BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------
ĐOÀN LUYẾN VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN
DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
(1960 – 1968) Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
- Mặt trận DTGPMNVN : Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
- LMCLLDTDC & HBVN:
Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình
Việt Nam.
- MTTQVN :
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Tạp chí NCLS :
Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
- Nxb :
Nhà xuất bản
- XHCN :
Xã hội chủ nghĩa
- KHXH :
Khoa học xã hội.
- QĐND :
Quân dội nhân dân
- TP.HCM :
Thực hiện chiến lược đại đoà
n kết toàn dân của Đảng, chúng ta đã xây dựng ba tầng
Mặt trận thống nhất. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời cùng với Mặt
trận Tổ Quốc Việt Na
m, nhân dân Đông Dương và nhân dân thế giới bao vây đế quốc Mỹ.
Mặt trận
DTGPMNVN ra đời, cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam thực sự khởi
động một cách độc đáo và khôn khéo, thể hiện bãn lĩnh Việt Nam trong quá trình tiến hành
cuộc chiến tranh cách mạng .
Mặt trận vừa làm
nhiệm vụ của một đoàn thể kêu gọi nhân dân miền Nam đứng lên
lật đổ ách gông xiềng đế quốc và tay sai, vừa làm nhiệm vụ của một chính quyền cách mạng
lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ khi ta chưa xây dựng được
chính quyền cách mạng.
Hoạt động của Mặt trận trên lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao thể hiện ý chí
tiến công của cách mạng, thể hiện quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cách mạng là giành độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vai trò của Mặt trận DTGPMNVN trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ vô cùng to lớn.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Vai trò của Mặt trận Dân tộc
giải phóng Miền Nam Việt Nam trong cuộc kh
áng chiến chống Mỹ ” ( từ 1960 đến
1968 ) làm đề tài luận văn.
Mặt trận
DTGPMNVN ra đời ngày 20-12-1960 và kết thúc ngày 4-2-1977, Mặt trận
đã cùng với nhân dân cả nước làm nên một kỳ tích trong lịch sử dân tộc: đán
h thắng đế quốc
- Báo cáo chính trị tại đại hội Mặt trận D
TGPMNVN lần thứ hai, Nxb Sự Thật, Hà
Nội, 1964. - Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận DTGPMNVN ( Từ tháng 11 -1964 đến tháng
12-1965 ) Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1966.
- Cương lĩnh chính trị của Mặt trận
DTGPMNVN, Nxb Sự Thật, Hà Nội ,1967.
- Những văn kiện chủ yếu của Mặt trận
DTGPMNVN ( Từ tháng 1 -1967 đến tháng 12
-1967 ), Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1967.
- Văn kiện Đảng về Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, tập II, (1945 - 1977 ), Nxb
Sự Thật, Hà Nội, 1970.
Những tập văn kiện của Đảng, văn kiện Mặt trận giúp chúng ta hiểu r
õ đường lối,
chủ trương Đảng, của Mặt trận trong từng giai đoạn, cho chúng ta thấy được những cái mốc
lịch sử đánh dấu từng bước phát triển và chuyển biến của cách mạng miền Nam.
Thông qua một số sách, bài viết, hồi ký của các vị lãnh đạo tham gia Mặt trận trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ c
ho chúng ta cái nhìn khá rõ nét về hoạt động của Mặt trận như
:
- Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành
những thắng lợi mới, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1970 và Thư vào Nam, Nxb Sự Thật, Hà Nội,
1985 của cố Tổng bí thư Lê Duẫn, người trực tiếp c
hỉ đạo các
h mạng Việt Nam thời chống
Mỹ.
- “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam – Mấy bài học lớn” của Nguyễn
giải phóng là một tất yếu lịch sử.
Từ 1975 đến na
y, có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, có đề cập đến Mặt trận DTGPMNVN như:
- Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước ( 1954-1975), tập 2,3,
4 của Nxb C
hính trị
Quốc gia, Hà Nội , 1995,1997,1999.
- Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Lê Mậu Hãn chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1998.
- Lịch sử Việt Nam (1954- 1965) và (1965-1975), Cao văn Lượng chủ bi
ên, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội 1996, 2002.
- Tìm hiểu lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
qua các đại hội và hội nghị trung ương
(1930-2002)- PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc chủ biên, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội
2003;
Tác phẩm v
iết về Mặt trận Dâ
n tộc giải phóng miền Nam Việt Nam khá sớm và
nhiều thông tin nhất là Miền Nam giữ vững thành đồng của Giáo sư Trần Văn Giàu, 5 tập,
nhà xuất bản Khoa học xã hội, xuất bản các năm 1964, 1966, 1968, 1970, 1978. Đây là một
tác phẩm Sử học, có nhiều tâm huyết của một người dân Nam Bộ, tác giả đã ghi chép khá
chi tiết, cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin về Mặt trận Dân tộc giải phóng.
Trong tập 1, chương V: Bão táp cách mạng bắt đầu, tác giả viết về tì
nh hình miền
Nam trong thời gian 1959, 1960, chính sách đàn áp của Mỹ - Diệm, phong trào đấu tranh
của nhân dân miền Nam, chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam và sự ra đời của Mặt
trận Dân tộc giải phóng.
đấu tranh chính trị của Mặt trận… [26].
Năm
2006, Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử chính phủ đã xuất bản cuốn Biên niên lịch
sử chính phủ Việt Nam, tập 5, nội dung: Mặt trận DTGPMNVN và Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nội dung cuốn sách cho chúng ta cái nhìn mới về
Mặt trận D
ân tộc giải phóng, về vai trò của Mặt trận trên lĩnh vực nhà nước, “Ủy ban trung
ương Mặt trận là chính phủ tiền thân của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam” [11] đại diện cho nhân dân miền Nam trong giai đoạn 1960-1969.
Nhìn chung, các tác giả nêu trê
n đã quan tâm nghiên cứu đến Mặt trận Dân tộc giải
phóng. Tuy nhiên, các đề tài chỉ nghiên cứu một mặt hoạt động của Mặt trận, hoặc nghiên
cứu nhiều mặt nhưng chỉ trong một giai đoạn ngắn, hoặc coi Mặt trận là một bộ phận của
cách mạng m
iền Nam, các đề tài chưa chú trọng đến vai trò “Mặt trận là một chính phủ ”ở
miền Nam.
Kế thừa những thành tựu của các người đi trước, luận văn dự định nghiên cứu hoà
n
cảnh ra đời của Mặt trận, hoạt động của Mặt trận trên các lĩnh vực chính trị, quâ
n sự và
ngoại giao, đồng thời hệ thống hoá những hoạt động của Mặt trận theo từng giai đoạn lịch
sử. Qua đó rút ra vai trò của Mặt trận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giai
đoạn từ 1960 – 1968. 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mặt trận Dân tộc Giải
phóng Miền Nam Việt Nam là một tổ chức cách mạng có ảnh
hưởng rất lớn đến thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước dưới sự lãnh đạo
của Đảng Lao động Việt Nam.
chiến chống Mỹ cứu nước.
Nội dung đề tài xác định đội tượng của luận văn là các
họat động của Mặt trận Dân
tộc giải phóng từ 1960 đến 1968. Thông qua các họat động của Mặt trận, rút ra được vai trò
của Mặt trận trong c
uộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là một Mặt trận dân tộc thống nhất
của một nước thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân mới. Mặt trận đã giương cao
ngọn cờ độc lập dân tộc, dân chủ. Ra sức xây dựng và tăng cường Mặt trận dân tộc thống
nhất, bao gồm cả giai cấp tư sản dân tộc, tiểu tư sản thà
nh thị, lấy liên minh công nông làm
nền tảng, tiến hành cuộc cách mạng chống đế quốc và tay sai, xây dựng nhà nước độc lập
theo chế độ dân tộc, dân chủ, tạo điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Xét về đối tượng thì Mặt trận Dân tộc Giải phóng m
iền Nam Việt Nam là một bộ
phận của cách mạng Việt Nam. Mặt trận là một bộ phận của Mặt trận dân tộc thống nhất,
thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân của Đảng. H
oạt động của Mặt trận có nhiệm vụ
cùng với cả nước hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đánh đuổi ngoại xâm và
thống nhất nước nhà.
Do điều kiện đặc biệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Mặt trận vừa làm nhiệm vụ là
một chính phủ (khi miền Nam chưa có chính phủ Cách mạng lâm thời), tổ chức và lãnh đạo
cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam, vừa làm nhiệm vụ của mặt trận dân tộc thống
nhất là tập hợp, huy động tất cả các giai cấp, các tầng lớp, các tôn giáo, các dân tộc dưới sự
lãnh đạo của liên minh công nông để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vai trò của Mặt trận D
ân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến
iền Nam từ không đến có, từ “uỷ ban nhân dân tự quản” trong các “Làng
rừng”, đến uỷ ban Giải phóng, từng bước xây dựng chính quyền cách mạng, tạo điều kiện
cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra đời sau này. Ủy ban
Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng là chính phủ tiền thân của chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam [11]. Ủy ban Mặt trận các cấp đã xâ
y dựng ủy ban
nhân dân cách mạng các cấp. Mặt trận đã tổ chức được các đoàn thể Thanh niên giải phóng,
Phụ nữ giải phóng, Nông dân giải phóng…,làm nòng cốt cho công cuộc vận động giải
phóng miền Nam. Các phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam dưới sự lãnh
đạo của Mặt trận đã thực sự góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước.
-Nghiên cứu hoạt động ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng m
iền Nam Việt
Nam, đặc biệt trong quan hệ ngoại giao quốc tế. Mặt trận họat động từ “ngoại giao nhân
dân” đến “ngọai giao nhà nước”. Thực hiện chủ trương xây dựng ba tầng mặt trận của Đảng,
đại đoàn kết dân tộc trong nước, đoàn kết với nhân dân Đông Dương và nhân dân thế giới
cùng chống đế quốc Mỹ xâm
lược.
-Nghiên cứu vai trò của Mặt trận D
TGPMNVN trong quá trình xây dựng thế trận
chiến tranh nhân dân, động viên lực lượng tham gia Quân giải phóng miền Nam, tham gia
xây dựng lực lượng dân quân du kích địa phương, xây dựng các căn cứ địa cách mạng.
Từ những hoạt động thực tiễn của Mặt trận rút ra những bài học kinh nghiệm
cho việc
phát huy vai trò của Mặt trận trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hiện
nay .
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiê
n cứu, tác giả sử dụng những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho đề tài .
1.1.1.Chiến tranh lạnh và âm mưu của Mỹ
Sau c
hiến tranh thế giới thứ hai, tình hình quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi. Trên thế
giới hình thành một trật tự thế giới mới: “Trật tự hai cực ”, thế giới chia thành hai phe. Tất
cả các nước trên thế giới dù lớn hay nhỏ đều bị cuốn vào cuộc “chiến tranh lạnh”.
Thá
ng 3- 1947, Tổng thống Mỹ, Truman đã đọc diễn văn trước Quốc hội Mỹ, chín
h
thức đưa ra “ Chủ thuyết Truman”. Theo Truman thì các nước Đông Âu “vừa mới bị cộng
sản thôn tính” và những đe doạ tương tự đang diễn ra trên nhiều nước khác ở châu Âu, ở
Italia, ở Pháp và cả ở nước Đức nữa. Vì vậy, Mỹ phải đứng ra “đảm nhiệm lãnh đạo thế giới
tự do ”, phải “giúp đỡ” cho các dân tộc trên thế giới chống lại “sự đe doạ ” của chủ nghĩa
cộng sản, c
hống lại sự “bành trướng” của nước Liên Xô, giúp đỡ bằng mọi biện pháp kinh
tế, quân sự. Tổng thống Mỹ Truman đã phát động cuộc “chiến tranh lạnh” chống Liên Xô
và các nước XHCN.
Đầu những năm
1950, do còn độc quyền nắm giữ ưu thế vũ khí hạt nhân, với tham
vọng bá chủ thế giới, đế quốc Mỹ cho ra đời chiến lược toàn cầu “Trả đủa ồ ạt “. Mục tiêu
của chiến lược là : “Dùng vũ khí hạt nhân làm chiếc ô che chắn để bảo vệ chế độ tay sai của
Mỹ, sẵn sàng đánh trả ồ ạt thẳng vào các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, trước hết là
L
iên Xô mà Mỹ coi là nguồn gốc của phong trào cách mạng và chiến tranh cách mạng trên
thế giới ”[15]. Chổ dựa cơ bản cho việc thực h
iện mục tiêu chiến lược trên được xác định là
: “lực lượng quân sự Mỹ, chủ yếu là lực lượng hạt nhân chiến lược, và hệ thống liên minh
quân sự của Mỹ với các nước đồng minh, đặc biệt là tuyến căn cứ tiền tiêu ở xa nước Mỹ ”
[15].
Với 800 căn cứ quân sự được thà
nh lập ở 35 nước và khu vực hải ngoại, Mỹ hy vọng
ợc triệu tập ngày 26-4-1954. Mỹ buộc phải đến dự hội nghị nhưng từ đầu đến
cuối đã cố tình tìm cách phá hoại hội nghị.
Sau khi thất bại trong chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã tăng cường ca
n thiệp vào Đông
Dương. Âm mưu của Mỹ nhằm dần dần hất cẳng Pháp, biến các nước Đông Dương thành
thuộc địa kiểu mới của Mỹ, đàn áp các phong trào dân tộc dâ
n chủ của nhân dân các nước
Đông Dương, lấy Đông Dương làm chổ dựa để khống chế các nước Đông Nam Á và làm
bàn đạp để tấn công Trung Quốc. Mặt khác, Mỹ còn tìm cách kéo dài và mở rộng chiến
tranh để thay thế cho chiến tranh Triều Tiên và giải quyết nguy cơ khủng hoảng đang đe doạ
nền kinh tế Mỹ.
Khi quâ
n đội Pháp bị xiết chặt vòng vây ở Điện Biên Phủ và gặp rất nhiều khó khăn
thì Mỹ càng tích cực lợi dụng thời cơ xông vào để nắm lấy Đông Dương.
Mỹ đã dùng áp lực
buộc pháp phải “trao trả độc lập” cho ba nước Đông Dương để Mỹ trực tiếp nắm lấy các
nước nầy mà không qua Pháp. Mỹ đã tích cực chuẩn bị lực lượng hải quân và không quân
trực tiếp can thiệp vào Đông Dương. Khi quân đội Pháp gần bị thất thủ ở Điện Biên Phủ, Mỹ càng tích cực hơn nữa để
quốc tế hoá chiến tranh Đông Dương. Mỹ hứa với Pháp sẽ sử dụng các lực lượng không
quân Mỹ để “cứu nguy ”cho Điện Biên Phủ, thậm chí còn có ý định dùng bom nguyên tử
chiến thuật trong những ngày cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ.
Mặt khác, tại Hội nghị Giơnevơ, Mỹ đã tìm mọi cách phá hoại. Ngày 16-5, Ngoại
trưởng Mỹ Đa- lét bỏ hội nghị ra về. Tổng thống Mỹ Eis
enhower đã chỉ thị cho Bơđin Smit
tích cực phá hoại để nhanh chóng chấm dứt hội đàm ở Giơnevơ.
Hội nghị Giơne
vơ đã tiến triển ngoài ý muốn của Mỹ. Ngày 7-5-1954, chiến dịch
không thông qua Pháp. Quân sự: Chỉ cộng tác với Pháp ở mức cần thiết để xây dựng lại lực lượng quân sự
bản xứ có thể bảo đảm an ninh nội bộ.
Chí
nh trị: Pháp phải trao quyền độc lập hoàn toàn cho Nam Việt Nam ( kể cả quyền
rút khỏi Liên hiệp Pháp ), và phải ủng hộ một chính phủ bản xứ mạnh. Diệm phải mở rộng
cơ sở chính phủ, bầu ra quốc hội, thảo hiến phá
p và phế truất Bảo Đại một cách hợp pháp,
cần có sự ủng hộ của Pháp trong các chính sách nầy…
Ngà
y 8/9/1954, Mỹ lôi kéo các nước đồng minh Anh, Pháp, Oxtrâylia, Thái Lan,
Philippin và Pakistan ký Hiệp ước Manila ( Philippin ) thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông
Nam Á (SEATO) đặt Việt Nam, Lào, Campuchia dưới sự bảo trợ của tổ chức nầy. Nói là
Đông Nam Á nhưng chỉ có hai nước Thái Lan và Philippin là thuộc Đông Nam Á. Thực
chất SEATO là liên minh chống cộng khu vực nằm
trong hệ thống các tổ chức quân sự của
Mỹ trong thời kỳ thế giới phân chia thành hai cực, nhằm làm chỗ dựa cho Mỹ xâm lược
Việt Nam.
Ngày 24/10/1954, Eisenhower gửi thư cho Ngô Đì
nh Diệm tuyên bố Mỹ viện trợ
kinh tế và quân sự trực tiếp, không đòi hỏi Việt Nam phải có những hành động đáp lại sự
viện trợ nầy [29].
Ngà
y 8/11/1954, tướng J.Lewton Collins đến Việt Nam. Ông được giao quyền lực
rộng để điều phối toàn bộ chương trình của Mỹ. Sau đó ngày 17/
11/1954, ông được cử làm
đại sứ ở Sài Gòn.
Tướng Collins đề ra kế hoạch sáu điểm
ngân hàng hối đoái và tiền tệ cho Diệm, từ bỏ mọi đặc quyền ưu tiên, chuyển giao khu vực
đồng Phơ- răng sang đồng Đô-la .
Ngà
y 2/6/1955, Mỹ đã cho triển khai Phái bộ trang bị và cung cấp TERM
(Temporary equipment recovery mission) tại miền Nam khi Pháp chưa rút hết quân.
Cuối tháng 4/1956, đơn vị cuối cùng của quân đội Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam .
Ngày 14/05/1956, Pháp gởi c
ho hai đồng chủ tịch Hội nghị Giơnevơ là Liên Xô và
Anh thông báo quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam và kể từ ngày 24/08/1956 nước Pháp
không còn trách nhiệm thực hiện Hiệp định Giơnevơ nữa. Pháp đã rũ bỏ trách nhiệm của
một bên phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương [29, tr.295-
296]
.
Phái bộ huấn luyện quân sự hỗn hợp về danh nghĩa của P
háp-Mỹ (TRIM ) trước đây
chuyển thành Phái bộ huấn luyện tác chiến lục quân CATO ( Combat army training
organisation ) gồm toàn người Mỹ. Cả hai tổ chức CATO và TERM đều đặt dưới quyền chỉ
huy của Phái đoàn Cố vấn và viện trợ quân sự MAAG (Military Assistance and Advisory
Group ). Từ đây MAAG chi phối mọi hoạt động quân sự của ngụy. Về sau MAAG đổi
thành Bộ chỉ huy viện trợ quâ
n sự ở Việt Nam MACV ( Military Assistance Command in
Vietnam ) [70].
1.2.Hoàn cảnh trong nước
1.2.1. Miền Bắc sau Hiệp định Giơnevơ
Sau khi Li
ên hiệp Pháp rút khỏi Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng và ta hoàn thành
chuyển quân tập kết, miền Bắc Việt Nam với thủ đô là Hà Nội thuộc quyền quản lý của
chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Miền Bắc trở thành hậu phương cho cuộc đấu
tranh của nhân dân ta ở tiền tuyền miền Nam. Không có hậu phương vững mạnh thì tiền
tuyến không thể ch
Về công nghiệp, hầu hết các nhà m
áy ở miền Bắc đều bị địch phá hủy hoặc mang đi.
Đảng và nhà nước đã nhanh chóng khôi phục các cơ sở sản xuất, tập trung xây dựng một số
ngành phục vụ dân sinh như sản xuất vải, giấy, xà phòng…Xây dựng và mở rộng các cơ sở
sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ nhu cầu thiết yếu đời sống của nhân dân như nhà m
áy chè
Phú Thọ, diêm Thống Nhất, thuốc lá Thăng Long…Các nước xã hội chủ nghĩa như Liên
Xô, Trung Quốc đã tích cực giúp đỡ vốn, kĩ thuật, chuyên gia.
Kết quả, có nhiều nhà m
áy, xí nghiệp được xây mới, tổng sản lượng công- nông
nghiệp 1,5% năm 1954 lên 24 % năm 1957. Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp năm
1957 đạt mức năm 1939.
- Cải tạo và phát triển kinh tế- văn hoá (1958- 1960).
Thá
ng 4-1958 trong kỳ họp Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: miền Bắc nước
ta từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang cách mạng XHCN. Nhiệm vụ trước
mắt của toàn dân ta là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên xây dựng CNXH, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng nước Việt
Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
Tháng 11-1958, Hội nghị lần t
hứ 14 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá II)
quyết định động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên miền Bắc tiến hành 3 năm cải tạo
và bước đầu phát triển kinh tế, phát triển văn hoá (1958- 1960) với 3 nhiệm vụ cơ bản:
Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp
làm
khâu chính, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực, đồng thời rất chú trọng sản
xuất công nghiệp, hết sức tăng thêm các tư liệu sản xuất và giải quyết phần lớn hàng tiêu
dùng.
Cuối năm 1960, hợp tác hoá căn bản hoàn thành tạo điều kiện cho sản xuất nông
nghiệp phát triển, tổng sản lượng lương thực đạt mức 6 triệu tấn, giá trị sản lượng nông
nghiệp hàng năm tăng bình quân 5,6%, góp phần vào công cuộc kiến thiết miền Bắc và sẵn
sàng chi viện nhân tài, vật lực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.
Sau 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, nền công nghiệp non trẻ ở miền Bắc đã có
bước phát triển về nhiều mặt. Giá trị sản lượng công nghiệp trong tổng giá trị kinh tế quốc
dân tăng từ 31,
4% năm 1957 lên 41% năm 1960, tỷ trọng công nghiệp sản xuất tư liệu sản
xuất 23,5% tăng lên 32,5%, công nghiệp hiện đại từ 12,8% lên 23,7%. Đặc biệt thời kỳ nầy
công nghiệp quốc doanh tăng mạnh, từ 67% lên 90% ( không kể tiểu thủ c
ông nghiệp)
thực sự giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, cung cấp cho đất nước một khối
lượng sản phẩm quan trọng, trong đó có những sản phẩm trước đây phải nhập từ nước ngoài
với giá đắt.
Hoạt động tài chính, ngân hàng, ngoại thương do nhà nước độc quyền quản lý, điều
hành đã phục vụ đắc lực cho công cuộc xâ
y dựng miền Bắc.
Hệ thống giáo dục hình thành trong ba năm
khôi phục kinh tế, đến đây được củng cố,
phát triển, bao gồm các nhà trường phổ thông (3 cấp), các trường bổ túc công nông, các
trường đại học, trung học chuyên nghiệp đưa tổng số trường đại học miền Bắc lên 8 trường
với 50 ngành học.
Trên nền tảng của những biến đổi trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục,
miền Bắc tập trung xây dựng nền văn hoá mới, con người mới. Nền văn hoá kết hợp giữa
truyền thống và hiện đại đang từng bước hình thành. Đó là nền văn hoá yêu nước, yêu nhân
dân lao động, yêu đồng chí, đồng bào, yêu thương miền Nam đang chịu nhiều thương đau,
lòng căm thù giặc.
Mạng lưới y tế bảo vệ sức khoẻ nhâ
n dân phát triển nhanh chóng, hình thành rộng
kinh tế, tài chính và nghiệp vụ ở trong và ngoài nước.
Các Uỷ ba
n kháng chiến- hành chính trong kháng chiến từ tháng 9-1954 được đổi
thành Uỷ ban hành chính. Hệ thống chính quyền địa phương các cấp được chỉnh đốn một
bước trong những năm đầu hoà bình lập lại. Từ tháng 7-1957, các địa phương ở miền Bắc
tiến hành bầu cử Hội đồng nhâ
n dân các cấp và sau đó cử ra Uỷ ban hành chính các cấp.
Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc họp từ ngày 5 đến ngà
y 15-9-1955 tại
Hà Nội quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đại hội đã bầu ra Uỷ ban Trung
ương do đồng chí Tôn Đức Thắng làm chủ tịch, Đại hội thông qua Tuyên ngôn và Cương
lĩnh Mặt trận thể hiện nguyện vọng, ý chí của mọi người Việt Nam yêu nước là đại đoàn kết
để hoàn thành sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam
hoà bình, thống nhất, độc lập, dân
chủ và giàu mạnh.
Ngà
y 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thi hành Hiến pháp mới. Tháng 5-
1960, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá II được tiến hành trên toàn miền Bắc, các đại
biểu miền Nam trong Quốc hội khoá I được lưu nhiệm.
Kỳ họp Q
uốc hội khoá II đã bầu Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước, Chủ tịch Uỷ ban
thường vụ Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân
dân tối cao… Về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954
đã chỉ rõ: Quân đội nhân dân là cột trụ chủ yếu nhất, chắc chắn nhất để bảo vệ Tổ quốc, bảo
vệ hoà bình. Vì vậy phải xây dựng Quân đội nhân dân thành một đội quân cách mạng, chính
quy, tương đối hiện đại.
Những năm
phục kinh tế, cải tạo XH
CN đối với công nghiệp và nông nghiệp đưa miền Bắc phát triển
một bước quan trọng. Kinh tế ổn định, đời sống văn hoá được nâng cao, Quân đội nhân dân
được củng cố vững chắc. Miền Bắc đã trở thành căn cứ địa vững mạnh của cả nước, chổ dựa
vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền N
am [27],[40],[48].
1.2.2.Chính sách áp bức của chế độ Mỹ- Diệm
Ngà
y 7-7-1954, trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm
về nước và buộc Pháp đặt làm Thủ tướng thay cho Bửu Lộc vốn là tay sai của Pháp. Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, quân đội và chính quyền ta chuyển quân ra phía Bắc
vĩ tuyến 17, lực lượng Liên hiệp Pháp chuyển vào phía Nam vĩ tuyến 17. Lợi dụng cơ hội
nầy Mỹ tiến hành thay chân Pháp, biến miền Nam Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới
của Mỹ.
Tháng 7/1955 theo sự chỉ huy của Mỹ, Bộ Quốc phòng ngụy đề ra kế hoạch xây
dựng một đội quân chính quy 155.000 người và đội quân bảo an đoàn 52.000 người .
Về quâ
n sự huấn luyện cho “Quân đội quốc gia ”, Mỹ thực hiện phương châm
“nhanh chóng, toàn diện, chú trọng thực hành ”. Về chính trị tâm lý từng đợt mở chiến dịch
học tập “ bài Pháp, chống Cộng ”, đề cao danh hiệu “Quân đội quốc gia ”, mặc quân phục
kiểu Mỹ, dùng tiếng Việt, tiếng Mỹ thay tiếng Pháp. Khi bước vào cải tổ Mỹ cho đề bạt và
tăng lương hàng loạt, phong 4 cấp tướng, 20 đại tá, 60 trung tá, 5.600 sĩ qua
n và 27.000 hạ
sĩ quan, đưa sĩ quan đi đào tạo ở Mỹ [40].
Đến thá
ng 6/1956 Mỹ hoàn tất việc xây dựng :
Lục quân : có 4 sư đoà
n dã chiến, 6 sư đoàn khinh chiến, 13 trung đoàn địa phương,
Dưới sự gi
úp đỡ của Mỹ, Ngô Đình Diệm thực hiện chủ trương “Đả thực, bài phong,
diệt cộng”, lập ra đảng cầm quyền, thành lập “Mặt trận quốc gia” làm cơ sở cho chính
quyền của chúng.
Đến đây
, bộ máy, công cụ quân sự, chính trị cho một chính quyền tay sai để thực
hiện chủ nghĩa thực dân mới Mỹ nhằm xâm lược miền Nam Việt Nam coi như đã hoàn
chỉnh, vì chủ nghĩa thực dân mới cai trị “thông qua một chính quyền tay sai đại biểu quyền
lợi cho giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản khoác áo “dân tộc dân chủ ” giả hiệu ”
[12, tr.18].
Để củng cố chế độ độc tài gia đình trị, trong quá trình thực hiện những chủ trương
của Mỹ, Ngô Đình Diệm đã thực hiện nhiều “quốc sách” nhằm mục đích chống lại cách
mạng, chống lại nhân dân, thực hiện âm mưu của Mỹ chia cắt lâu dài đất nước ta:
- Quốc sách “tố cộng , diệt cộng” [36]
, [40].
Từ thá
ng 5/ 1955 khi quân đội ta hoàn thành tập kết ra miền Bắc, Mỹ - Diệm c
ông bố
“tố cộng ,diệt cộng là quốc sách ”, phát động “chiến dịch tố cộng ” trên quy mô rộng lớn
toàn miền Nam.
Diệm th
ành lập “Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng ” gồm tất cả các bộ trưởng
trong chính phủ do Diệm làm chủ tịch danh dự và Trần Chánh Thành làm chủ tịch hội
đồng. Hội đồng chỉ định ra Uỷ ban chỉ đạo tố cộng trung ương, có ban thường trực gồm đại
biểu các bộ Thông ti
n, Công an, Quốc phòng. Nhiệm vụ của uỷ ban chỉ đạo nầy là trực tiếp
chỉ đạo phong trào tố cộng ở các tỉnh, các cơ quan đào tạo cán bộ cho phong trào. Giúp việc
cho uỷ bàn này có các ban tuyên huấn, học tập, kiểm thảo, khai thác có sự phối hợp của các
cơ quan Công an, Công dân vụ, Dân vệ đoàn .
Mỗi tỉnh có một uỷ ban chỉ đạo tố cộng. Mỗi bộ có một uỷ ban chỉ đạo hàng dọc
đư
ợc tiến hành, trọng điểm là các tỉnh miền Trung, nội bộ cơ quan nguỵ quyền, đồng t
hời
triệt hạ cơ sở kinh tế của cộng sản và thanh trừng số cán bộ cầu an của chúng ở cơ sở xã .
Ngà
y 20 - 7-1956, Diệm công khai tuyên bố không thi hành Hiệp định Giơnevơ.
Giai đoạn II tiến hà
nh chiến dịch “tố cộng, diệt cộng ” trên toàn miền Nam, từ tháng
6 -1956 đến tháng 11- 1958 địch thực hiện 4 chiến dịch lớn càn quét các tỉnh m
iền Tây
Nam Bộ, miền Trung Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ và khu vực xung quanh Sài Gòn. Trong
khi đó tại các chiến trường Cực Nam Trung Bộ địch tiếp tục chiến dịch đi vào chiều sâu,
đánh “tận gốc” kết hợp với bắt lính xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố sư đoàn Nùng, tổ
chức bảo an, dân vệ, phát triển đạo giáo, mở chiến dịch vận động người Thượng, lập khu
dinh điền .
Biện phá
p và thủ đoạn địch áp dụng trong các chiến dịch “tố cộng” là bạo lực phản
cách mạng kết hợp lừa mị, lấy bạo lực phản cách mạng làm chính .
Lực lượng vũ trang ba
o gồm quân đội, cảnh sát, bảo an được sử dụng như lực lượng
xung kích mở đường, càn quét đánh phá cả ở nông thôn, thành thị và khu căn cứ, lùng sục
khắp ha
ng cùng ngõ hẻm, triệt hạ xóm làng, tiêu diệt cán bộ cơ sở, yểm trợ và làm lá chắn