LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp trước khi ra trường chiếm một vị trí vô cùng quan
trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên, giúp cho củng cố hệ thống
kiến thức đã học, nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận làm quen với
phương pháp nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học vào thực
tiễn. Đồng thời tạo cho mình sự tự lập, tự tin vào bản thân, lòng yêu nghề, có
phong cách làm việc đúng đắn, có lối sống lành mạnh để trở thành người cán
bộ có chuyên môn, năng lực làm việc đáp ứng nhu cầu của thực tiễn.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của Ban Chủ
nhiệm khoa Môi trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự giúp đỡ
của thầy giáo hướng dẫn, em đã tiến hành thực tập tại Khoa Môi Trường từ
ngày 10/02/2014 – 01/06/2014 thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng xử lý
nước ô nhiễm của thực vật thủy sinh tại ao cá Bác Hồ, trường đại học
Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ tận tình của Ban Chủ nhiệm
Khoa Môi trường, cùng tập thể thầy cô giáo trong khoa, sự hướng dẫn tận tình
của thầy giáo hướng dẫn cùng sự nỗ lực của bản thân, em đã hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng nhưng do một số yếu tố chủ quan và khách quan
của bản thân, thời gian thực tập có hạn, bước đầu làm quen với công tác
nghiên cứu khoa học nên đề tài của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu
sót. Em rất mong được sự góp ý chỉ bảo của thày cô giáo và bạn bè để đài tài
của em được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Một số thủy sinh thực vật tiêu biểu 12
Bảng 2.2. Nhiệm vụ của thủy sinh thực vật 12
Bảng 3.1. Các thông số sử dụng trong QCVN 08:2008/BTNMT 20
Bảng 4.1: Kết quả phân tích mẫu nước ao cá Bác Hồ - Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên 23
Bảng 4.2: kích thước sinh trưởng của một số loài thực vật thủy sinh 24
COD : Nhu cầu oxy hóa học
TSS : Tổng chất rắn lơ lửng
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TS : Tiến sĩ
GS-TS : Giáo sư tiến sĩ
TVTS : Thực vật thủy sinh
BVMT : Bảo vệ môi trường
LVS : Lưu vực sông
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Cơ sở pháp lý 3
2.1.2. Cơ sở lý luận 3
PHẦN 3 15
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1. Đối tượng nghiên cứu 15
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
3.2.1. Địa điểm 15
4.5. Đề xuất giải pháp áp dụng vào thực tiễn 38
PHẦN 5 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1. Kết luận 40
5.2. Kiến nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chúng ta đang sống trong một thời kì mà môi trường đang bị ô nhiễm
nặng nề. Đó là một trong những vấn đề bức xúc và nóng bỏng của thế giới, đặc
biệt trong tình hình hiện nay toàn thể nhân loại đang phải đối mặt với khủng
hoảng kinh tế nghiêm trọng kết hợp cùng với những ảnh hưởng từ tình trạng
biến đổi khí hậu, cái giá mà chúng ta phải trả cao hơn rất nhiều. Việc ô nhiễm
môi trường ảnh hưởng trực tiếp tới sự thịnh vượng và cuộc sống của các dân
tộc, cả hiện tại và trong tương lai xa .
Trường Đại học Nông Lâm là một trường đại học đào tạo cán bộ nông
lâm nghiệp đầu tiên của khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Từ ngày thành
lập đến nay trường đã không ngừng phát triển trưởng thành và khẳng định
được vị trí trọng điểm số 1 thực hiện nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực nông
lâm nghiệp có trình độ cao trong khu vực. Với số lượng lớn sinh viên và sự
phát triển của các dịch vụ ăn uống, giải trí tại nhà trường ngày càng tăng nên
đã thải ra môi trường không ít các chất thải nói chung và nước thải nói riêng
trong ký túc ngày càng lớn dẫn đến môi trường cũng ảnh hưởng nặng nề. Việc
quản lí về môi trường trở nên khó khăn.
Ô nhiễm môi trường nước là một vẫn đề lớn mà Việt Nam đang phải đối
mặt. Hầu hết nước thải sinh hoạt cũng như công nghiệp không được xử lý mà thải
trực tiếp vào môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nguông nước
mặt, nước ngầm, tác động xấu đến điều kiện vệ sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến
sức khỏe cộng đồng.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế.
- Nâng cao kiến thức thực tế.
- Tích luỹ kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.
- Bổ sung tư liệu cho học tập.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được hiện trạng chất lượng nước tại ao cá Bác Hồ - trường
đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Đánh giá được khả năng xử lý nước ô nghiễm của một số loài thực vật thủy sinh.
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch quy hoạch cảnh quan
của nhà trường.
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ luật Bảo vệ môi trường 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012
của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Áp dụng QCVN 08:2008/BTNMT do Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về chất lượng nước biên soạn, Tổng cục Môi trường và Vụ Pháp chế
trình duyệt và được ban hành theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31
tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
2.1.2. Cơ sở lý luận
2.1.2.1. Các khái niệm liên quan
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao
quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
dân nông thôn khoảng 140 lít/người/ngày vào năm 2020. Chỉ riêng nguồn
nước ngọt từ mưa tiềm năng đã vượt khá xa yêu cầu về cấp nước.
Ngoài nguồn nước từ mưa, Việt Nam hiện còn có nguồn nước rất lớn do
các con sông xuyên biên giới đem từ lãnh thổ các nước ngoài vào như sông
Hồng, sông Mã, sông Mê Công. Lượng nước này ước tính bằng 520 tỷ m
3
.
Tài nguyên nước nói trên tồn tại dưới những dạng khác nhau như sông,
hồ, kênh, rạch, đầm phá, vừa lưu giữ, vận chuyển, chuyển hóa nước, vừa tạo
nên tài nguyên đa dạng sinh học và nguồn cảnh sắc thiên nhiên vô cùng
phong phú và đa dạng.
- Những nguồn gây ô nhiễm nước mặt vùng trung du và miền núi
phía Bắc.
Khu vực Trung du và miền núi phía Bắc có tài nguyên khoáng sản
phong phú, do đó đã hình thành nhiều loại hình sản xuất công nghiệp, điển
hình như khai thác, chế biến khoáng sản tại các tỉnh Hà Giang, Thái
Nguyên, Đây được xem là thế mạnh phát triển của khu vực. Bên cạnh đó,
hoạt động nông nghiệp như chăn nuôi gia súc lớn, trồng cây công nghiệp diễn
ra khá phổ biến. Sự phát triển của vùng kéo theo những tác động không nhỏ
đến môi trường nước mặt.
Nước thải công nghiệp
Hoạt động công nghiệp ở vùng này chủ yếu là phát triển các khu công
nghiệp, và một số cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình sản xuất
khác nhau. Do nước thải không được xử lý trước khi thải ra môi trường nên
trên các sông chính và song nhánh tại một số khu vực đã và đang xuất hiện
4
tình trạng ô nhiễm cục bộ. Với thế mạnh của mình, khu vực này có nhiều khu
công nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh tập trung chủ yếu vào các ngành
công nghiệp nặng như sản xuất luyện cán thép, sản xuất giấy, sản xuất hóa
chất, khai khoáng Do đó, nước thải thường có hàm lượng TSS, kim loại
sinh vật có trong phân. Vi sinh vật gây bệnh cho người bao gồm các nhóm
chính là virus, vi khuẩn, nguyên sinh bào và giun sán gây ra các bệnh lan
truyền bằng đường nước như tiêu chảy, ngộ độc thức ăn, vàng da,… COD,
BOD: sự khoáng hoá, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây thiếu
hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường
nước. Nếu ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá
trình phân huỷ yếm khí sinh ra các sản phẩm như H2S, NH3, CH4, làm cho
nước có mùi hôi thối và làm giảm pH của môi trường.
Ammonia, P: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng. Nếu nồng
độ trong nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hoá ( sự phát triển bùng
phát của các loại tảo, làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp vào ban đêm
gây ngạt thở và diệt vong các sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ oxy
rất cao do quá trình hô hấp của tảo thải ra ).
Màu của nước thải: Màu của nước thải thường có màu đen hoặc những màu
tối khác gây mất mĩ quan.
Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy trên bề mặt. Nước thải sinh hoạt
luôn gây ra những mùi khó chịu, nếu lâu ngày không được xử lý hoặc không
được thoát thì mùi càng trở nên nồng nặc hơn.
Các thông số nghiên cứu
- Thông số vật lý
*Hàm lượng chất rắn lơ lửng
Các chất rắn lơ lửng trong nước ((Total) Suspended Solids – (T)SS -
SS) có thể có bản chất là:
- Các chất vô cơ không tan ở dạng huyền phù (Phù sa, gỉ sét, bùn, hạt sét);
- Các chất hữu cơ không tan;
- Các vi sinh vật (vi khuẩn, tảo, vi nấm, động vật nguyên sinh…).
Sự có mặt của các chất rắn lơ lửng cản trở hay tiêu tốn thêm nhiều hóa
chất trong quá trình xử lý.
*Mùi
Hợp chất gây mùi đặc trưng nhất là H
trong nước ô nhiễm. chỉ số COD có giá trị cao hơn BOD vì nó bao gồm cả
lượng chất hữu cơ không thể bị oxy hóa bằng vi sinh vật.[4]
+ Nhu cầu oxy hóa (Biochemical Oxygene Demand): là lượng oxy thể
hiện bằng gam hoặc miligam O
2
trên một đơn vị thể tích cần cho vi sinh vật
tiêu thụ để oxy hóa sinh học các chất hữu cơ ở điều kiện nhiệt độ và thời gian
xác định. Giá trị BOD phản ánh lượng các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học
có trong mẫu nước.
Thông số BOD có tầm quan trọng thực tế: BOD là cơ sở để thiết kế và
vận hành trạm xử lý nước thải, BOD còn là thông số cơ bản để đánh giá mức
độ ô nhiễm của nguồn nước, giá trị BOD càng lớn nghĩa là mức độ ô nhiễm
hữu cơ càng cao. Giá trị của BOD phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian nên để
xách định BOD cần tiến hành ở điều kiện chuẩn, thường ở nhiệt độ 20
o
C
trong thời gian.[4]
7
+ Hàm lượng photpho
Photpho có thể tồn tại trong nước dưới dạng H
2
PO
4
-
, HPO
4
2-
, PO
4
3-
, nitrat NO
3
-
…
• Nitơ tự do.
Khi phân tích hàm lượng nitơ trong nước ta thấy:
Nếu nước chưa hầu hết các hợp chất hữu cơ chưa Nitơ, amoniac và
NH
4
OH thì chứng tỏ nước bị ô nhiễm, NH
3
trong nước sẽ ảnh hưởng tới cá và
các sinh vật.
Nếu nước chủ yếu hợp chất Nitơ ở dạng nitrit (NO
2
) là nước đã bị ô nhiễm.
Nếu nước chứa chủ yếu hợp chất Nitơ dưới dạng nitrat (NO
3
-
) chứng tỏ
quá trình oxy hóa đã kết thúc, tuy vậy các nitrat chỉ bền ở điều kiện hiếu khí.
Trong điều kiện yếm khí chúng nhanh chóng bị khử thành nitơ tự do tách ra
khỏi nước. Nhưng mặt khác khi hàm lượng nitrat trong nước khá cao có thể
gây độc cho người vì khi vào cơ thể trong điều kiện thích hợp, ở hệ tiêu hóa
chúng sẽ chuyển thành nitrit kết hợp với hồng cầu tạo thành chất không vận
chuyển O
2
gây bệnh xanh thiếu máu.[4]
2.1.2.4. Phương pháp xử lý nước thải
* Xử lý bằng phương pháp cơ học:
*Xử lý bằng phương pháp hóa lý:
Thực chất của phương pháp xử lý hóa lý là đưa vào nước thải chất phản
ứng nào đó để gây tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hóa học tạo thành chất
khác dưới dạng cặn hoặc chất hòa tan nhưng không độc hại, không gây ô nhiễm
môi trường. ví dụ phương pháp trung hòa nước thải chưa axit, bazơ, phương pháp
oxy hóa…
9
Phương pháp hóa lý có thể là giải pháp cuối cùng hoặc là giai đoạn xử
lý sơ bộ cho giai đoạn tiếp theo.
Phương pháp hóa lý gồm:
+ Trung hòa nước thải
+ Phương pháp kết tủa
+ Phương pháp oxy hóa khử
+ Phương pháp quang xúc tác
+ Phương pháp hấp phụ
+ Khử trùng
*Xử lý bằng phương pháp sinh học:
Phương pháp này thường dùng để loại các chất phân tán nhỏ, keo và
hữu cơ hòa tan (đôi khi cả vô cơ) khỏi nước thải. Nguyên lý của phương pháp
là dựa vào hoạt động sống của các vi sinh vật có khả năng phân hủy, bẻ gẫy
các địa phân tử hữu cơ thành các chất đơn giản hơn, đồng thời chúng cũng sử
dụng các chất có trong nước thải làm nguồn dinh dưỡng như Cacbon, Nitơ,
Photpho, Kali… Quá trình xử lý sinh học trong điều kiện nhân tạo có thể đạt
mức hoàn toàn (xử lý sinh học hoàn toàn) với BOD giảm tới 90-95% và
không hoàn toàn với BOD giảm tới 40-80%. Phương pháp sinh học là phương
pháp triệt để nhất, nó tạo ra những sản phẩm thân thiện với thiên nhiên hoặc
biến đổi những chất có hại trở thành hữu ích. Ngày nay, phương pháp sinh
học đã và đang được nghiên cứu, áp dụng để xử lý ô nhiễm môi trường.
Phương pháp sinh học gồm:
+ Các công trình xử lý nước thải hiếu khí
động vật thủy sinh. TVTS còn có vai trò quan trọng trong xử lý nước thải,
tăng khả năng tự làm sạch thủy vực. nhưng trong một số diều kiện môi trường
cự thể, một số loài có thể trở thành loài gây hại do phát triển quá dày làm tắc
nghẽn kênh mương, hồ chứa.
Các loại thủy sinh chính:
Thủy sinh thực vật sống chìm: loài thực vật này phát triển dưới mặt nước
và chỉ có thể phát triển được ở nguồn nước có đủ ánh sáng. Chúng gây nên tác
hại như làm tăng độ đực của nguồn nước, ngăn cản sự khuyếch tán của ánh sáng
vào nước. do đó các loài thủy sinh thực vật này không hiệu quả tỏng việc làm
sạch các chất thải.
11
Thủy sinh thực vật sống trôi nổi: Rễ của loài thực vật này không bám
vào đất mà lơ lửng trên mặt nước. no strooi nỏi trên mặt nước theo gió và theo
dòng nước. rễ của chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào để phan hủy các
chất thải.
Thủy sinh thực vật sống nổi: Loại thực vật này có rễ bám vào đất
nhưng thân và lá phát triển trên mặt nước. Loại này thường sống ở những nơi
có chế độ thủy triều ổn định.
Bảng 2.1. Một số thủy sinh thực vật tiêu biểu
Loại
Tên thông
thường
Tên khoa học
Thủy sinh thực vật sống
chìm
Hydrilla Hydrilla verticillata
Water
Milfoil
Myriophyllum
spicatum
12
- Ở miền bắc Thụy Điển, bãi lọc trồng cây ngập nước được sử dụng để xử
lý bổ sung nước thải sau các trạm xử lý đô thị. Nhìn chung, khử nitơ là mục đích
chính, mặc dù hiệu quả xử lý TSS và BOD cũng khá cao. Nghiên cứu của J.L.
Andersson, S. Kallner Bastviken và K. S. Tonderski đã đánh giá hoạt động trong
3 – 8 năm của bốn bãi lọc trồng cây quy mô lớn (diện tích 20 – 28 ha).
- Ở Na Uy, bãi lọc trồng cây dòng chảy ngầm đã được xây dựng để xử lý
nước thải sinh hoạt vào năm 1991. Ngày nay, ở những vùng nông thôn ở Na
Uy, phương pháp này trở nên rất phổ biến để xử lý nước thải sinh hoạt, nhờ
các bãi lọc vận hành với hiệu suất cao thậm chí cả vào mùa đông và với chi
phí thấp.
- Tại Đan Mạch, hướng dẫn chính thức mới về xử lý nước thải tại chỗ
nước thải sinh hoạt gần đây đã được Bộ Môi Trường Đan Mạch công bố, áp
dụng bắt buộc đối với các nhà riêng ở nông thôn. Trong hướng dẫn này người
ta đã đưa vào hệ thống bãi lọc ngầm trồng cây dòng chảy thẳng đứng, cho
phép đạt hiệu suất khử BOD tới 95% và nitrat hoá đạt 90%. Hệ thống này có
thể bao gồm cả quá trình kết tủa hoá học để tách phốtpho bằng PAC trong bể
phản ứng lắng, cho phép loại bỏ 90% Photpho.
- Ở Đức, một chương trình nghiên cứu về mặt vi sinh vật – sự tồn tại và
chết của các mầm bệnh trong nước thải được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu
Hagendorf Ulrich, Diehl Klaus và nnk trong nhiều năm, trên các mẫu nước lấy
từ ba bãi lọc trồng cây xử lý nước thải đã qua xử lý sơ bộ ( bể tự hoại nhiều
ngăn, hồ) và từ nước thải sinh hoạt đã qua xử lý sơ bộ. [2]
*Các kết quả nghiên cứu về xử lý ô nhiễm của thực vật thủy sinh trong nước
Hiện nay việc xử lý nước thải đang là một vẫn đề cấp bách. Lượng
nước thải sinh hoạt và công nghiệp ngày càng tăng gấp bội, mà để xử lý sao
cho hiệu quả cao với chi phí thấp lại không đơn giản. Vì vậy việc sử dụng các
loại thực vật thủy sinh trong xử lý nước thải đã mang lại hiệu quả xử lý cao,
giá thành thấp và là biện pháp sinh học thân thiện với môi trường. đã có nhiều
nghiên cứu của các nhà khoa học trong việc sử dụng thực vật thủy sinh trong
Khả năng xử lý nước thải của cây rau muống, rau ngổ.
Rau muống (tên khoa học Ipomoea aquatica) là một loài thực vật nhiệt
đới bán thủy sinh thuộc họ Bìm bìm(Colvolvulaceae), là một loại rau ăn lá.
Phân bố tự nhiên chính xác của loài này hiện chưa rõ do được trồng phổ biến
khắp các cùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Tại Việt Nam rau
muống là một loại rau rất phổ thông, và các món ăn từ rau muống rất được ưa
chuộng. Rau muống có 92% nước, 3,2% protit, 2,5% gluxit, 1% xemluloza.
Hàm lượng muối khoáng cao: Canxi, photphi, sắt, Vitamin có caroten,
VitaminC, Vitamin B1, Vitamin PP, Vitamin B2.
Rau ngổ (tên khoa học Limnophila aromatica) là loại thực vật bán thủy
sinh thuộc loại hoa mõm sói (Scrophulariaceae), là cây cỏ, mọc bò, thân rỗng
giòn, dài 20-30cm, có nhiều lông, mùi rất thơm, lá nhẫn, phần lá gần thân nhỏ
lại, mép hơi có răng cưa thưa, hoa mọc đơn độc ở nách lá. Người miền Nam
gọi rau muống là rau mò om, người miền Trung thì gọi là rau ngổ diếc. Rau
ngổ thường dùng như các rau gia vị, ăn sống hoặc chế biến thành những món
ăn. Rau ngổ có 93% nước, 2,1% protit, 1,2% gluxit, 2,1% xemluloza,
0,29%Vitamin B, và một số ít Vitamin C. Theo đông y rau ngổ có tác dụng
kháng viêm, lợi tiểu, giải độc do ngộ độc thức ăn, làm giãn cơ ruột, giãn
mạch, điều trị ngoài da.[10]
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm
Với khả năng và thời gian có hạn đề tài chỉ nghiên cứu khả năng xử lý
nước ô nhiễm của thực vật thủy sinh tại ao cá Bác Hồ - trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên.
3.2.2. Thời gian tiến hành
Từ tháng 1/2014 đén tháng 5/2014
15
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Đánh giá chất lượng nước tại ao cá Bác Hồ - trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên
16
+ Phân tích COD: TCVN 6491: 1999
+ Xác định nitrat :TCVN 6180-1996 (ISO 7890-3-1988)
+ Phân tích Phosphat: TCVN 6202: 2008
+ Xác định hàm lượng TSS: TCVN 6053–1995 (ISO 9696-1992)
+ Xác định pH : TCVN 6492-1999 (ISO 10523-1994).
Các thông số môi trường được phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Môi
trường – Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
3.4.4. Phương pháp thí nghiệm
Thí nghiệm thiết kế theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
Một thí nghiệm được thiết kế theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên khi các
công thức (loại cây thủy sinh trồng trong thí nghiệm) được chỉ định một cách
hoàn toàn ngẫu nhiên vào các ô thí nghiệm sao cho mỗi ô thí nghiệm đều có
cơ hội như nhau để nhận được bất kỳ một công thức nào. Theo kiểu sắp xếp
này thì bất kỳ sự khác nhau nào( ngoài nhân tố thí nghiệm) giữa các ô thí
nghiệm đều đều được coi là sai số thí nghiệm. kiểu sắp xếp này chỉ phù hợp
khi các ô thí nghiệm hoàn toàn đồng nhất. trong thí nghiệm này, nhóm tạo các
ô thí nghiệm là các thùng xốp có cùng kích thước dài x rộng x cao =
45x35x30 (cm), đổ cùng một lượng nước ao. Các ô thí nghiệm được đặt trong
môi trường đồng nhất. [9]
3.4.4.1. Quá trình sắp xếp thí nghiệm
Trong thí nghiệm này, tôi chọn cách rút thăm để chỉ định loại cây trồng
vào các ô thí nghiệm, vì cách này đơn giản dễ làm.
3.4.4.2. Xác định tổng số ô thí nghiệm: N=r*t
• N: tổng số ô thí nghiệm
• r: số lần nhắc lại của mỗi loại cây trồng (công thức)
• t: số loại cây thực vật thủy sinh được trồng trong thí nghiệm cho
mỗi lần nhắc lại
Trong thí nghiệm này tôi chọn 2 loại thực vật thủy sinh và mỗi loại
được nhắc lại 3 lần, và 1 công thức lắng tự nhiên nhắc lại 3 lần.
B
5
A
6
C
7
C
8
A
9
B