khái lược lịch sử Đảng cộng sản - Pdf 25

MỞ ĐẦU
Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ Tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Hơn
80 năm qua Đảng đã lãnh nhân dân ta đấu tranh vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội đã làm nên những mốc son lịch sử trong quá trình lãnh đạo cách mạng
của nước ta . Khi mới tròn 15 tuổi Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng
tháng tám 1945 thành công xoá bỏ hoàn toàn chế độ thực dân phong kiến, lập nên
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ( nay là nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam);
Đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước; tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Đảng ra đời có ý nghĩa lịch sử và thời đại ra sao? Và
lãnh đạo cách mạng Việt Nam như thế nào ? Hôm nay chúng ta nghiên chủ đề 1 Khái
quát lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam. Cụ thể các nội dung sau.
NỘI DUNG
I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆTT NAM RA ĐỜI, BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH CỦA
CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Ra đời ngày 3 tháng 02 năm 1930, là một bước ngoặc vĩ đại của cách mạng Việt
Nam; là sự kết hợp của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của cuộc đấu
tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới. Là kết quả của quá
trình lựa chọn con đường cứu nước; là sự chuẩn bị tích cực về chính trị, tư tưởng và tổ
chức của Đồng chí Nguyễn Ái Quốc; của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng
đáp ứng nhu cầu của lịch sử dân tộc ta; phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
1.Tình hình xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Sau 30 năm vũ trang xâm lược (1858 – 1884) Thực dân Pháp đã thiết lập hệ
thống cai trị ở Đông Dương hết sức tàn bạo; kết hợp phương thức bóc lột tư bản và
phong kiến làm cho xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực.
a. Chính trị:
- Thực dân Pháp thực hiện chính sách chuyên chế về chính trị
Chúng thiết lập bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương để đàn áp nhân
dân làm cho dân Việt Nam không có chút quyền tự do, dân chủ nào. Mọi quyền hành
nằm trong tay người Pháp,( từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ trung

không còn đất sản xuất. Thợ thủ công phá sản, trí thức thất nghiệp). Nền kinh tế Việt Nam
kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế pháp .
c.Văn hóa: Thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ bề cai trị.
- Ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ vào Việt Nam, kích động văn hóa
đồi trụy, gây tâm lý tự ty, vong bản khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi
phong bại tục “ văn hóa thực dân” mọi hoạt động yêu nước của nhân dân đều bị cấm.
- Đầu độc nhân dân bằng rượu, thuốc phiện … các tệ nạn xã hội, tuyên truyền tư
tưởng khai hóa văn minh Nước mẹ đại Pháp nhằm tạo tâm lý phục Pháp sợ Pháp
- Nhà tù nhiều hơn trường học. Dẫn đến kết quả( 90% dân số mù chữ)
Những chính sách trên của thực dân Pháp làm cho xã hội Việt Nam thay đổi từ
một xã hội phong kiến độc lập trở thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến
d. Xã hội
- Cơ cấu xã hội có những biến đổi sâu sắc:
Bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân đã xuất hiện một số giai cấp
mới. Đặc biệt là giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản thành thị và giai cấp tư sản.
+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai
thác thuộc địa của thực dân pháp, có những đặc điểm chung như giai cấp công nhân
trên thế giới ngoài ra còn có đặc điểm riêng.
* Phải chịu 3 tầng áp bức bóc lột ( Đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ)
* Phần lớn xuất thân từ nông dân nên gần gũi với gia cấp nông dân
* Giai cấp công nhân ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội bộ thuần nhất
không phân tán lực lượng và sức mạnh.
* Sinh ra và lớn lên ở một đất nước có truyền thống văn hóa tốt đẹp, truyền thống
yêu nước chống giặc ngoại xâm, sớm tiếp thu được tinh hoa văn hóa của thời đại mới
để bồi dưỡng bản chất cách mạng của mình (đây là cơ sở cho việc truyền bá chủ nghĩa
Mác- Lênin sau này)
- Tính chất xã hội biến đổi sâu sắc từ một xã hội phong kiến độc lập trở thành một
nước thuộc địa nữa phong kiến. (đặc trưng của xã hội thuộc địa nữa phong kiến là sự
cấu kết giữa đế quốc với bọn địa chủ phong kiến để áp bức bóc lột nhân dân)
2

Nam.
b.Trào lưu yêu nước theo ý thức hệ tư sản (có 2 khuynh hướng khác nhau)
. Đồng chí cho biết các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng dân chủ tư
sản?
+ Phan Bội Châu (1905 – 1912) chủ trương xuất dương cầu viện Nhật để đánh Pháp,
giành độc lập dân tộc chuyển sang lập trường dân chủ tư sản với chủ trương võ trang bạo
động đánh đuổi giặc Pháp thành lập cộng hòa dân quốc Việt Nam. Ông có cảm tình với
nước Nga xô Viết, chủ nghĩa xã hội và có ý đặt hy vọng vọng vào Nguyễn Ái Quốc. Cụ
đã sai lầm về con đường và phương pháp, do vậy cuối đời cụ phải thốt lên rằng: Than
Ôi “Cuộc đời của tôi là một trăm thất bại không một lần thành công”.
+ Phan Chu Trinh: (1906 – 1908) khuynh hướng cải lương.
Cụ hướng theo con đường nghị viện hy vọng dựa vào Pháp để canh tân đất
nước đánh đổ chế độ phong kiến phát triển theo TBCN sau đó đòi Pháp trao trả độc
lập cho dân tộc. Nhưng cuối cùng bị thất bại (Lẫn lộn bạn thù ); Con đường cứu nước
của Phan Chu Trinh là đường lối cải lương phản đối bạo động (bạo động tắc tử) và
muốn dựa vào Pháp để đánh chế độ phong kiến. Con đường cứu nước của Phan Chu
Trinh đã thất bại, đúng như nhận xét của Trần Dân Tiên, dựa vào Chính Phủ Pháp để
tiến hành cải cách chẳng khác gì “ Xin giặc rủ lòng thương”
3
Lòng yêu nước và gương hoạt động của hai cụ đã cổ vũ nhân dân ta qua nhiều thế
hệ. Nhưng hai cụ chưa tiếp cận xu thế của thời đại mới chưa tìm ra con đường cứu
nước mới cứu nước cứu dân, con đường giành độc lập triệt để cho nhân dân lao động
làm chủ đất nước, lấy sức ta mà giải phóng cho ta.
c. Trào lưu yêu nước do Nguyễn Thái Học và Phạm Tuấn Tài lãnh đạo (1926 - 1930)
Gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng(25/12/1927) đến
năm 1930, Việt Nam Quốc Dân Đảng đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhất cho khuynh
hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản địa chủ và cả hạ sỹ quan
Việt Nam trong quân đội Pháp chủ trương bạo động ám sát cá nhân với tư tưởng chỉ đạo
“không thành công cũng thành nhân” đã dốc hết lực lượng, tổ chức bạo động với cuộc khởi
nghĩa Yên Bái nhưng cuối cùng cũng thất bại.

- Không thấy được lực lượng to lớn của công nhân và nông dân.
Trong thời đại mới, giai cấp trung tâm của thời đại thay đổi, vai trò lãnh đạo cách
mạng cũng thay đổi. Con đường để giải quyết mâu thuẫn của xã hội, lực lượng cách
mạng, phương pháp cách mạng, cũng phải thay đổi. Nhưng các phong trào cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX, đã không nhận thức được lực lượng cách to lớn quyết định đến
thành bại của cách mạng là quần chúng công nông. Luôn đề cao vai trò của cá nhân.
4
Do vậy, không đề ra chủ trương tập hợp công nông, không đề ra được mục tiêu giải
quyết lợi ích sống còn của công nông.
- Không có phương pháp cách mạng phù hợp các phong trào yêu nước cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX đã không nhận thức được lực lượng cách mạng.
- Do thiếu một giai cấp tiên tiến lãnh đạo: Đối với giai cấp công nhân, mặc dù đã
hình thành và đang trong giai đoạn phát triển nhưng chưa đảm đương được sứ mệnh
lịch sử của mình chưa được trang bị lí luận cách mạng, chưa tổ chức ra được chính
đảng của mình.
- Đường lối cứu nước không phù hợp với xu thế thời đại
Sau thắng lợi của cáh mạng tháng Mười Nga mọi cuộc giải phóng dân tộc muốn
thắng lợi phải theo cách mạng vô sản nhưng các sĩ phu yêu nước lại theo tư tưởng
phong kiến, dân chủ tư sản trở nên lỗi thời
Như vậy các trào lưu yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế XX đều thất bại mà
nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một giai cấp tiên tiến lãnh đạo và không có một
đường đối đúng cách mạng đúng. VKĐH Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định “
Các phong trào cứu nước từ lập trường Cần vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản,
qua khảo nghiệm lần lượt bị thất bại” CMVN vẫn khủng hoảng bế tắc về đường lối
cứu nước. Thực chất là thiếu giai cấp lãnh đạo cách mạng.
Vào thời điểm lịch sử đó, đồng chí Nguyễn Ái Quốc Người Việt Nam giàu lòng
yêu nước tuy rất khâm phục tinh thần yêu nước của những người lãnh đạo phong trào
Cần Vương, tinh thần dân tộc của các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh nhưng không đi theo con đường của các nhà yêu nước mà các bậc tiền bối đã đi.
Người quyết tâm đi tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc.

trình đó được thể hiện qua 3 giai đoạn:
- Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc (1911- 1920)
Với yêu nước nồng nàn thấu hiểu nổi khổ của người dân mất nước người đã đi về
phương tây để tìm ra chân lý của thời đại tìm ra con đường cứu nước cứu dân “Tôi
muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước. sau khi xem họ làm thế nào tôi trở
về giúp đồng bào ta”. Hành trang đi chỉ là lòng yêu nước thương dân và chỉ có một
nguyện vọng và ham muốn tột bậc làm sao cho nước nhà được độc lập, dân dân được
ấm no, hạnh phúc ai cũng có cơm ăn áo mặc ai cũng được học hành; Trước lúc ra đi
Người có rủ một người bạn tên là Lê đi cùng Anh Lê hỏi chúng ta lấy tiền đâu mà đi ?
Người đã giơ 2 bàn tay của mình và nói tiền đây chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống
và để đi (Hồ Chí Minh con đường vạn dặm Mai Văn Bộ)
+ Giai đoạn 1: Từ năm 1911- 1916
Từ ngày 05/6/1911, trên tàu La- tút- trêvin một tàu lái buôn của pháp cập bến
Mác-xây, làm một người phụ bếp có tên Ba, Người đã đến Paris thủ đô nước Pháp, khi
đến pháp người chứng kiến cảnh Người ăn mày; người già không nơi nương tựa và có
cả gái điếm nữa Người tự hỏi “ tại sao Pháp không khai hóa đồng bào của họ mà đi
khai hóa đồng bào ta” trong quá trình lao động và học tập người có dịp đi các nước
châu Phi, và cuối năm 1913 thì Người từ Mỹ sang Anh, trở về Pháp.
Từ thực tiễn của ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc mà Người đã được chứng
kiến ở nhiều nước trên thế giới trên nhiều châu lục, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “rằng
dù màu da có khác nhau trên đời này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và
giống người bị bóc lột. Và Người đã đưa ra kết luận quan trọng đầu tiên là: “Ở đâu
Chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác vô nhân đạo, ở đâu giai cấp công nhân và nhân dân lao
động cũng bị áp bức bóc lột dã man. Bởi vậy giai cấp công nhân và nhân dân lao động
ở tất cả các nước đều là bạn, còn Chủ nghĩa đế quốc, Chủ nghĩa thực dân ở đâu cũng là
kẻ thù của giai cấp công nhân và nhân dân lao động”.
Với kết luận trên, Nguyễn Ái Quốc đã đặt cơ sở cho việc xác định đúng bạn - thù (khẳng
định giai cấp công nhân và nhân dân lao động Pháp là bạn, bọn thực dân Pháp là thù); đặt cơ
sở đúng về đoàn kết giai cấp, đoàn kết quốc tế gắn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ
nghĩa quốc tế vô sản, gắn cách mạng chính quốc với cách mạng thuộc địa.

Kết luận trên đã vạch trần bản chất phản động của chủ nghĩa đế quốc, nhận rõ bộ
mặt thật của kẻ thù, nêu cao cảnh giác trong đấu tranh cách mạng.
Khẳng định tính chủ động cách mạng của các dân tộc thuộc địa, tinh thần độc lập
tự chủ của các dân tộc bị áp bức (đem sức mình để giải phóng cho mình)
Như vậy, những kết luận quan trọng trên, chính là cơ sở vững chắc để Nguyễn Ái
Quốc tiếp thu Luận cương của Lênin sau này.
+ Giai đoạn 3: từ cuối năm 1919 đến năm 1920
* Tháng 7/1920 Nguyễn Ái Quốc được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin.
Đây là một sự kiện quan trọng, một bước ngoặt lớn làm chuyển biến tư tưởng
chính trị của Nguyễn ái Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, con
đường cách mạng vô sản ở Luận cương của Lênin. Một chân lý của thời đại để tìm ra
con đường cứu nước mới cho dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản. Khi kể về
cuộc gặp gỡ lịch sử đó năm 1951 Người viết trong tác phẩm con đường tôi tới chủ
nghĩa Lênin: “Đề cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng
biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên; ngồi một mình trong buồng mà tôi muốn nói
to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ,
đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta (HCM, TT,
T10. Nxb CTQG, H 1996, tr.127).
Luận cương của Lênin đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang
trăn trở tìm hiểu giúp người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân
tộc nhận rõ lập trường của Lê nin và Quốc tế thứ 3 và nó đã ảnh hưởng quyết định đến
lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng
sản, mở đường giải quyết đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam.
* Tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng xã hội Pháp họp ở Tua (Tours), Nguyễn Ái
Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế 3, và tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp. Trở
thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc
đời hoạt động của Người. Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản và cũng vào
thời điểm này Nguyễn Ái Quốc đã có sự lựa chọn đúng đắn, dứt khoát về con đường
cứu nước cho dân tộc Việt Nam. Người đưa ra kết luận thứ 3, vô cùng quan trọng:

Nguyễn Ái Quốc nhiệm vụ trước mắt là trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ,
đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập. Người khẳng định: Cách
mệnh muốn thành công phải có đảng cách mệnh. Đảng có vững cách mạng mới thành công.
Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Về Chính trị:
Thực chất là chuẩn bị về chính trị là chuẩn bị về đường lối cách mạng việt
Nam,những vấn đề này được Người trình bày trong tác phẩm Đường kách mệnh
* Cách mạng Việt Nam: Theo con đường cách mạng tháng Mười Nga, con đường
cách mạng vô sản.
> Đó là cuộc cách mạng triệt để, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự
do thực sự
> Đây chính là điểm khác nhau căn bản giữa con đường cứu nước của Nguyễn Ái
Quốc và con đường cứu nước trước đó
Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứu các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới: từ
CMTS Mỹ (1776), CMTS Pháp (1789), công xã Pari (1971) đến cách mạng tháng
Mười Nga (1917). Người đã phân tích, so sánh và cho rằng CM Mỹ và CM Pháp là
những cuộc cách mạng chưa đến nơi, chỉ có cách mạng Nga là cách mạng đến nơi.
Đó là cuộc cách mạng triệt để, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự
do thực sự chứ không phải thứ bình đẳng giả dối như Pháp khoe khoang bên An Nam.
CM Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi lại ra sức cho công nông các nước và
dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mạng đạp đổ tất cả ĐQCN và tư bản trên thế giới.
8
Như vậy chỉ có cách mạng vô sản là cách mạng triệt để vì nó mang lại lợi ích cho đại
đa số dân chúng. Cách mệnh rồi thì quyền giao lại cho dân chúng số nhiều không để
trong tay bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh
phúc. Đây là con đường cách mạng Việt Nam sẽ hướng theo.
* Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là CNXH. Cách mạng
Việt nam trải qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu là cách mạng giải phóng dân tộc, giai
đoạn tiếp theo là giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn có mối quan hệ

đó là phương pháp hoà bình và phương pháp bạo lực. Trong đó, phương pháp hoà bình
là rất quý và hiếm, còn phương pháp bạo lực là qui luật phổ biến của mọi cuộc cách
mạng. “ Bạo lực là bà đỡ cho một xã hội mới đang thai nghen trong lòng xã hội cũ”
Bạo lực là sức mạnh của quần chúng cách mạng dùng để đánh đổ chính quyền của
bọn thống trị, giành chính quyền về tay nhân dân, trấn áp bọn phản cách mạng, bạo
lực cách mạng là sức mạnh tổng hợp (chính trị và quân sự) rất lớn đó là công cụ để đập
tan một chế độ xã hội đã bị lỗi thời, thúc đẩy sự phát triển, chuyển biến cách mạng
dùng bạo lực để chống bạo lực phản cách mạng.
Phải dùng phương pháp bạo lực vì Thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương
chúng không bao giờ rời bỏ địa vị thống trị của chúng và lợi ích kinh tế của chúng để
trả lại ĐLTD cho Việt Nam
9
Với bản chất hiếu chiến và tham lam, thực dân Pháp chúng câu kết chặt chẽ với
phong kiến để đàn áp nhân dân Đông Dương. Chúng sử dụng bạo lực, nên chúng ta
cũng phải dùng bạo lực để chống lại chúng .Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã chọn phương
pháp cách mạng là bạo lực của quần chúng.
Theo Nguyễn Ái Quốc: Phương pháp cách mạng rất quan trọng, phải biết cách làm
thì mới chóng, biết cách làm biết đồng tâm mới làm được. Người khẳng định: Dân khí
mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi.
Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ ra những thiếu sót của những người đi trước như ám sát
cá nhân xúi dân bạo động mà không bày cách tổ chức hoặc làm cho dân ỷ lại mà quên
tính tự cường ( phải có sách lược mưu chước, kế hoạch biết lúc nào nên làm lúc nào
chưa nên làm).
Người phê phán ám sát cá nhân: “ám sát là làm liều kết quả ít, vì giết thằng này
còn thằng khác, giết sao cho hết? Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để
đánh đổ cả giai cấp áp bức mình, chứ không phải chỉ nhờ 5, 7 người giết 2, 3 anh vua,
9, 10 anh quan mà được.
Thực tiễn chứng minh Đảng đã vận dụng phương pháp bạo lực cách mạng trong
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã thu nhiều thắng lợi vẻ vang trong chiến thắng
2 kẻ thù xâm lược)

10
sách báo do người viết, như báo Đông Dương, Người cùng khổ, tác phẩm Bản án chế độ
thực dân pháp, truyện ngắn Lời than vãn của Bà Trưng trắc, vở kịch “Con rồng Tre”
* Mục Đích : Nhằm chuẩn bị nền tảng tư tưởng cho đảng
> Nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam thức tỉnh, giác ngộ quần
chúng và phát triển phong trào đấu tranh cách mạng của dân tộc, “ Hỡi Đông dương
đáng thương hại. Người sẽ chết mất thôi nếu đám thanh niên già cỗi của người không
dám hồi sinh”
> Làm cho chủ nghĩa Mác Lênin giữ vai trò chủ đạo trong hệ tư tưởng của xã hội
Việt Nam. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính
nhất nhất chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Mác-Lênin. (HCM; toàn tập,
Nxb. CTQG, HN, 2002, t10, tr 268).
> Tố cáo tội ác của thực dân Pháp,
> Liên kết cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa với cách mạng vô sản ở các
nước đế quốc vạch ra phương hướng hành động của nhân dân các nước thuộc địa kêu
gọi nhân dân Việt Nam và nhân dân ở các nước thuộc địa phải tự đứng dậy giải
phóng cho mình.
“Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động chỉ có theo lý luận
cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm của cách mệnh tiên
phong”. Người chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có có chủ nghĩa làm nòng cốt, trong
đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa
cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là
chủ nghĩa Lênin. (HCM; toàn tập, Nxb. CTQG, HN, 2002, t10, tr 268).
> Tuyên truyền chủ nghĩa Mác- Lênin, cách mạng tháng Mười Nga, công cuộc
xây dựng CNXH ở Liên Xô, về Quốc tế Cộng sản.
> Người tích cực đấu tranh với những quan điểm tư tưởng sai trái, như tư tưởng
phong kiến, tư sản, bạo động, ám sát cá nhân.
> Phương thức truyền bá CN Mác- Lênin của Nguyễn Ái Quốc rất sáng tạo phong
phú đa dạng, dễ học, dễ nhớ, dễ hiểu.

ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi
còn lại kia vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra. (HCM: TT, Nxb
CTQG, HN, t2, tr. 120).
> 6/1925; theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, tổng bộ Việt Nam thanh niên cách
mạng đồng chí hội đã xuất bản tờ báo Thanh niên, để phổ biến chủ nghĩa Mác- Lênin
và giác ngộ tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.
> Năm 1927, Người viết tác phẩm Đường Kách mệnh, nội dung thể hiện rõ đường
lối cơ bản của cách mạng nước ta.
Khi nhận xét các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc Giáo sư Nhật bản SiGô Si Ba Ta
“ Các tác phẩm ấy đã phát triển thành lý luận không theo uyên bác xa xôi mà viết bằng
những lời lẽ đơn giản, những câu ngắn gọn những giá trị lý luận cách mạng của Hồ
Chí Minh giống như những viên ngọc quý được khảm trong các tác phẩm của người”
(Thế giới ca ngợi Hồ chí Minh Nxb sự thật H1976, tr246)
Ngoài ra Người còn viết kịch: Lời than vãn của bà Trưng Trắc; Con rồng tre nhằm
tố cáo vua Khải Định hèn hạ bạc nhược…để tuyên truyền cách mạng tháng Mười Nga,
Nguyễn Ái Quốc còn làm thơ, hay tuyên truyền dưới dạng nhật kí (Nhật kí chìm tàu,
để ca ngợi chế độ xã hội Liên xô tốt đẹp, tăng thêm niềm tin cho quần chúng vào nước
Nga Xô viết, vào CNCS).
Như vậy, để chuẩn bị tư tưởng cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Nguyễn Ái
Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào phong trào yêu nước và phong
trào công nhân Việt Nam. Quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin được xác định là
quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi phải chiến thắng mọi hệ tư tưởng khác trong xã hội
Việt Nam.
+Về Tổ chức
Thực chất của chuẩn bị tổ chức là chuẩn bị về cơ cấu, hệ thống nguyên tắc điều lệ
cán bộ cho sự ra đời cho một chính Đảng của gia cấp công nhân.
* Người tích cực thành lập các tổ chức để truyền bá lý luận chủ nghĩa Mác Lênin và đào
tạo đội ngũ cán bộ trung kiên .
Nguyễn Ái Quốc vạch ra những nguyên tắc, hình thức tổ chức mà Người đã tổng
kết kinh nghiệm cách mạng thế giới. Phải tổ chức, phát huy sức mạnh quần chúng,

Nam Định, Ngô Gia Tự làm công nhân khuân vác ở Sài Gòn. Một số đồng chí đi
xuống lao động ở vùng mỏ như Nguyễn Văn Cừ làm công nhân khuân vác ở mỏ than
Mạo Khê, Lê Thanh Nghị làm ở mỏ than Cọc Năm, Đặng Châu Tuệ làm ở mỏ than
Cẩm Phả, nhiều đồng chí khác đi làm ở các mỏ than Vàng Danh, Uông Bí. Các đồng
chí Trần Tử Bình, Nguyễn Mạnh Hồng đi lao động ở đồn điền Phú Riềng.
* Nhờ vô sản hoá khoảng cách giữa những người lao khổ và những người trí thức
tiểu tư sản được xoá bỏ. Sự tiếp xúc gần gũi là điều kiện thuận lợi để gieo mầm cách
mạng, trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và lí luận cách mạng giải phóng dân
tộc của Nguyễn ái Quốc một cách phổ cập trong quần chúng.
* Hội kết nạp ngày càng nhiều hội viên, năm 1928 có 300 hội viên; năm 1929 lên
tới 1700 hội viên kể cả hội viên dự bị gần 3000 người, nhiều trung tâm kinh tế, chính
trị trong cả nước trở thành lực lượng chính trị yêu nước nhất cả nước.
Phong trào vô sản hoá đã thúc đẩy nhanh phong trào đấu tranh của công nhân từ
đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác, từ giác ngộ dân tộc tới giác ngộ giai cấp; Vô
sản hoá là một cuộc thử lửa, đào tạo cán bộ một cách nghiêm khắc, có tác dụng sàng
lọc đội ngũ cán bộ qua thực tiễn; đây chính là biện pháp rèn luyện và sàng lọc đội ngũ
đảng viên sau này
Việc truyền bá giải phóng dân tộc và tổ chức vận động nhân dân đấu tranh đã dấy
lên một phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam ngày càng mạnh mẽ dặc biệt là phong
trào công nhân .
* Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ trong những năm
1919 – 1925 đã nổ ra 25 cuộc bãi công; Từ năm 1926 – 1929 phong trào công nhân
ngày càng phát triển với sự ra đời và hoạt động của hội Việt Nam cách mạng thanh
niên; trong năm 1928 – 1929 nổ ra hơn 40 cuộc đấu tranh khắp các vùng trên cả nước.
Các cuộc đấu tranh đó kết hợp khẩu hiệu kinh tế với khẩu hiệu chính trị vượt ra ngoài
phạm vi một nhà máy, đồn điền bước đầu có sự liên kết nhiều ngành nhiều địa phương.
Điều đó chứng tỏ trình độ giác ngộ của công nhân đã nâng lên rõ rệt tuy chưa đều
13
khắp. Phong trào công công nhân đang phát triển mạnh mẽ, có sự quy tụ phong trào
yêu nước nói chung.

nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến phân liệt về chính trị, tư tưởng.
Vì lợi ích của dân tộc và nguyên tắc tổ chức của chính Đảng Mác – Lê nin
không cho phép phân tán lực lượng. Tổ chức thành lập một chính Đảng là nhu cầu bức
thiết của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ .
- Hội nghị thành lập Đảng và chính cương sách lược vắn tắt.
+ Hội nghị thành lập Đảng
Quốc tế cộng sản gửi thư giao nhiệm vụ cho đồng chí Nguyễn Ái Quốc hợp
nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất. Nêu rõ “ Nhiệm vụ quan trọng nhất
và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là thành lập một Đảng
cách mạng có tính chất giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng có tính chất
quần chúng ở Đông Dương Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở
Đông Dương”
* Thời gian: Mùa xuân 1930, từ ngày 06 tháng 01 đến 07/ 2/ 1930 bán đảo
Cửu Long, Hương Cảng Trung Quốc.
* Thành phần tham gia: Dưới sự chủ trì của Đồng chí Nguyễn Ái Quốc (có 07
đồng chí): Đông Dương Cộng sản Đảng: có 02 đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh
14
Đình Cửu),. An Nam Cộng sản Đảng: có 02 đồng chí (Nguyễn Văn Liêm, Nguyễn
Thiệu) Đại biểu nước ngồi: 02. Đơng Dương cộng sản liên đồn khơng kịp tới dự.
* Hội nghị thơng qua: Chính cương sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt,
Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo. Đó là điều lệ đầu tiên của
Đảng.
+ Kết quả: Hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất lấy tên là
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đến ngày 24/2/1930 thơng qua quyết nghị chấp nhận Đơng Dương Cộng sản
liên đồn ra nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
+Ý nghĩa: Hội nghị thành lập Đảng 03/02/1930 có ý nghĩa như một đại hội (ra được
cương lĩnh). Hội nghị đã đem lại cho giai cấp cơng nhân và dân tộc Việt Nam, một đảng
Mác- Lênin chân chính, một đội tiên phong thống nhất, có đường lối cách mạng đúng đắn,
làm cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng và hành động cho các lực lượng u nước Việt

của giai cấp cơng nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc” tr.130
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tuy vắn tắt nhưng nó đã xác định đúng
đắn những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Điều đó chứng tỏ Đảng và lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn Việt Nam
phù hợp với thời đại mới. Cương lĩnh đã giải quyết nhuần nhuyễn mối quan hệ dân tộc
15
và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội trên lập trường
giai cấp công nhân. Cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo theo con
đường cách mạng Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử .
16
-Ý nghĩa Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
+ Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách
mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước trong những năm
cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX
+ Đảng cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối đúng là điều kiện cơ bản có ý nghĩa
quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam từ đó về sau.
+ Khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng Việt Nam.
+ Là hạt nhân quy tụ các giai cấp, tầng lớp nhân dân tạo lên sức mạnh tổng hợp
của cả dân tộc để chiến thắng kẻ thù.
+ Đưa cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo chung của cách mạng thế giới.
+ Góp phần vào kho tàng lý luận Mác- Lê nin về xây dựng một chính đảng ở
một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Hồ Chí Minh viết: Việc thành lập Đảng ta là một bước ngoặt vô cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạng nước ta, nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng
thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng.
c. Kinh nghiệm của quá trình vận động thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
- Độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, tổng kết thực tiễn, kết hợp tinh hoa của nhân loại
với tinh hoa của dân tộc là những yếu tố giúp Nguyễn Ái Quốc tìm được con đường cứu
nước đúng đắn, đặt tiền lệ cho truyền thống độc lập, tự chủ sáng tạo của Đảng về sau.
- Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản tiền bối có phương pháp truyền bá

- Khi đánh giá về ý nghĩa lịch sử Hồ Chí Minh khẳng định:
“ Chẳng những giai cấp lao động và Nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào mà giai
cấp giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng:
“Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nữa
thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính
quyền toàn quốc”( HCM: TT, Nxb.CTQG,H, 2002, t6, tr.159 )
2. Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng và tiến
hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược(1945 – 1954 )
a. Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng (1945 - 1946)
- Khi mới ra đời vận mệnh đất nước như ngàn cân treo sợi tóc, nước Việt Nam dân
chủ Cộng hoà đã đối mặt với ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm
- Đảng đề ra chủ trương và quyết sách đúng đắn, toàn diện trên tất cả các mặt
chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng.
+Đối với các thế lực thù địch, chúng ta đã thực hiện chính sách mềm dẻo, lợi
dụng mâu thuẫn trong đội ngũ kẻ thù để giành thời gian cũng cố lực lượng chuẩn bị
cho kháng chiến
+ Động viên được sức mạnh đoàn kết toàn dân, triệu người như một cũng cố, giữ
vững chính quyền và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân pháp
xâm lược.
b. Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược (1946 – 1954)
- Thực dân pháp không từ bỏ giã tâm quyết cướp nước ta một lần nữa ngày 18
tháng 12 năm 1946, đại diện chính phủ Pháp cắt đứt mọi liên hệ với đại diện chính phủ
ta. Cuộc chiến tranh xâm lược lan ra cả nước.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc
kháng chiến, Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ …Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh
thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không
có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp
cứu nước Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn

bền vững.
- Ba là, phải coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
- Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
- Năm là, trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng tạo.
III. NHỮNG TRUYỀN THỐNG QUÝ BÁU CỦA ĐẢNG CÔNG SẢN VIỆT NAM
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng không ngừng được tôi luyện, trưởng
thành và xây dựng nên những truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp của
Đảng, đó là:
- Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng.
- Tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo.
- Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững ngọn cờ
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Trung thành với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân.
- Kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng.
- Giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quốc tế….
KẾT LUẬN
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đã đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của lịch sử
Việt Nam trong đầu thế kỷ XX; là kết quả của quá trình đấu tranh dân tộc và giai cấp ở
Việt Nam; là kết quả của công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - chuẩn bị đầy
đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức, là thắng lợi của hệ tư tưởng Mác - Lê nin đối với
trào lưu tư tưởng khác. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp lý
luận Mác - Lênin, phong trào công nhân, và phong trào yêu nước. Sự kết hợp đó là một
trong những nguồn gốc tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng, đưa cách mạng
Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Ngày 10 tháng 4 năm 2013
GIẢNG VIÊN
Nguyễn Sơn
19


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status