộ và các thành viên của hộ chi
cho các nhu cầu về vật chất và dịch vụ của mình trong một khoảng thời gian nhất
định thường là một năm.
Công thức tính:
Chi tiêu của hộ gia đình = Chi tiêu về LTTP + Chi tiêu về phi LTTP
Trong đó:
+ Chi tiêu về LTTP là tổng chi tiêu về ăn uống của hộ trong 12 tháng qua.
+ Chi tiêu về phi LTTP gồm có chi cho giáo dục, chi y tế, chi nhà ở, chi điện, nước,
vệ sinh môi trường và các chi tiêu hàng hoá phi LTTP và dịch vụ khác.
2.1.2.4. Chi tiêu bình quân đầu người
Chi tiêu bình quân đầu người là số tiền trung bình mà một người dân bỏ ra để
chi tiêu cho nhu cầu vật chất và dịch vụ của mình trong một khoảng thời gian nhất
định thường là một năm.
Công thức:
N
EX
EX =
Trong đó:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status