NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÙNG NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG THỜI KỲ NỀN KINH TẾ VIỆT NAMCHUYỂN ĐỔI - Pdf 25


1
VNH3.TB2.641
NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÙNG NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG
SÔNG HỒNG TRONG THỜI KỲ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
CHUYỂN ĐỔI

TS. Lưu Thị Tuyết Vân
Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Với vị trí là nền công nghiệp thôn xã, từ xa xưa các nghề truyền thống vùng đồng
bằng sông Hồng (ĐBSH) đã đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hoá phục vụ
sản xuất và đời sống của nhân dân. Trong hơn hai chục năm Đổi mới, nền kinh tế Việt Nam
chuyển dần sang cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các nghề truyền
thống vùng này đã có nhiều biến động. Nhiều nghề mới, mặt hàng mới, làng nghề mới hình
thành góp phần to lớn về kinh tế – xã hội ở nông thôn và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,
đồng thời vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp, nông thôn với những yếu tố tích cực và hạn
chế. Hiện nay, khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề truyền thống còn có những ý kiến
khác nhau. Có người coi nghề truyền thống là nghề cổ truyền, có người căn cứ vào thời gian
tồn tại, số hộ theo nghề và thu nhập từ nghề so với tổng thu nhập trong làng xã nhưng cũng
có người lại quan niệm ngành nghề truyền thống là ngành nghề nông thôn đã được tồn tại
trong một số năm nhất định… Bài viết nhỏ này không đi sâu về mặt khái niệm mà sẽ nêu
lên một số nét cơ bản nhất của những nghề truyền thống vùng nông thôn ĐBSH trong quá
trình chuyển sang cơ chế thị trường, đó là những ngành nghề tiểu - thủ công nghiệp có từ
lâu đời và đã được mở rộng khắp vùng ĐBSH còn tồn tại đến hiện nay, bao gồm cả những
ngành nghề đã được sử dụng máy móc.
1. Vài nét về truyền thống. Theo một nhà nghiên cứu người Pháp
1
thì đến năm 1724
Việt Nam đã có hầu hết các nghề thủ công. Sách Đại Nam nhất thống chí thời Nguyễn cũng
cho thấy sự phong phú của các phẩm thủ công ở vùng ĐBSH: Tỉnh Hà Nội (bao gồm cả tỉnh

làm gốm.
Các nghề truyền thống đã làm nên đặc thù của vùng đất ĐBSH và dệt nên những vần
thơ như:
Ai về Đồng Tỉnh Huê Cầu
Đồng Tỉnh ban thuốc Huê Cầu nhuộm thâm…
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông…
Đồng nát thì về Cầu Nôm…
Sau năm 1954, trong điều kiện hoà bình, các nghề thủ công truyền thống vùng ĐBSH
được phục hồi và phát triển, hàng hoá rất phong phú đủ để cung cấp cho nhu cầu vốn còn
hạn chế của nhân dân sau chiến tranh. Từ năm 1958 trở đi đến năm 1979, công cuộc cải tạo
và phát triển xã hội chủ nghĩa đã chuyển các nghề truyền thống từ sản xuất tự sản, tự tiêu,
thị trường tự do sang cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Hầu hết các cơ sở sản xuất TTCN được
tổ chức vào ba loại hình sản xuất tập thể là HTX TTCN chuyên nghiệp, tổ sản xuất TTCN
chuyên nghiệp và HTX nông nghiệp kiêm doanh. Số liệu năm 1973 cho thấy vùng ĐBSH
có 1.289 HTX TTCN chuyên nghiệp với 269.725 lao động. Về giá trị, các nghề truyền
thống đã chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Trung ương và địa phương
(năm 1973, giá trị sản lượng là 356,9 triệu đồng, chiếm khoảng 50% số HTX, 53,5 tổng số
lao động và 40% giá trị tổng sản lượng của TTCN miền Bắc
4
). Năng lực thực tế còn lớn hơn
nhiều nếu như thành phần cá thể TTCN không bị triệt tiêu, nhiều lao động và nghệ nhân
không phải trở về với sản xuất nông nghiệp. Ví dụ về 36 làng nghề thuộc tỉnh Hải Hưng
(nay là hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên) lúc đó thì có 21 làng được tổ chức vào làm ăn tập 1
Đại Nam nhất thống chí. Tập IV. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, tr.141.
2
Hội đồng nghiên cứu và biên soạn lịch sử tỉnh Hải Hưng. Nghề cổ truyền. Tập II. Sở Văn hoá thông tin Hải Hưng xb.

các quan hệ do cơ chế sinh ra những các nghề truyền thống đã có sự thay đổi theo cách tăng
thêm mặt hàng, tăng số lượng lao động. Chẳng hạn ở tỉnh Hà Sơn Bình (gồm ba tỉnh Hà
Đông, Sơn Tây, Hoà Bình) vào năm 1980 các cơ sở dệt màn, vải lụa, khăn bông đã làm
thêm mặt hàng tre đan xuất khẩu, thảm đay, móc sibôri, len tái sinh. Các cơ sở cơ khí tiêu
dùng đã làm thêm hàng nhôm, nồi chảo gang, kiềng bằng phế liệu. Các cơ sở sơn mài làm
thêm phần mộc và hàng mây song. Một số nơi tổ chức làm thêm mặt hàng xà phòng, nước
chấm… Đến năm 1983, số nghề thủ công ở tỉnh Hà Sơn Bình đã tăng lên 150 nghề so với
124 nghề trong những năm trước đó. Có cuốn sách ở địa phương lúc đó còn cho rằng năm
1980 ở Hà Sơn Bình đã có 164 nghề thủ công và nghề phụ, riêng huyện Phú Xuyên có 96
nghề
4
.
Từ năm 1981, tỉnh có thêm 430 khung dệt khăn bông, sản lượng (1985) là 220 ngàn
cái. Năm 1983, do nhu cầu dệt vải chéo xuất khẩu cho Liên Xô và Tiệp Khác, tỉnh có thêm
1.840 khung dệt với 2.000 lao động. Các cơ sở dệt tập trung ở vùng ven ông Đáy thuộc hai
huyện Mỹ Đức và Ứng Hoà nơi vốn có tới 16 cơ sở dệt truyền thống
5
.

Các tỉnh khác cũng có tình hình tương tự. Huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh (nay
thuộc tỉnh Nam Định) là một huyện chiêm trũng, vào năm 1986-1987 có tới 16 mặt hàng
xuất khẩu, trong đó có sơn mài, mành trúc, mành tăm, thảm len, hàng ren, thảm đay, thảm
bẹ ngô. Huyện Lý Nhân trước đó chỉ có các nghề gạch, ngói, nung vôi, thêu ren, đan lát thì
đến năm 1980 đã có thêmc ác nghề mới như dệt thảm len, thảm đay, thảm bẹ ngô, công cụ 1
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Báo cáo về nền kinh tế Việt Nam. Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc. Hà Nội,
1990.
2

làm tranh, với 50 nghệ nhân và hàng trăm lao động….
Có thể nói các nghề thủ công truyền thống vùng ĐBSH đã được phục hồi và phát
triển từ sau năm 1979 và đây là bước tập dượt để chuyển sang cơ chế thị trường sau năm
1989.
Năm 1989, hệ thống tổ chức Liên hiệp xã Tiểu thủ công nghiệp TƯ và địa phương –
tổ chức quản lý ngành dọc của TTCN Việt Nam giải thể. Cùng thời điểm này, thị trường
truyền thống Liên Xô và các nước Đông Âu không còn. Có thể nói đây là một “cú sốc” đối
với các ngành nghề nông thôn nói chung. Bởi từ đây người sản xuất phải tự lo “đầu vào” và
“đầu ra” cho sản phẩm của mình. Hầu hết các nghề làm các mặt hàng xuất khẩu đã bị chao
đảo. Nhiều làng nghề, hộ thủ công đã phải chuyển sang sản xuất nông nghiệp. Có những hộ
nhận bao tiêu sản phẩm xuất khẩu đã bị phá sản. Từ năm 1989 đến khoảng năm 1994 là thời
gian các chủ sản xuất phải hướng tới thị trường tiêu thụ trong nước và các nước phát triển
mà lúc đó gọi là thị trường “khu vực II - TBCN”. Từ sau năm 1994 đến nay, dưới tác động
của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thị trường xuất khẩu của các
nghề truyền thống ngày càng mở rộng. Ở trong nước, vấn đề lương thực được giải quyết,
đời sống nhân dân ngày càng ổn định tạo sức mua tăng. Cùng với các biện pháp khôi phục
và phát triển ngành nghề của nhà nước và các tỉnh, những yếu tố trên đã làm cho nghề
truyền thống ở cả nước cũng như ở ĐBSH ổn định trở lại và dần dần phát triển.
Có thể nêu lên một số điểm nổi bật dưới đây.

5
2. Mặc dù vẫn còn bị chi phối bởi yếu tố thị trường làm cho sản xuất không ổn định,
số ít nghề bị mai một đi nhưng hầu hết các nghề truyền thống trong vùng ĐBSH vần tồn tại
và lan toả rộng.
Các chỉ số về ngành nghề nông thôn ở vùng ĐBSH thường đạt cao hơn so với các
vùng khác trong nước. Từ năm 1995 đến năm 2000, các tỉnh ĐBSH có 250 ngàn cơ sở công
nghiệp địa phương so với dưới 600 ngàn cơ sở ở cả nước. Riêng tỉnh Hà Tây
1
có 59.395 cơ
sở. Sau Hà Tây là tỉnh Thái Bình nơi có nhiều cơ sở công nghiệp địa phương. Theo Hội
1
Xin vẫn dùng địa danh là tỉnh Hà Tây vì đến 1-8-2008 Hà Tây mới thuộc Hà Nội.

6
Cầu (Thường Tín); nghề da ở Giế Hạ, Giế Thượng, Thương Yên (Phú Xuyên), Lê Dương,
Văn Khê (Thanh Oai); Nghề rèn ở Đa Sỹ (Hà Đông); nghề cơ khí nông cụ ở Phùng Xá
(Thạch Thất); Nghề kim khí ở Dụ Tiền, Gia Vĩnh, Rùa Hạ, Rùa Thượng, Từ Am (Thanh
Oai), Liễu Nội, Nguyên Hanh (Thường Tín), Phú Gia (Phú Xuyên), Thúy Hội (Đan
Phượng); Nhiếp ảnh ở Lai Xá (Hoài Đức); Chế biến chè ở Bùi Thông, Đô Tràm, Cao Lãm,
Đồng Chàm, Trung Sơn, Đồng Dài (Ba Vì); Chế biến nông sản, lương thực, thực phẩm ở
Minh Hồng (Ba Vì), Thép Thượng, Trung Đỉnh, Bá Nội (Đan Phượng), Cát Quế, Dương
Liễu, Minh Khai, Lưu Xá (Hoài Đức), Tân Đô (Phú Xuyên), Hạ Hiệp, Hiếu Hiệp, Linh
Chiểu (Phúc Thọ), Tân Hòa, Cộng Hòa (Quốc Oai), Cự Đà (Thanh Oai); Làm bún bánh ở
Ngự Can, Cao Xá Hạ (Hoài Đức), Hoài Khê Hạ (Phú Xuyên), Kỳ Thủy, Thanh Lương
(Thanh Oai), Thôn Thạch (Thạch Thất), Thượng Đình (Thường Tín), Bặt Ngõ, Bặt Chùa,
Bặt Trung (Ứng Hòa); Làm giò chả ở Ước Lễ, Hoàng Trung (Thanh Oai); Chế biến lâm sản
ở Thôn Hạ, Thôn Trung (Đan Phượng), Canh Hoạch (Thanh Oai); Mây, tre, giang đan ở
Thông Đạt, Đại Phu (Quốc Oai), Trung Cao, Thái Hòa, Nghĩa Hảo, Đồng Trứ, Khê Thanh,
Đồi Ba, Đông Cựu, Khê San, Lam Điền, Phú Vinh, Phù Yên, Yên Kiên, Lũng Vi, Đồi 2, Hạ
Dục, Tiên Lữ, Phú Hữu 1, Phú Hữu 2 (Chương Mỹ), Thôn Trê (Mỹ Đức), Thông Mùi
(Thanh Oai), Bình Xá, Phú Hòa, Thái Hòa (Thạch Thất), Bằng Sở, Đại Lô, Xâm Dương I,
Xâm Dương II, Xâm Dương III (Thường Tín), Đống Vũ, Hoàng Dương, Hoa Đường (Ứng
Hòa); Nghề đan cót nan ở Thế Trụ, Trại Ro, Văn Khê, Văn Quang (Quốc Oai); Làm mũ,
nón lá ở Liễu Châu, Phong Châu, Phú Xuyên (Ba Vì), Văn La, Quan Châu (Chương Mỹ),
Phú Mỹ (Quốc Oai), Chuông, Tri Lễ, Liên Tân, Mã Kiều, Quang Trung, Tân Dân, Tây Sơn,
Tân Tiến, Quế Sơn, Tiên Lữ, Thị Nguyên, Mọc Xá (Thanh Oai); Đan cỏ tế ở Đường La,
Hoàng Xá, Lưu Động, Lưu Thượng, Lưu Xá, Phú Túc, Từ Sản, Trình Viên (Phú Xuyên),
Phí Trạch (Ứng Hòa); Đan guột tế ở Phí Trạch (Ứng Hòa), Trung Lập (Phú Xuyên); Chẻ

sản xuất nghề dệt may của Hà Tây đạt 44 tỷ và 46 tỷ, năm 2003 140 tỷ
2

Tại vùng ngoại thành Hà Nội, theo số liệu điều tra nghề và làng nghề Hà Nội cuối
năm 2003 của nhóm chuyên gia Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội thì hầu
hết 30 xã đều có nghề thủ công nghiệp, trong đó 10 làng nghề có lịch sử hình thành trên 100
năm, 14 làng nghề từ 30 - 100 năm và 6 làng nghề mới hình thành phát triển tập trung vào
các sản phẩm sau: Nghề gốm, sứ có ở Bát Tràng, Kim Lan, Đa Tốn, Văn Đức, Đông Dư
(Gia Lâm); 2. May ở Kiêu Kỵ, ở Phù Đổng, Sài Đồng (Gia Lâm), Cổ Nhuế (Từ Liêm); 3.
Nghề vàng bạc: dát vàng ở Kiêu Kỵ (Gia Lâm); kim hoàn ở Định Công (Thanh Trì); 4. Chế
biến dược liệu ở Ninh Hiệp (Gia Lâm); 5. Làm giò, chả ở Yên Viên (Gia Lâm); 6. Nghề đan
lát: Chổi tre, chổi đót, đan lát ở Dương Quang; làm nón ở Đại Áng (Thanh Trì); đan lồng
bàn ở Liên Ninh (Thanh Trì); đan rổ, rá ở Kim Lũ (Sóc Sơn); làm bàn tre, trúc ở Xuân thu
(Sóc Sơn); 7. Xe đay, dây đay, dây thừng, dây nhựa ở Long Biên (Gia Lâm), Trung Văn (Từ
Liêm); 8. Nghề làm đồ da Kiêu Kỵ (Gia Lâm; 9. Điêu khắc gỗ, khảm trai ở Vân Hà (Đông
Anh); 10. Sơn mài, đồ gỗ phun sơn ở Liên Hà (Đông Anh); Đông Mỹ (thanh Trì) 11. Kim
khí, cán thép ở Dục Tú (Đông Anh); 12. Mây, tre đan ở Đông Hội (Đông Anh), Đông Ngạc
(Từ Liêm) ; Điêu khắc đá ở Mai Lâm (Đông Anh); 13. Tranh tre ở Mai Lâm (Đông Anh);
14. Đậu phụ ở Võng La (Đông Anh), Mỹ Đình (quận Cầu Giấy), Liên Mạc (Từ Liêm); 15.
Dệt thảm ở Cổ Loa, Uy Nỗ (Đông Anh); 16. Nghề chế biến lương thực, thực phẩm: làm
bún ở Mễ Trì (Từ Liêm), Hoàng Liệt (Thanh Trì); làm cốm ở làng Vòng (quận Cầu Giấy),
làng Mễ Trì (Từ Liêm); làm bánh cuốn (Thanh Trì), bánh khúc ở Duyên Hà (Thanh Trì),
làm bánh đa, miến ở Hữu Hoà (Thanh Trì); 17. Làm bánh kẹo ở Xuân Đỉnh (quận Tây Hồ);
Đại Kim (Thanh Trì); 18. Rèn ở Xuân Phương (Từ Liêm); gò, hàn ở Tây Mỗ (Từ Liêm); 19.
dệt ở Đại Mỗ (Từ Liêm); dệt lông vũ, ăng ten ở Tân Triều (Triều Khúc, Thanh Trì); 21.
Làm vàng mã ở làng Ngũ Hiệp, làng Thịnh Liệt (Thanh Trì), làng Cót, phường Yên Hoà
(quận Cầu Giấy)
3
.


ưng Hà); nghề làm nón ở Thuỵ trình (Thái Thuỵ)
1
.
Có các nghề mới nh nghề làm lông mi
giả ở huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy nghề làm lưỡi câu cũng ở huyện Quỳnh Phụ và
huyện Thái Thụy. Nghề truyền thống đã tạo việc làm cho hơn 350.000 lao động, chiếm hơn
1/4 lực lượng lao động trong tỉnh. Riêng khu vực làng nghề đã tạo ra giá trị sản xuất tiểu thủ
công nghiệp 1.266 tỷ đồng, chiếm hơn 75% giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp
của toàn tỉnh. Nhiều xã, giá trị sản xuất làng nghề đã chiếm hơn 50% tổng giá trị toàn xã,
giải quyết việc làm cho nhiều lao động địa phương và vùng lân cận.
Tỉnh Bắc Ninh hiện vẫn có nghề khảm trai ở Đồng Kỵ, tranh Đông Hồ (còn ba gia
đình nghệ nhân và một số ít gia đình khác), rượu Làng Vân, giấy gió Yên Phong, sơn mài
Tiên Sơn, đúc đồng Gia Lương, sắt thép Châu Khê, gốm sứ ở Phù Lãng (Quế Võ), Thị Cầu
(Thị xã Bắc Ninh), dệt nhuộm in hoa ở Tương Giang (Từ Sơn), Hoài Thượng, Song Hồ
(Thuận Thành), Cao Đức (Gia Bình), nhôm Yên Phong, tơ tằm ở Nội Duệ (Tiên Du), Vọng
Nguyệt (Yên Phong), thêu ren ở xã Đại Lại (Gia Bình), xây dựng ở Nội Duệ (Tiên Du), bún
bánh Mỹ Độ, khảm trai ở Đình Bảng, tranh tre - sản phẩm mới ở Xuân Lai (huyện Gia
Bình) Theo số liệu của Báo Nông thôn ngày nay, đến năm 2001, toàn tỉnh Bắc Ninh có 58
làng nghề, 25 ngàn hộ chuyên nghiệp và hàng chục ngàn hộ không chuyên nghiệp sản xuất
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Tỉnh Ninh Bình cũng rất phong phú các nghề truyền thống. Chỉ tính riêng huyện Yên
Mô có tới 11 làng nghề làm các nghề dệt vải, dệt chiếu, làm mộc, làm nề, khai thác đá, chế
biến lương thực, thực phẩm (nem, giò trứng, làm bún…). Huyện Yên Khánh có các nghề
như mây tre đan, nứa chắp, hàng cói xuất khẩu. Huyện Hoa Lư nổi tiếng với nghề thêu, ren,
làm đồ đá mỹ nghệ. Hàng thêu và hàng đá mỹ nghệ của Văn Lâm (xã Ninh Hải) đã nổi tiếng 1
Phát triển nghề và làng nghề ở Thái Bình thực trạng và giải pháp. Con số và sự kiện số tháng 6-2002.


bạc ở Kiêu Kỵ (Gia Lâm, Hà Nội), nghề rèn liềm, hái thủ công… Tại Thái Bình những nghề
đang bị mai một hoặc bị thu hẹp như đan võng đay, nghề mộc ở làng Vế, làng Diệc (Hưng
Hà), nghề đúc đồng ở làng An Lộng (Quỳnh Phụ), nghề lụa ở làng Bộ La (Vũ Thư), nghề
chạm bạc ở làng Kim Lậu (Đông Hưng), nghề mây tre đan ở làng Cổ Rồng (Tiền Hải), nghề
ươm tơ ở làng Thái Hòa (Thái Thụy)
Trước sự biến động của cơ chế thị trường chỉ còn số ít những cơ sở, làng nghề làm
những mặt hàng cổ truyền còn hầu hết các cơ sở, làng nghề khác đều phải làm thêm những
mặt hàng mới để tăng thu nhập và tồn tại. 1
Khuyến công ở Vĩnh Phúc giai đoạn 2006-2010. Tài liệu Internét. Trang Công nghiệp địa phương.

10
Làng gốm Bát Tràng đầu những năm 90 đã từng sản xuất thêm mặt hàng mới là sứ
xây dựng và gạch men tiêu thụ chủ yếu ở thị trường miền Trung và Nam Bộ. Hàng chục
năm lại đây, Bát Tràng đã cải tiến lò nung và mẫu mã phù hợp với từng loại thị trường trong
nước và có thị trường nước ngoài, nhờ đó nghề gốm sứ phát triển rất sầm uất lan rộng sang
4 làng, xã khác vơi hàng chục ngàn lao động, hàng vài chục công ty lớn.
Làng Lịch Động thuộc xã Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình vốn có là
mộc, khảm, sơn mài, sơn son thiếp vàng Trong thời kỳ bao cấp Lịch Động phải chuyển
sang làm mặt hàng như bút máy nhãn hiệu Trường Sơn. Từ cuối những năm 80 đến nay,
Lịch Động làm kính mắt với sản lượng mỗi ngày hàng vạn chiếc.
Nghề làm kẹo bán ở làng la Phù, huyện Hoài Đức (Hà Tây) có sản lượng khoảng
6.800 tấn với doanh thu 48,7 tỷ đồng (2002). Nhưng do không cạnh tranh được với kẹo
Trung Quốc nhập ồ ạt vào Việt Nam nên người La Phù chuyển dần sang sản xuất quần áo
len xuất khẩu và tiêu thụ trong nước.
Nghề làm đồ mỹ nghệ bằng sừng trâu, sừng bò ở làng nghề Thụy Ứng (Thường Tín,
Hà Tây) vốn có từ thế kỷ 19 là một trong những làng vẫn còn duy trì nghề cho đến hiện
nay. Năm 2003, cả làng có 98% hộ sống chủ yếu bằng nghề làm đồ sừng.

Báo Nông thôn Ngày nay, nguyệt san, 9-2001.

11
Trong tiêu thụ sản phẩm, các nghề truyền thống có xu hướng di chuyển ra thành thị
nhất là các thành phố lớn và nước ngoài bằng các hình thức đặt cơ sở sản xuất, mở đại lý
bán hàng, xuất khẩu lao động… Ví dụ, phố La Thành Hà Nội là nơi đặt cơ sở sản xuất của
nghề mộc thuộc nhiều tỉnh trong vùng Nam Định, Thái Bình, Hà Tây, các huyện ngoại
thành Hà Nội. Hàng thêu của làng Quất Động (Hà Tây), Xuân Phương (Nam Định) và một
số tỉnh khác đã tiêu thụ ở phố Hàng Quạt, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Ngang, Hàng Đào,
Hàng Trống, (Hà Nội) gồm áo dài, áo ngắn thời trang, khăn phủ bàn thờ, bàn lễ, bàn ăn, ga
trải giường, cờ phướn, trướng lọng Riêng hàng thêu Xuân Phương (Xuân Trường, Nam
Định) thường có đường ren rua bô-đê rất hợp với khách phương Tây. Có thể tìm thấy hiệu
may và thợ may áo dài của làng Trạch Xá (Hà Tây) ở thành phố Hà Đông và phố Lương
Văn Can, phố Cầu Gỗ (Hà Nội). Hàng đúc đồng ở của làng Lộng Chương (Hưng yên) được
ký gửi chủ yếu tại đại lý trên phố Hàng Đồng - Hà Nội. Hàng khảm trai của Chuyên Mỹ
được ký gửi tại các phố Hàng Gai, Hàng Lược (Hà Nội) và thông qua sự quảng bá du lịch
đã được xuất đi các nước và lãnh thổ Mỹ, Libi, Đức, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Séc,
Xlôvakia, Đài Loan Kể cả những nghề chế biến thực phẩm như làm đậu phụ, làm bún,
bánh cuốn, bánh gai… ở một số làng cũng hành nghề tại các đô thị và nhiều nhất là Hà Nội.
Vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm, mỗi gia đình ở làng Sâm Dương, xã Ninh Xá, huyện
Thường Tín (Hà Tây) gói tới 400-500 kg gạo nếp làm bánh chưng. Cả làng tấp nập suốt
đêm để kịp cung cấp hàng cho Hà Nội vào sáng sớm hôm sau. Thợ giỏi có thể gói 500 chiếc
bánh một ngày. Làng Chanh Khúc (xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội) cũng vậy.
Nhiều gia đình thu nhập được 40 - 60 triệu đồng lợi nhuận từ gói bánh chưng, riêng vào dịp
Tết, thu được 20 - 30 triệu. Thợ gói bánh chưng ở hai làng này còn được “xuất khẩu lao
động” ra Hà Nội. Một số cơ sở sản xuất bánh chưng Tết ở Hà Nội thường gói khoảng trên
dưới 2.000 chiếc bánh/ngày và năm nào cũng phải thuê thợ của các làng này. Vào những
năm đầu thập kỷ 90, làng Sơn Đồng luôn có một đội khoảng 30 người thợ thường xuyên đi
làm hợp đồng cải tạo, trùng tu cung đình Huế.
Hình thức quảng bá sản phẩm thông qua du lịch làng nghề đã bước đầu được áp dụng

thôn đã tăng cường việc áp dụng các công nghệ sử dụng nhiên liệu mới, góp phần cải thiện
điều kiện làm việc, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, đồng thời giảm thiểu
ô nhiễm môi trường, như dùng ga thay than trong sản xuất đồ gốm, sứ… Trong 4 năm 2001-
2004, trên địa bàn cả nước đã có hàng nghìn lao động tại các làng nghề được tập huấn, đào
tạo, đặc biệt là lao động trong các nghề thủ công mỹ nghệ, hình thành đội ngũ thợ thủ công
trẻ có tay nghề và có kiến thức quản lý doanh nghiệp. Từ đó xuất hiện hiện tượng là ở đâu,
cơ sở nào có sự đầu tư lớn về mọi mặt thì ở đó làm ăn ngày càng phát triển. Nhiều doanh
nhân, “tỷ phú” có xuất thân từ sản xuất ngành nghề truyền thống đã xuất hiện.
Ví dụ, nghề cơ khí ở xã Châu Khê (thuộc huyện Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh), một
trung tâm sản xuất thép lớn hình thành từ nghề cơ khí ở làng Đa Hội. Vào năm 2000, cả xã
có khoảng 560 hộ sản xuất thép, mỗi hộ có ít nhất 1 - 2 máy cán thép, hộ nhiều có 5 - 7
máy. Người ta tính rằng mỗi hộ sản xuất 4 tấn/ngày thì mỗi năm Châu Khê tung ra thị
trường từ 700 - 800 ngàn tấn thép. Mỗi ngày, ngoài việc giải quyết lao động trong xã, Châu
Khê còn thu hút từ 2.000 - 2.500 lao động ở các nơi khác đến làm thuê. Trước yêu cầu mở
rộng quy mô sản xuất, từ tháng 6-1999, người ta bắt đầu trình Dự án "Cụm công nghiệp
làng nghề sản xuất thép xã Châu Khê" với Chính phủ. Cuối tháng 9-2000, Thủ tướng Chính
phủ ra Quyết định số 925 giao 13,5 ha đất nông nghiệp trên địa bàn xã cho Ban Quản lý Dự
án. Cụm công nghiệp làng nghề (CNLN) xã Châu Khê được xây dựng không chỉ là cụm
CNLN đầu tiên được xây dựng ở Từ Sơn - Bắc Ninh mà còn là cụm CNLN đầu tiên của cả
nước. Sau Châu Khê, nhiều cụm CNLN ở vùng ĐBSH đã ra đời, một hướng đi mới của các
nghề truyền thống.
Trong điều kiện chưa có Cụm CNLN, một số cơ sở lớn nhất là các CTTN, CTTNHH
đã tiến hành thuê mặt bằng tại địa phương khác. Trường hợp công ty TNHH Thiên Phước
(Bát Tràng) là một ví dụ. Thiên Phước là một doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư 5 tỷ đồng và
thuê đất tại xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên để xây dựng nhà máy sản
xuất sứ với tổng diện tích 9.500 m
2
, công suất đạt 20 triệu sản phẩm/năm. Đến năm 2004,
nhà máy của công ty Thiên Phước bắt đầu sản xuất. Sản phẩm sứ của Thiên Phước có màu
men đặc trưng đỏ máu bò, men kết tinh, men caladon, giả cổ, men rạn là do biết kết hợp

động, mỗi xưởng sản xuất lớn có 12 - 15 máy. Có 75% số hộ sản xuất phụ tùng xe máy, 5%
số hộ làm dịch vụ cho các xưởng.
Làng rèn Lý Nhân (Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc) phục hồi được nghề rèn là nhờ nhanh
chóng áp dụng khoa học vào sản xuất, từng bước cơ khí hóa, tăng năng suất và giảm nhọc
nhằn cho người lao động. Các hộ đã trang bị máy mài (máy rèn), máy cán thép, máy cắt gọt
kim loại, máy búa có khả năng thay thế 100 - 200 sức người
3
.
Làng đúc đồng Đại Bái thuộc xã Đại Bái, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh cũng là
một ví dụ về sự cần thiết phải áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất trong nghề truyền
thống. Những năm cuối 80 nghề đúc đồng lâm vào cảnh khó khăn dân làng phải chuyển
sang sản xuất hàng loạt các mặt hàng bằng nhôm như xoong, khay đựng ấm chén, vỏ phích,
phin pha cà phê Cả làng có tới 700/1.200 hộ sản xuất các mặt hàng nhôm. Một số gia đình
có vốn đã mua máy cán nhôm và máy miết cải thiện điều kiện lao động. Nhưng máy loại
nhỏ này năng suất thấp, sản phẩm thiếu độ nhẵn bóng do có vết búa nên khó tiêu thụ. Nhiều 1
Thời báo Kinh tế Việt Nam số 133, 20-8-2004.
2
Báo Khoa học và Đời sống số 7-1364, từ 12-2 đến 18-2-2001.
3
Báo Diễn đàn Doanh nghiệp số 94 ra ngày 24-11-2006.

14
gia đình lại phải tiến hành đổi mới thiết bị, sắm những cỗ máy dập cỡ lớn (máy kích thủy
lực) giá tới hàng trăm triệu đồng.
Làng Dương Ổ, xã Phong Khê, huyện Yên Phong (Bắc Ninh), ngoài việc thay đổi
thiết bị công nghệ làm giấy còn biết thu hút “chất xám”. Cả làng có đến hàng chục công
nghệ của Đài Loan (3 tỷ đồng). Ngoài 80% số hộ (trong số 350 hộ), gần 200 doanh nghiệp

Tính đến năm 2000, chỉ tính trong 62 làng nghề ở Bắc Ninh đã có 72 công ty trách
nhiệm hữu hạn (TNHH), doanh nghiệp tư nhân (DNTN), 196 HTX kinh doanh và sản xuất
thu hút trên 12.000 hộ với gần 60.000 lao động. Giá trị sản xuất đạt 560 tỷ đồng chiếm 75%
giá trị công nghiệp ngoài quốc doanh và 28% giá trị sản xuất công nhiệp toàn tỉnh. Ở làng
nghề Đồng Kỵ (Đồng Quang, Từ Sơn) có 15 công ty TNHH, 3 DNTN và 53 HTX thu hút 1
Báo Tuổi trẻ cuối tuần số 38, 24-9-2006.

15
3.000 lao động tại chỗ và hơn 2.000 lao động các địa phương. Các doanh nghiệp còn mở
230 cửa hàng bán sản phẩm ở Trung Quốc. Đã có sự liên kết với làng Đa Hội sản xuất thép
xuất khẩu sang Lào, rồi nhập khẩu gỗ từ Lào về nước.
Nghề mộc ở làng Đông Giao thuộc huyện Cẩm Giàng (Hải Dương) chuyên sản xuất
đồ mộc cao cấp, kết hợp kỹ thuật thủ công và máy móc hiện đại cũng ngày càng xuất hiện
nhiều chủ tư nhân lớn như gia đình ông Vũ Xuân Tàu, Vũ Đình Mạch, Vũ Văn Thông, Vũ
Văn Còi
Nghề làm đồ da ở làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm (Hà Nội) cũng xuất hiện nhiều chủ
tư nhân, tiêu biểu là Công ty TNHH Ladoda của ông Đinh Quang Bào. Công ty được thành
lập năm 1992 tiếp nối nghề may da truyền thống của cha ông để lại. Sản phẩm chính là các
loại cặp, túi, ví, giày dép, đồ dùng bằng da và giả da. Đến năm 2000, công ty đã có cơ sở
hơn 2.500 m
2
nhà xưởng sản xuất gồm 4 dây chuyền công nghệ hiện đại của Nhật, Đức, hơn
200 thợ lành nghề không kể những hộ làm vệ tinh. Công ty đã luôn chú trọng đến việc nâng
cấp đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại. 75% sản phẩm của công ty làm theo đơn đặt hàng
trong nước với hệ thống đại lý có ở các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên, Nghệ An, Hải D-
ương… Số còn lại xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường nước ngoài như Nhật, Đức, Italia,
Hàn Quốc, Đài Loan với các mặt hàng chủ yếu là ba lô, cặp học sinh, ca táp công chức,

đồng/năm. Làng Phương La có 90 hécta ruộng hàng năm phải thuê tới 14.000 công lao động
của các làng phụ cận đế cầy cấy, giữ ruộng. Đến năm 2006, làng Phương La có 5 doanh
nghiệp lớn doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm. Công ty sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu
Hương Sen, do nghệ nhân dệt Trần Văn Sen
1
làm Tổng Giám đốc hàng năm công ty thu hút
6.000 lao động tại chỗ và 1.500 lao động là cán bộ nhân viên tiếp thị trên thị trường cả n-
ước. Từ năm 1996, Công ty sản xuất bia đen Beyker (nay là bia Đại Việt) bằng thiết bị công
nghệ của Cộng hoà Liên bang Đức. Hiện nay bia “Đại Việt” có công suất 50 triệu lít/năm và
là một trong 84 thương hiệu mạnh Việt Nam. Mỗi năm Công ty nộp ngân sách từ 51 - 80
tỷ đồng. Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh, do ông Lê Minh Hiệu làm
Tổng Giám đốc, kinh doanh nước khoáng Vital, thu hút trên 1.000 lao động, doanh số nhiều
trăm tỷ đồng/năm. Hiện tại, công ty vẫn kinh doanh nghề dệt tại làng với trên 200 lao động.
Doanh nghiệp “Xí nghiệp dệt Hồng Quân”, trụ sở tại thành phố Thái Bình do ông Đinh
Hồng Quân làm giám đốc, thu hút 2.000 lao động, mỗi năm sản xuất hàng ngàn tấn sản
phẩm xuất khẩu và tiêu thụ trong nước. Công ty dệt nhuộm xuất khẩu Thành Công do ông
Trần Văn Ứng làm giám đốc có 240 máy dệt và 400 máy khâu với 1.600 lao động chuyên
sản xuất khăn bông các loại, tổng sản phẩm trên 1.500 tấn/năm, trong đó 95% sản phẩm
xuất khẩu. Công ty xuất khẩu Thăng Long do ông Trần Văn Hương làm giám đốc, có 200
máy dệt và 350 máy khâu với 1.550 lao động, chuyên sản xuất khăn bông các loại để xuất
khẩu. Công ty có dây chuyền sợi, tẩy nhuộm hiện đại. Tổng sản phẩm trên 1.000 tấn/năm
trong đó 95% sản phẩm xuất khẩu. Ngoài những doanh nghiệp nhỏ tại làng, năm 2006, Phư-
ơng La còn có 80 hộ đang làm nghề dệt và tiêu thụ sản phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh có
doanh thu trên một tỷ đồng/năm
2

Một vài nét khắc hoạ như trên đã cho thấy vùng ĐBSH vẫn là nơi tồn tại hết sức
phong phú các nghề thủ công truyền thống. Các nghề truyền thống đã ngày càng được nhân
rộng ra nhiều làng xã vốn xưa là làm nông nghiệp. Ngoài sự đóng góp quan trọng trong kinh
tế, các nghề truyền thống đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho rất đông lao động

xoan ở bên trong, sơn màu bên ngoài. Chỉ vài tháng sau sử dụng những pho tượng này sẽ
nứt dần ra, thậm chí có thể bong tróc hoàn toàn lớp sơn phủ ngoài. Hoặc nếu không tinh,
khách hàng có thể mua phải tượng bằng gỗ mít đục trơn, sau đó được dán hoa văn bằng keo
công nghiệp chứ không được gắn bằng sơn sống, nhưng với giá là tượng liền hoa văn. Sau
một thời gian những hoa văn này sẽ bị bong ra. Hay hiện tượng làm long nhãn giả bằng vẩy
hành tây và vỏ cà chua ở Hưng Yên làm ảnh hưởng đến thương hiệu mặt hàng quý giá này.
Nhiều nơi đã kết hợp du lịch thăm nghề truyền thống nhưng du khách nhiều khi đã mua phải
hàng nhái, hàng giả với giá đắt.
Trải qua quá trình lịch sử các nghề truyền thống dựa trên cơ sở hạ tầng nông nghiệp,
nông thôn thấp kém. Cho đến nay, cơ sở hạ tầng vùng ĐBSH đã được cải thiện nhưng
không đồng bộ đặc biệt đối với các làng nghề, vùng nghề làm ảnh hưởng đến môi trường
sống của người dân. Cụ thể là đường sá chật chội, cống rãnh ngập ngụa nước thải hôi thối
độc hại, khói bụi… Rõ ràng nhất là các làng chế biến thực phẩm, làm đồ sừng, làm gốm,
dệt… Ví dụ, nguồn nguyên liệu cung cấp cho làng nghề Thụy Ứng chủ yếu từ các lò mổ
trâu, bò ở Thanh Oai (Hà Tây) và một số tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định. Cách chế
biến nguyên liệu từ da trâu, bò vẫn giữ nguyên cách cổ truyền. Sừng trâu, bò phải ngâm từ 7
- 15 ngày cho tới khi thịt thối rữa. Da trâu, bò phải ngâm muối cho đến khi hết thịt, săn da.
Người ta xếp nguyên liệu trong các bao tải dứa trong suốt những ngày muối, để lăn lóc
trong sân, ngoài vườn. Bể ngâm tại các gia đình thường được xây gần khu công trình phụ
thiếu đường thoát nước kiên cố và không được che chắn cẩn thận. Không khí trong làng lúc

18
nào cũng nồng nặc mùi thịt trâu bò thối rữa làm ô nhiễm cả nguồn nước ngầm trầm trọng
làm tăng số người mắc bệnh hô hấp
1
.
Tại làng Bát Tràng cho đến năm 2007 vẫn còn tới 300
lò gốm thủ công, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng… Tính sơ bộ huyện Từ Liêm,
ngoại thành (Hà Nội) có tới 8 xã/13 xã có vấn đề môi trường nổi cộm. Đây là những xã chế
biến thực phẩm, gia công đồ nhựa (làng Xuân Đỉnh làm bánh kẹo, làng Mễ trì làm bún, sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status