ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ DƯỠNG
Tên đề tài:
“
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HẠI CỦA MỘT SỐ LOẠI BỆNH HẠI CHỦ
YẾU ĐỐI VỚI CÂY GIỐNG LÂM NGHIỆP TẠI VƯỜN ƯƠM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÂM NGHIỆP MIỀN NÚI PHÍA BẮC
THUỘC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn
Khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm
Phạm Thị Dưỡng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Mức độ hại của bệnh phấn trắng lá keo qua các lần điều tra 28
Bảng 4.2. Mức độ hại của bệnh cháy lá Keo qua các lần điều tra. 30
Bảng 4.3. mức độ hại của bệnh đốm nâu lá keo qua các lần điều tra 33
Bảng 4.4. Mức độ hại của bệnh gỉ sắt lá keo 36
Bảng 4.5. mức độ hại của bệnh khảm lá cây lát hoa 39
Bảng 4.6. Mức độ hại của bệnh lở cổ rễ cây Mỡ qua các lần điều tra 43
Bảng 4.7. Thống kê thành phần loại bệnh hại cây con trong vườn ươm 24
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Bệnh phấn trắng lá keo tai tượng 27
Hình 4.2. Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh phấn trắng lá keo tai tượng
qua các lần điều tra. 28
Hình 4.3. Ảnh bệnh cháy lá keo tai tượng 30
Hình 4.4. Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh cháy lá keo tai tượng qua
các lần điều tra 31
Hình 4.5. Ảnh bệnh đốm nâu lá keo tai tượng 33
Hình 4.6. Biểu đồ biểu diễn mức độ hại của bệnh đốm nâu lá keo tai tượng
qua các lần điều tra 34
Phần 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1. Đối tượng nghiên cứu 17
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2.1. Địa điểm 17
3.2.2. Thời gian tiến hành 17
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 17
3.4. Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1. Phương pháp kế thừa có chọn lọc 17
3.4.2. Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh. 18
3.4.3. Điều tra đánh giá tỉ lệ và mức độ bị bệnh (điều tra tỉ mỉ ). 18
3.4.4. Phương pháp xử lý tổng hợp số liệu 21
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
4.1. Đặc điểm của cây con trong giai đoạn vườn ươm và tình hình vệ sinh và tình
hình sinh trưởng của cây con trước khi tiến hành điều tra. 23
4.1.1. Đặc tính chung của cây con ở giai đoạn vườn ươm. 23
4.1.2. Tình hình vệ sinh vườn ươm và kết quả điều tra sơ bộ 23
4.2. Thống kê thành phần bệnh hại cây con tại khu vực nghiên cứu 24
4.3. Kết quả điều tra tỉ mỉ mức độ nhiễm bệnh của các loài cây trồng trong vườn
ươm. 26
4.3.1. Bệnh phấn trắng lá keo 26
4.3.2. Bệnh cháy lá keo tai tượng 29
4.3.3. Bệnh đốm nâu lá keo tai tượng 32
4.3.4. Bệnh gỉ sắt lá keo 34
4.3.5. Bệnh khảm lá lát 38
4.3.6. Bệnh lở cổ rễ cây mỡ 40
4.4. Một số tồn tại và đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu đối
với cây con trong vườn ươm tại khu vực nghiên cứu 45
4.4.1. Một số tồn tại trong quá trình sản xuất cây giống tại địa bàn nghiên cứu . 45
4.4.2. Đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh hại chủ yếu ở vườn ươm tại khu
con người và các loài sinh vật trên trái đất. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà
nước ta đã có nhiều biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác tài
nguyên rừng bừa bãi, tiếp tục phủ xanh diện tích đất trống đồi núi trọc, tiến
hành trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, trồng rừng sản xuất tập trung nhằm đáp
ứng các nhu cầu về nguyên liệu gỗ cho các nhà máy giấy, nhà máy sợi, các nhà
máy, xí nghiệp chế biến ván dăm và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế
biến gỗ khác.
2
Để đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu gỗ ngày càng cao cho sản
xuất, đảm bảo môi trường sinh thái, hiện nay Đảng và Nhà nước đã ban hành
rất nhiều chính sách chủ trương để nâng cao độ che phủ của rừng như dự án
661, dự án 327, dự án PAM và các dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng ở
miền núi như dự án bảo vệ và phát triển rừng 4 huyện của tình Hà Giang giai
đoạn 2008-2015.
Tuy nhiên khi trồng rừng trên một diện tích lớn, số lượng cây nhiều và
thuần loài lại rất dễ bị sâu bệnh hại phát sinh phát triển. Để đạt được kết quả
tốt trong công tác trồng rừng thì điều quan trọng nhất là phải tạo được nhiều
cây giống tốt, khỏe mạnh, không bị sâu bệnh hại và không có mầm bệnh.
Muốn được kết quả như thế, ngoài việc lựa chọn hạt giống, bảo quản hạt
giống tốt đối với những cây có khả năng tái sinh bằng hạt, những phương
thức xử lý trước khi gieo ươm thì việc phòng trừ sâu bệnh hại ở giai đoạn
vườn ươm là không thể thiếu được, nếu giải quyết được những vấn đề này thì
tổn thất do sâu bệnh hại sẽ giảm xuống một cách đáng kể.
Trên thực tế, tổn thất do bệnh hại gây ra đối với cây lâm nghiệp lớn
hơn rất nhiều lần tổn thất của các tác nhân tự nhiên khác. Trong sản xuất cây
con các loài như: thông, keo, bạch đàn, mỡ,…. Đã có rất nhiều dịch bệnh xảy
ra làm cây con bị chết hàng loạt như bệnh thối cổ rễ, bệnh rơm lá thông bệnh
phấn trắng hại keo,… Vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh,
triệu chứng và ảnh hưởng của môi trường đến sự phát sinh, phát triển bệnh
cây từ đó đề ra các biện pháp phòng trừ bệnh cho cây con ở giai đoạn vườn
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
Khoa học bệnh cây được hình thành và phát triển do đòi hỏi của nhu cầu
sản xuất cây nông-lâm nghiệp và do quá trình đấu tranh giữa thiên nhiên và con
người, giữ ý thức hệ duy tâm và duy vật. Ngay từ ngày đầu của lịch sử trồng trọt,
nhân dân lao động thông qua thực tế sản xuất và những kinh nghiệm của mình đã
phát hiện và phòng trừ một số bệnh hại nguy hiểm (Trần Văn Mão, 1995) [6].
Theo cách hiểu thông thường khoa học bệnh cây là khoa học nghiên
cứu về cây bị bệnh, sinh trưởng và phát triển không bình thường vì những lý
do sinh vật cũng như không phải sinh vật. Bệnh cây là kết quả tác động của 3
yếu tố: nguồn bệnh, cây trồng và điều kiện ngoại cảnh. Cách hiểu trên giúp
chúng ta nắm được nội dung và thực chất của bệnh cây ở mức độ từng cá thể.
Tuy nhiên trong thực tế sản xuất cách hiểu trên chưa cho phép giải quyết một
cách có cơ sở những trường hợp cụ thể về bệnh cây. Trong hoạt động thực tế
của mình, người làm công tác về bệnh cây phải giải quyết nhiệm vụ có liên
quan đến vi sinh vật gây bệnh, trong những khoảng không gian nhất định mà
thường là khá rộng lớn, với tác động của nhiều yếu tố khí hậu khác nhau.
Như ta đã biết, bệnh cây là một loại tác hại tự nhiên khá phổ biến, là
nhân tố tác động đến sức khỏe thực vật. Khi bị bệnh hại, thì cây bệnh sẽ có
hiện tượng sinh trưởng, phát triển không bình thường, dẫn đến năng suất,
chất lượng sản phẩm bị kém đi, thậm chí sẽ làm cho cây bị chết và chết hàng
loạt, đặc biệt nguy hại đối với rừng thuần loài. Hằng năm bệnh cây đã gây ra
những tổn thất to lớn không chỉ cho nền kinh tế mà còn với môi trường sinh
thái. Bệnh hại đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng trong sản xuất lâm
nghiệp ở nước ta.
Do tính biểu hiện bệnh ra bên ngoài là chậm so với các mối nguy hại khác
trong lâm nghiệp, nên con người thường coi nhẹ bệnh hại hơn, tuy nhiên đến khi
nhân tố trên để có biện pháp phòng trừ đúng đắn và đạt hiệu quả cao.
Nghiên cứu bệnh hại cây trên cơ sở đó, xác định các biện pháp bảo vệ
cây làm cho năng suất cây trồng ở mức cao và ổn định.
Góp phần phát huy tác dụng của giống cây có năng suất cao và các biện
pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến: bón phân, chế độ nước, mật độ cây….
Trong sản xuất, không để bệnh hại phát triển và gây thành dịch.
6
Giải quyết vấn đề bệnh cây, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc
hình thành các vùng chuyên canh, nhất là những cây có giá trị kinh tế lớn
(Đường Hồng Dật, 1979) [2].
Để có thể hoàn thành được các nội dung trên trong lâm nghiệp, khoa
học bệnh cây cần có các nội dung: Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây
bệnh; Phát hiện các quy luật phát sinh phát triển và hình thành của bệnh cây
và dịch bệnh cây; Tìm hiểu bản chất, đặc điểm và các quy luật chống chịu của
bệnh cây; Nghiên cứu, xác định các phương pháp phòng trừ bệnh.
Phòng trừ bệnh cây phải được thực hiện trên nguyên tắc tổng hợp, toàn
diện và chủ động. Biện pháp tổng hợp là áp dụng nhiều phương pháp khác
nhau trong một hệ thống hợp lý và hoàn chỉnh. Trong hệ thống đó các biện
pháp bổ sung cho nhau, phát huy kết quả lẫn nhau tạo nên tác động và sức
mạnh tổng hợp, phát huy ở mức cao nhất các đặc điểm có ích của cây, loại trừ
tác hại của bệnh. Do tính chất và chiều hướng tác động của các biện pháp
khác nhau cho nên khi áp dụng một hệ thống gồm nhiều biện pháp sẽ nhằm
tác động lên vi sinh vật gây bệnh, tác động lên cây, tác động lên môi trường
sống của cây và vi sinh vật gây bệnh. Hệ thống biện pháp tổng hợp bảo vệ cây
chống bệnh cần được áp dụng một cách phân hóa phù hợp với điều kiện cụ
thể từng nơi và từng thời điểm. Áp dụng phân hóa trên cơ sở khoa học, có
phân tích đầy đủ các yếu tố và quy luật sinh thái của từng địa phương, đảm
bảo cho hệ thống tổng hợp nâng cao được hiệu quả kinh tế và thiết thực
(Đường Hồng Dật, 1979) [2].
Hệ thống phòng trừ bệnh hại phải mang tính toàn diện. Các biện pháp
loại đầu tiên về nấm. Trong thời gian này nhà bác học người Đức Anton
DdowBari (1831-1888) và nhà bác học người Nga Voronin M.S (1938-1903)
đã phát hiện ra bệnh gỉ sắt và bệnh nấm mốc sương các loại cây khoai tây và
lúa mì (Dẫn theo Trần Văn Mão,1997) [7].
Vào giữa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX lúc này khoa học nghiên cứu về
bệnh cây đã tương đối phát triển, các nhà khoa học luôn chú tâm vào nghiên
cứu các loài bệnh hại chủ yếu ở cây trồng và đề xuất các biện pháp phòng trừ
(Dẫn theo Trần Văn Mão, 1993) [5].
Những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào
việc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh phát
triển của bệnh. Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L.Roger (1953) đã nghiên cứu
8
bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn sách bệnh cây rừng các nước nhiệt
đới, trong đó có một số bệnh hại của thông, keo, bạch đàn.
John Boyce năm 1961 xuất bản sách bệnh cây rừng, đã mô tả một số
bệnh hại cây rừng.
Từ đầu thế kỷ XX đến nay là thời kì phát triển của khoa học bệnh cây
rừng, là thời kì vận dụng những duy vật biện chứng trong việc nghiên cứu
những nguyên nhân gây bệnh, các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của vật
gây bệnh và tìm biện pháp phòng trừ có hiệu quả nhất. Những năm 50 của thế
kỷ XX nhiều nhà bệnh lý cây rừng đã tập trung xác định loài, mô tả nguyên
nhân gây bệnh, triệu chứng gây bệnh và vấn đề này đã được các nước Đông
Nam Á quan tâm, trong đó có cả Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, 2006) [1].
Ngày nay với khoa học công nghệ ngày càng phát triển tiên tiến nên
vấn đề sản xuất nông lâm nghiệp đòi hỏi kỹ thuật ngày càng cao, cần nghiên
cứu tìm hiểu quá trình phát sinh phát triển các loại bệnh gây hại và tìm ra các
biện pháp phòng trừ có hiệu quả cao. Chính vì vậy ngành khoa học bệnh cây
cũng đang được phát triển ở Việt Nam, có rất nhiều nhà khoa học đã và đang
say mê nghiên cứu lĩnh vực này.
quan nghiên cứu, cho đến nay chúng ta đã có thể biết được gần 1000 loài nấm
gây bệnh cho gần 100 loài cây rừng, trong đó có khoảng 600 loài nấm mục
gỗ, trên 300 loài nấm hại lá, hại thân, hại cành, hại rễ; Trên 50 loài cây rừng
bị bệnh ở mức độ nghiêm trọng và đã có những công trình nghiên cứu cụ thể.
Trên cơ sở nắm vững những quy luật phát sinh, phát trển của bệnh cây, những
nhà nghiên cứu bệnh cây rừng cũng đã đề xuất biện pháp phòng trừ.
Vào năm 1966, Nguyễn Sỹ Giao đã phát hiện bệnh khô lá thông hại
cây con ở vườn ươm. Tác giả cũng nghiên cứu về đặc điểm sinh học và áp
dụng một số loại thuốc hóa học để phòng trừ bệnh hại này, chủ yếu là
Boocđô. Vào năm 1969, Nguyễn Sỹ Giao đã phát hiện nguyên nhân gây
bệnh này là do nấm Crospora pini - densflorae Horiet Nambu và đặt tên
cho bệnh này là bệnh rơm lá thông. Cũng vào thời gian này, nhiều chuyên
gia nước ngoài như Anh, Ấn Độ, Mỹ đã nghiên cứu về bệnh hại lá keo
như Hodge (1990); Zhon (1992); Sharma(1994), và công bố trong báo cáo
chuyên đề bệnh cây ở Hà Nội.
Các bệnh đốm lá, gỉ sắt, khô héo gây tổn thất lớn, do vậy cần phải có
biện pháp phòng trừ như chọn giống, chọn vườn ươm, gieo đúng thời vụ, xới
10
xáo, diệt cỏ, tưới nước, bón phân hợp lý, che bóng kịp thời thì sẽ giảm được
nhiều khả năng lây lan, xâm nhiễm của bệnh, tạo điều kiện cho cây con phát
triển tốt (Trần Văn Mão, 1993) [5].
Từ năm 1971, các nhà nghiên cứu như Vũ Quang Côn, Phạm Bình
Quyền, Phạm Ngọc Anh… đã có nhiều tài liệu về nấm bệnh ở các loài như
quế, trẩu, hồi, sở… và xác định được điều kiện phát bệnh và biện pháp phòng
trừ (Trần Công Loanh, 1992) [4].
Cũng trong khoảng thời gian từ năm 1971, với nhiều công trình nghiên
cứu của mình, Trần Văn Mão đã bắt đầu công bố bệnh cây như quế, trẩu, sở,
hồi… ông đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát bệnh và
phương pháp một số loại bệnh hại lá. Các tác giả Nguyễn Sỹ Giao, Đỗ xuân
Quý, Phạm Xuân Mạnh… đã nghiên cứu trên lá keo phát hiện một số bệnh
Đối với bệnh cây rừng, biện pháp phòng trừ chủ yếu là triệt để nguồn bệnh,
thường xuyên theo dõi, kiểm tra vườn ươm, rừng trồng kịp thời phát hiện bệnh để
có những biện pháp như cắt bỏ lá bệnh, chặt bỏ cành nhánh rậm rạp…
Ngày nay khoa học bệnh cây rừng ngày càng phát triển bằng việc hoàn
thiện cơ sở lý luận và đưa ra những phương pháp phòng trừ bệnh hữu hiệu.
Nhờ đó đã làm giảm bớt những thiệt hại gây ra đối với tài nguyên rừng.
Nhưng bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều bệnh nghiêm trọng mà chúng ta chưa có
biện pháp giải quyết triệt để, cũng có nhiều bệnh có lúc, có nơi được dập tắt
nhưng trong điều kiện mới lại gây dịch trở lại. Cho nên vấn đề bệnh cây rừng
hôm nay vẫn phải được thừa kế những kết quả nghiên cứu trước đây trên
những cơ sở lý luận và phương pháp phòng trừ sáng tạo và phát triển cho việc
áp dụng phòng trừ bệnh cây trồng của ngày mai.
2.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1. Vị trí địa lý
• Vị trí địa lý
Vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Miền núi phía Bắc thuộc
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thuộc khu vực thành phố Thái
Nguyên, cách trung tâm thành phố khoảng 3km về phía Tây và nằm trong địa
bàn xã Quyết Thắng.
- Phía Nam Trung tâm giáp với phường Thịnh Đán.
- Phía Bắc vườn ươm giáp với phường Quán Triều.
- Phía Đông vườn ươm giáp với khu kí túc xá Đại học Thái Nguyên.
12
- Phía Tây vườn ươm giáp với xã Phúc Hà.
• Địa hình
- Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 19,8m. Nơi cao nhất là
25,5m, thấp nhất là 11m.
- Xã Quyết Thắng chủ yếu là đồi bát úp, không có núi cao, có độ dốc
trung bình từ 10-24⁰, độ cao trung bình từ 50-70m. Nói chung, xã quyết thắng
cũng là một trong những nơi bị ô nhiễm rất nặng, là nguyên nhân truyền bệnh từ
vùng này sang vùng khác và khó có thể khắc phục được.
Như vậy nhìn chung điều kiện khí hậu Thái Nguyên cơ bản thuận lợi để
gieo ươm keo lai và mỡ. Tuy nhiên cần lưu ý một số khó khăn đó là đầu vụ
xuân thường ảnh hưởng của gió mùa đông bắc gây rét đậm, rét hại kéo dài, số
giờ nắng ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con giai đoạn vườn ươm. Mùa
mưa độ ẩm không khí cao cũng là môi trường thuận lợi để sâu bệnh hại phát
triển. Trong tất cả các yếu tố khí hậu thì nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt và nhạy
cảm nhất, quyết định đến thời vụ gieo trồng và phát sinh dịch bệnh
2.4.1.3. Tài nguyên đất
- Tổng diện tích đất tự nhiên của Thái Nguyên là 3.541km
2
. Do ảnh
hưởng của địa hình, đất dai ở Thái Nguyên được chia làm 3 loại chính, trong
đó, đất núi chiếm diện tích lớn nhất (48,4%), độ cao trên 200m, tạo điều kiện
cho phát triển lâm nghiệp, trồng rừng, cây đặc sản… Đất đồi chiếm 31,4% ,
độ cao từ 150 - 200m, phù hợp với cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm….
Đất ruộng chiếm 12,4%. Thái Nguyên còn có một diện tích lớn đất chưa sử
dụng, phần lớn là đất trống đồi núi trọc ( do diện tích rừng tự nhiên đã bị khai
thác từ trước kia ) nên đây có thể coi là một tiềm năng phát triển lâm nghiệp,
tăng độ che phủ rừng ở Thái Nguyên.
- Tài nguyên đất khu vực vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp
miền núi phía Bắc thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên: Đất khu
vực vườn ươm là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu vàng. Đất
dùng để gieo ươm tại khu vực trong vườn ươm là đất được mua về dùng để
đóng bầu, có chất dinh dưỡng tương đối cao, nên thích hợp cho việc gieo ươm
hoặc ươm cây trong bầu.
- Hiện trạng sử dụng đất:
Xã Quyết Thắng có tổng diện tích đất tự nhiên là 1155,52 ha trong đó:
+ Đất nông nghiệp: 793,31 ha, chiếm 68,65% tổng diện tích đất tự nhiên.
- Đường đi vào trung tâm lâm nghiệp miền núi phía bắc đã được nhựa
hóa, thuận tiện cho vận chuyển cây con trong vườn ươm.
• Thủy lợi:
- Ở đây người dân sống phần đa là sản xuất nông-lâm nghiệp, vì vậy
công tác thủy lợi được chính quyền xã cùng với nhân dân rất quan tâm và đầu
15
tư. Toàn xã đã xây dựng được 15km kênh mương đảm bảo cung cấp đủ nước
cho sản xuất. Hiện nay các thôn xóm cũng đã và đang tiến hành xây dựng
những đoạn kênh mương còn lại nhằm đảm bảo cho việc cung cấp nước cho
sản xuất nông lâm nghiệp đạt hiệu quả tốt.
2.4.2.4. Kinh tế xã hội
- Mặc dù là một tỉnh miền núi nhưng Thái Nguyên có dân số tương đối
đông và chủ yếu tập trung ở khu vực trung tâm thành phố. Theo số liệu cục
thống kê tỉnh toàn thành phố có 212.908 người, mật độ dân số là 1.248
người/km
2
gồm nhiều dân tộc cùng nhau sinh sống. Dân tộc kinh: 195.662
người, chiếm 91,9%, dân tộc tày: 8.091 người chiếm 3,8%, các dân tộc khác:
9.155 người chiếm 4,3 %. Mỗi năm thành phố tiếp nhận thêm khoảng 10.000
học sinh, sinh viên từ các tỉnh về học tập. Việc quy tụ được một số lượng lớn
thành phàn tri thức cũng là một thế mạnh cho phát triển kinh tế, song mặt
khác cũng gây ra một áp lực lớn về đất đai, xã hội.
- Trước tình hình ô nhiễm hiện nay vấn đề cải tạo môi trường sống
đang là một vấn đề cực kì quan trọng, cấp bách của thành phố. Một trong
những biện pháp làm giảm ô nhiễm là trồng nhiều cây xanh, mà muốn cây
sinh trưởng phát triển tốt thì cần phải có giống tốt. Vì vậy công tác chăm sóc
phòng trừ sâu bệnh hại cho vườn ươm là rất quan trọng.
- Sản xuất nông nghiệp: Chiếm 80% số hộ là sản xuất nông nghiệp,
ngoài ra còn có sự kết hợp giữa vật nuôi và cây trồng.
- Sản xuất lâm nghiệp: Từ 10 năm trở lại đây việc trồng cây gây rừng
đều qua các năm là điều kiện cho phát triển ngành lâm nghiệp. 17
Phần 3
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loại bệnh hại trên các cây keo tai tượng, cây mỡ
và cây lát hoa trong vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp miền núi phía
Bắc thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm
Địa điểm: Tại vườn ươm Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp Miền núi
phía Bắc thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
3.2.2. Thời gian tiến hành
Thời gian: Từ ngày 03/03/2014 đến ngày 15/5/2014.
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
Nội dung
• Đánh giá những đặc tính chung và tình hình sinh trưởng của cây con
trong vườn ươm, tình hình vườn ươm trước khi tiến hành điều tra.
• Thống kê các loại bệnh hại chủ yếu đối với từng loại cây con trong
vườn ươm thuộc Trung tâm.
• Điều tra mức độ hại của các loại bệnh hại chủ yếu ở cây con trong
với đặc tính sinh học của loài cây, điều kiện ngoại cảnh mà xác định nguyên
nhân gây bệnh của từng loại bệnh đối vời từng loài cây.
3.4.3. Điều tra đánh giá tỉ lệ và mức độ bị bệnh (điều tra tỉ mỉ ).
Sau khi thu thập được thành phần bệnh có trong vườn ươm Trung tâm
Nghiên cứu lâm nghiệp Miền núi Phía Bắc, ta lập bảng thống kê thành phần
bệnh hại và xếp chúng vào bảng sau:
Mẫu bảng 3.1. Thành phần bệnh hại
STT
Tên Việt
Nam của
bệnh hại
Tên khoa
học của
bệnh hại
Nguyên
nhân
Loài
Chi
Bộ
Họ
Số lần
xuất
hiện/ số
lần điều
tra
Cấp 4: > 75% diện tích lá bị bệnh hoặc số lá của cây bị bệnh.
Sau khi điều tra xong, kết quả điều tra sẽ được ghi vào mẫu bảng sau:
Mẫu bảng 3.2. Kết quả điều tra đánh giá mức độ bệnh hại lá.
STT cây điều
tra
Lá ở các cấp bị hại
R %
Ghi
chú 0 1 2 3 4
1.
2.
3…