Luận văn thạc sỹ: Phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán - Pdf 25

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài luận văn : “Phát triển kinh doanh của công ty cổ
phần chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán ” là
kết quả sau một thời gian tự nghiên cứu, phân tích, đánh giá của bản thân. Các số
liệu đều có nguồn trích dẫn cụ thể, dựa trên các tạp chí chuyên ngành, được cung
cấp từ các phòng ban của công ty cổ phần chứng khoán FPT.
Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2013
Học viên thực hiện
Hà Bình Minh
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới PGS. TS Phan Tố Uyên đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu cho đến khi luận văn được
hoàn thành. Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo trong Hội đồng
khoa học Khoa Thương Mại và Kinh tế Quốc tế, các bạn đồng nghiệp làm việc tại
công ty cổ phần chứng khoán FPT đã hỗ trợ em trong suốt quá trình làm luận văn
thạc sỹ này.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2013
Học viên thực hiện
Hà Bình Minh
MỤC LỤC
1.1.Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới hoạt động của các công ty
chứng khoán Việt Nam 5
Tác động tiêu cực 6
Tác động tích cực 8
1.2.Tổng quan về phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối
cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 8
1.2.1.Đặc điểm kinh doanh của công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 8
1.2.2.Lý thuyết về phát triển kinh doanh các công ty chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng
khoán 10
Các nguyên tắc, quan điểm cấu trúc lại các công ty chứng khoán: 11

3.3. Một số kiến nghị với Ủy ban chứng khoán nhà nước 74

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nguyên văn
TTCK Thị trường chứng khoán
CTCK Công ty chứng khoán
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
SGDCK TP.HCM Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
SGDCK HN Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
FPTS Công ty cổ phần chứng khoán FPT
OTC Thị trường phi tập trung
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 1.1: Những công ty chứng khoán lỗ lớn 9 tháng đầu năm 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 1.2: Công ty chứng khoán lỗ lũy kế hơn 50% vốn điều lệ Error: Reference
source not found
Bảng 1.3: Chỉ tiêu tài chính nhân sự tại một số CTCK lớn đến 30/06/2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.1: Tình hình nhân sự tại FPTS từ năm 2007 đến năm 2011 Error: Reference
source not found
Bảng 2.3: Tình hình phát triển sản phẩm dịch vụ cho khách hàng cá nhân tại
Bảng 2.4: Tình hình phát triển sản phẩm dịch vụ cho khách hàng tổ chức tại
FPTS từ năm 2007 đến năm 2012 Error: Reference source not found
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu tài chính và nhân sự tại FPTS từ 2008 đến 2012 Error:
Reference source not found
FPTS từ năm 2007 đến năm 2012 Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Cơ cấu doanh thu của FPTS qua các năm từ 2008 đến 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.6: Số lượng tài khoản mở tại FPTS từ năm 2007 đến 2011 Error: Reference

2.2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT 36
2.2.2. Thực trạng phát triển kinh doanh tại công ty cổ phần chứng khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị
trường chứng khoán 40
2.3. Đánh giá về phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán FPT
trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán 53
2.3.1. Những kết quả đạt được 53
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 55
3.1. Dự báo tác động của việc suy giảm thị trường chứng khoán đến hoạt động
kinh doanh của các CTCK 59
3.2. Định hướng phát triển của công ty cổ phần chứng khoán FPT đến năm 2020
61
3.3. Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng
khoán FPT đến năm 2020 63
3.2.1. Xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh các dịch vụ phù hợp 63
3.2.2. Chiến lược marketing cụ thể, hiệu quả 64
3.2.3. Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng 65
3.2.4. Chính sách tuyển dụng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 68
3.3. Một số kiến nghị với Ủy ban chứng khoán nhà nước 74
Hình 1.1: Đồ thị Vnindex từ ngày thành lập Error: Reference source not found
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Năm 2000, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã đưa Trung tâm giao dịch chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là SGDCK TP.HCM) vào hoạt động, đánh dấu
sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam. Năm 2005, Trung tâm giao dịch
chứng khoán Hà Nội (nay là SGDCK HN) lần đầu tiên tổ chức bán đấu giá cổ phiếu
của các công ty quốc doanh cho các nhà đầu tư. Tính đến hết tháng 06/2012, trên thị
trường chứng khoán đã có 393 cổ phiếu niêm yết trên SGDCK HN; có 276 cổ phiếu,
chứng chỉ quỹ niêm yết trên SGDCK TP.HCM. Như vậy tổng số cổ phiếu, chứng chỉ
quỹ niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán là 669 doanh nghiệp. Trong thời gian qua,
cùng với sự phát triển không ngừng về quy mô của thị trường chứng khoán Việt

văn thạc sỹ, nhằm giúp các nhà quản lý công ty có cái nhìn rõ hơn, cụ thể hơn về
tình hình kinh doanh của mình trong bối cảnh hiện tại. Từ đó có chính sách phát
triển thích hợp đem lại sự thỏa mãn tối đa cho các cổ đông, cũng là làm cho hoạt
động của công ty ngày một hiệu quả và chuyện nghiệp hơn.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu
Những năm 2005-2007, khi thị trường chứng khoán bùng nổ, cùng với đó là
sự quan tâm của báo chí, các cơ quan ngôn luận về tình hình thị trường, thì cũng
nhiều công trình nghiên cứu về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Nhiều đề tài
nghiên cứu, tiểu luận về chứng khoán viết về công ty chứng khoán, nghiệp vụ của
công ty chứng khoán, phát triển kinh doanh, nâng cao chất lượng… Tuy nhiên từ
những năm 2008 trở đi, khi thị trường chứng khoán suy giảm, số lượng các nghiên
cứu cũng như đề tài viết về chủ đề này cũng hạn chế và nội dung của các đề tài cũng
vẫn chủ yếu xoay quanh các vấn đề như trên. Các nghiên cứu về thị trường lúc suy
giảm cũng như tác động của nó đến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
gần như chưa có. Một số các nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung
ương, Phòng quản lý thành viên của hai sở giao dịch, hay các bài báo, nghiên cứu
nhỏ… đều mang tính chất mô tả thực trạng, liệt kê các vấn đề hoặc các vấn đề vĩ mô
2
tổng thể. Ví dụ như Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương thường nghiên cứu
các vấn đề tổng quan về thị trường chứng khoán như “Mở rộng hình thức cổ phần
trong nền kinh tế” (năm 2010); “Nâng cao hiệu quả và phát huy tác dụng của thị
trường chứng khoán” ( năm 2011). Các chuyên trang về tài chính như VNeconomy,
Cafef, stockbiz, Gafin… thường có cái bài thống kê giao dịch, nhận định thị trường
hoặc các phân tích về các công ty niêm yết hàng ngày và hàng tuần.
Về vấn đề phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán, tác giả có tham
khảo những nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sỹ “ Phát triển dịch vụ chứng khoán của công ty chứng khoán
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” của Nguyễn Hồng Giang (2009), với
những nội dung nghiên cứu về thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty, nêu
những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) và chỉ rõ những tồn tại

Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, nội dung nghiên cứu của luận văn được
chia làm ba phần như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển kinh doanh của các công ty
chứng khoán trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng
khoán FPT trong bối cảnh suy giảm thị trường chứng khoán hiện nay
Chương 3: Giải pháp phát triển kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán
FPT đến năm 2020
4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH
CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRONG BỐI CẢNH
SUY GIẢM THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới hoạt động của
các công ty chứng khoán Việt Nam
Những khó khăn của nền kinh tế thế giới đang tiếp tục kéo dài từ các năm
trước sang năm 2012. Kinh tế toàn cầu chưa thoát khỏi đợt suy thoái kép, tăng
trưởng kinh tế đang diễn ra chậm hơn so với cuối năm 2011. Khủng hoảng nợ công
Châu Âu ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường. Niềm tin về sự phục hồi của Mỹ
cũng đang yếu dần bởi những khó khăn của nền kinh tế và sản xuất trì trệ diễn ra ở
hầu hết các nước trên thế giới. Nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, nhiều nước đã
bơm tiền vào hệ thống ngân hàng hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ.
Tại Việt Nam, chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô trong năm 2011 đã khiến cho tăng trưởng kinh tế chậm lại trong năm
2012. Lạm phát, lãi suất cao, sản xuất suy giảm do tiêu thụ hàng hóa chậm, hàng
tồn kho tăng gây sức ép cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chính Phủ đề ra mục tiêu trong nghị quyết 01/NQ-CP ngày 3/1/2012 và Nghị quyết
13/NQ-CP ngày 10/5/2012 là : “Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo
an sinh xã hội, từng bước thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế”. Các biện pháp, chính
sách tài khóa, tiền tệ đã được áp dụng và đang đạt được những thành công nhất

Tác động tiêu cực
Thị trường chứng khoán suy giảm đồng nghĩa với việc giá trị giao dịch trên thị
trường giảm, doanh thu của các công ty chứng khoán từ đó cũng giảm theo, trong khi
chi phí hoạt động ngày càng tăng, đã làm nhiều công ty rơi vào tình trạng thua lỗ, tác
động mạnh tới sự phát triển kinh doanh của các công ty chứng khoán, cụ thể:
6
Thứ nhất, các công ty phải thu hẹp hoạt động kinh doanh bằng cách đóng
cửa các chi nhánh, phòng giao dịch, cắt giảm nhân sự. Trong 6 tháng đầu năm 2012,
mạng lưới của các CTCK có xu hướng bị thu hẹp lại, đã có 10 chi nhánh, 7 phòng
giao dịch đóng cửa, trong khi chỉ có 3 chi nhánh và 2 phòng giao dịch được mở
mới, tổng số chi nhánh hiện tại là 135 và 73 phòng giao dịch. Nhiều công ty đã
không còn nguồn lực để duy trì hoạt động của công ty, buộc phải từ bỏ bớt các
nghiệp vụ kinh doanh, từ đó thay đổi hoàn toàn chiến lược kinh doanh dài hạn, thậm
chí có những công ty buộc phải dừng hoạt động.
Thứ hai, sự mất vốn kinh doanh khiến nhiều công ty chứng khoán có nguy
cơ bị thâu tóm bởi các doanh nghiệp, tổ chức khác có tiềm lực hơn. Thị trường
chứng khoán suy giảm đã khiến giá cổ phiếu của các công ty chứng khoán trở nên
rẻ hơn nhiều so với trước đây, việc sở hữu một công ty chứng khoán nhỏ hoặc trung
bình trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Do vậy thời gian qua đã xuất hiện nhiều thương
vụ thâu tóm cổ phiếu của các công ty chứng khoán một cách âm thầm, đặc biệt từ
các nhà đầu tư nước ngoài. Nếu các công ty không chủ động phòng ngự, việc bị mất
tỷ lệ cổ phần chi phối sẽ khiến các lãnh đạo công ty mất khả năng kiểm soát, ảnh
hưởng toàn bộ đến phát triển kinh doanh của công ty.
Thứ ba, vấn đề về rủi ro và đạo đức nghề nghiệp. Thị trường chứng khoán
suy giảm đã khiến áp lực kinh doanh với các lãnh đạo công ty chứng khoán tăng
lên. Để đạt được các chỉ tiêu lợi nhuận, nhiều lãnh đạo các công ty đã chấp nhận
thực hiện các nghiệp vụ trái qui định như xây kho hàng bán khống, cho vay kí quỹ
với tỷ lệ cao, cạnh tranh về hoa hồng môi giới để lôi kéo nhân viên… Điều này đã
khiến rủi ro trong hoạt động của các công ty chứng khoán là rất lớn. Bên cạnh đó,
những kẽ hở trong qui trình hoạt động, các qui định còn đơn giản của pháp luật,

Thông qua hoạt động mua bán trên thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán
vừa làm dịch vụ cho người bán ( tổ chức phát hành chứng khoán, cổ đông, tổ chức
8
bảo lãnh phát hành), vừa làm dịch vụ cho người mua ( nhà đầu tư cá nhân, nhóm lợi
ích, tổ chức), đồng thời đáp ứng lợi ích của chính mình là có lợi nhuận.
Trong điều kiện thị trường chứng khoán suy giảm, các cơ quan chủ quản cũng
ra những qui định chặt chẽ hơn trong hoạt động kinh doanh của các công ty chứng
khoán. Đăc điểm kinh doanh của các công ty chứng khoán trong bối cảnh này là:
Thứ nhất, ngành nghề kinh doanh chứng khoán thuộc ngành nghề kinh doanh
có điều kiện. Khi thị trường suy giảm, hoạt động kinh doanh của các công ty chứng
khoán phải tuân thủ các qui định chặt chẽ hơn về vốn Pháp định so với trước kia.
Ngày 20/07/2012, Thủ tướng chính phủ đã kí nghị định số 58/2012/NĐ-CP về việc
qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật
sửa đổi bổ sung một số điều của luật chứng khoán, trong đó qui định vốn pháp định
mới trong hoạt động của các công ty chứng khoán. Cụ thể: Vốn pháp định cho các
nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán tại Việt Nam là : Môi giới chứng
khoán 25 tỷ đồng, Tự doanh chứng khoán 100 tỷ đồng, Bảo lãnh phát hành chứng
khoán 165 tỷ đồng, tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ đồng. Việc thay đổi vốn pháp
định cho các nghiệp vụ kinh doanh để đảm bảo hơn sự an toàn cho các khách hàng
của công ty chứng khoán.
Thứ hai, sự linh hoạt về phương thức kinh doanh và sản phẩm dịch vụ: Điều
này xuất phát từ đặc điểm cơ sở khách hàng, mối quan hệ cung cầu về dịch vụ
chứng khoán cũng như sự sơ khai của thị trường chứng khoán Việt Nam. Khách
hàng của công ty chứng khoán gồm cả bên bán ( tổ chức niêm yết, cổ đông) và bên
mua (nhà đầu tư cá nhân, tổ chức). Để có thể mở rộng mạng lưới khách hàng, đa
dạng hóa về doanh thu, rất nhiều công ty chứng khoán đã phát triển và hiện thực
hóa nhiều loại hình sản phẩm kinh doanh dịch vụ chứng khoán, phục vụ tối đa và
thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
hằng ngày của mình.
Thứ ba, sự linh hoạt trong phương thức xử lý rủi ro: Do tình hình thị trường

khả năng kiểm soát rủi ro của các công ty chứng khoán. Trên cơ sở đó, từng bước
thu hẹp số lượng các công ty chứng khoán.
- Tăng cường khả năng, hiệu quả quản lý, giám sát đối với hoạt động công ty
chứng khoán.
- Mở cửa thị trường dịch vụ tài chính theo lộ trình hội nhập đã cam kết.
Các nguyên tắc, quan điểm cấu trúc lại các công ty chứng khoán:
- Việc tái cấu trúc các công ty chứng khoán được thực hiện theo lộ trình, có
bước đi thận trọng, chắc chắn, không làm xáo trộn hoạt động của thị trường chứng
khoán cũng như các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước, đảm bảo lợi ích hợp
pháp khách hàng.
- Công ty chứng khoán thực hiện tái cơ cấu trên cơ sở quy định của pháp luật,
lộ trình của Đề án tái cấu trúc và theo sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý Nhà
Nước.
- Xử lý tốt mối quan hệ giữa các công ty chứng khoán, ngân hàng và tổ chức
bảo hiểm đảm bảo quản trị rủi ro, đồng thời sử dụng các nghiệp vụ thị trường để tái
cơ cấu thông qua cơ chế góp vốn minh bạch.
Trên cơ sở Thông tư 226/2010/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2010 của Bộ
Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức
kinh doanh chứng khoán không đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính và các văn
bản hướng dẫn về chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng như kết quả kinh
doanh đã kiểm toán của các công ty chứng khoán, tiến hành rà soát phân nhóm các
công ty chứng khoán theo mức độ rủi ro giảm dần dựa trên 02 chỉ tiêu sau: Vốn khả
dụng/tổng rủi ro (bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro thanh toán, và rủi ro hoạt động)
và tỷ lệ lỗ lũy kế/vốn điều lệ. Cụ thể:
- Nhóm 1-nhóm bình thường: Nhóm này bao gồm các công ty chứng
khoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro trên 150% và có lãi hoặc lỗ lũy kế dưới
30% vốn điều lệ.
11
- Nhóm 2-nhóm kiểm soát: Nhóm này bao gồm các công ty chứng
khoán có tỷ lệ vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 150% tới trên 120% và có lỗ lũy kế từ

đầu tư và nhà phát hành, đồng thời cũng đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền
kinh tế qua TTCK.
Đối với TTCK
Đối với TTCK, các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK có hai vai trò chính:
Một là, góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường: giá cả chứng khoán là do
thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra giá cuối cùng, người mua và người bán
phải thông quan CTCK vì họ không được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán.
Trên thị trường sơ cấp , các CTCK cung cấp dịch vụ tư vấn cổ phần hóa và dịch vụ
bảo lãnh phát hành chứng khoán cùng các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên.
Trên thị trường thứ cấp, các CTCK cung cấp dịch vụ môi giới, tư vấn, giúp các nhà
đầu tư giao dịch được chứng khoán ở mức giá hợp lý. Do đó, có thể nói hoạt động
của CTCK đã góp phần tạo lập giá cả cho các chứng khoán.
Hai là, góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính: Các
dịch vụ công ty chứng khoán cung cấp như môi giới, tư vấn, bảo lãnh phát hành
giúp chứng khoán được giao dịch qua lại trên thị trường, giúp kết nối các nhu cầu
của bên bán và bên mua, từ đó tạo ra tính thanh khoản cho các tài sản tài chính.
Đối với cơ quan quản lý thị trường
Một trong những qui định của TTCK là các thông tin cần phải được công khai
hóa dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa
là qui định của pháp luật, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của CTCK vì CTCK phải
minh bạch, công khai trong mọi hoạt động. Nhờ việc cung cấp các thông tin như giao
dịch mua bán, thông tin về cổ phiếu, thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về nhà
đầu tư , các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng
thao túng, bóp méo thị trường, lũng đoạn, làm giá cổ phiếu; đồng thời có các biện
pháp, chính sách thích hợp nhằm thúc đẩy, phát triển TTCK.
13
Tuy nhiên trong những năm gần đây, đặc biệt là từ năm 2007 đến nay tình
hình kinh tế thế giới có nhiều biến động phần nào ảnh hưởng đến thị trường tài
chính mà thị trường chứng khoán Việt Nam là nạn nhân. Chỉ số VNIndex giảm
mạnh, khối lượng và giá trị giao dịch cũng giảm, thị trường có những giai đoạn gần

Sao Việt -1,32 -12,06
Liên Việt -4,12 -10,79
Việt Quốc -3,37 -9,38
Âu Việt -20,35 -9,27
Cao su -2,25 -8,88
Rồng Việt -10,77 -7,47
Tràng An -2,08 -7,4
(Nguồn:Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh)
Tuy nhiên, thống kê đến hết tháng 9/2012, ngoài những công ty chứng khoán
gần như đã “biến mất” trên thị trường như Chứng khoán Đông Dương (DDS),
15
Chứng khoán SME (SME), Chứng khoán Hà Nội (HSSC), Chứng khoán Trường
Sơn (TSS), Chứng khoán Hamico (HamicoSC)… thì có đến 63 công ty đã có lỗ lũy
kế, với con số lên tới gần 6,000 tỷ đồng. Trong số này, có khoảng 12 công ty lỗ hơn
50% vốn điều lệ, 17 công ty lỗ từ 30% đến dưới 50% vốn điều lệ và khoảng 32
công ty lỗ dưới 30%.
Bảng 1.2: Công ty chứng khoán lỗ lũy kế hơn 50% vốn điều lệ
Đơn vị: Tỷ đồng
Mã chứng
khoán
Vốn chủ sở
hữu Vốn điều lệ
LNST chưa phân
phối
SBS -247,16 1266,6 -1763,16
RUBSE -2,18 40 -42,18
HASC 54,22 150 -127,53
VINA 35,68 185 -149,48
HRS 22,62 75,54 -52,92
NSI 17,55 50 -33,19

tỷ đồng; Tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ đồng. Việc phát triển đầy đủ các
nghiệp vụ sẽ tạo điều kiện cho công ty chứng khoán đa dạng hóa doanh thu, từ
đó có những chiến lược phát triển kinh doanh phù hợp theo từng nghiệp vụ trong
mỗi thời kì khác nhau cũng như trên cơ sở tiềm lực của doanh nghiệp. Với các
nghiệp vụ kinh doanh theo qui định, các công ty chứng khoán thực hiện được
nhiều sản phẩm dịch vụ để cung cấp cho khách hàng như : mở tài khoản giao
dịch, lưu kí chứng khoán, tư vấn đầu tư, giao dịch mua bán, tư vấn cổ phần hóa,
bảo lãnh phát hành Càng nhiều sản phẩm, dịch vụ, các CTCK càng có nhiều cơ
hội để mở rộng quan hệ và tiếp cận nhiều đối tượng khách hàng khách hàng khác
nhau. Sơ bộ các công ty chứng khoán lớn trên thị trường hiện nay có thể thấy,
công ty nào hiện đang có vốn điều lệ và lượng tiền mặt lớn đều là những công ty
dẫn đầu về thị phần, doanh thu và tạo ra được nhiều lợi nhuận. Thống kê số liệu
về một số công ty chứng khoán lớn hiện nay để phân tích các yếu tố tác động đến
việc phát triển kinh doanh tại các công ty.
Bảng 1.3: Chỉ tiêu tài chính nhân sự tại một số CTCK lớn đến 30/06/2012
17
Chỉ tiêu Công ty
Đơn vị
SSI HSC ARG KLS VND BVS
Tiền và tương đương tiền
Tỷ đồng
2252 1534 3270 1713 1293 638
Doanh thu
Tỷ đồng
417 330 483 161 147 116
Doanh thu môi giới
Tỷ đồng
68 91 17 4 37 33
Doanh thu khác
Tỷ đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status