TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÀI TIỂU LUẬN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH
Giảng viên : TS. Mai Thu Hiền Nhóm thực hiện: 03
Lớp: Cao học TCNH 19A
1. Hà Thị Tốt - 80
2. Vũ Phương Thảo - 75
3. Ngô Tú Oanh - 59
4. Đỗ Thu Thủy - 77
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI TRONG KINH
DOANH 6
I. CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH (DERIVATIVES) 6
1. Khái niệm: 6
2. Các sản phẩm hàng hóa phái sinh 6
II. HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI ( FUTURES CONTRACT) 7
1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích sử dụng hợp đồng tương lai: (Futures Contract) 7
4. Lợi ích của hợp đồng tương lai 10
5. Các rủi ro khi tham gia giao dịch hợp đồng tương lai 11
CHƯƠNG II – ỨNG DỤNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO
DO BIẾN ĐỘNG GIÁ CÀ PHÊ TẠI CÔNG TY FONEXIM HỒ CHÍ MINH 12
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY FONEXIM HCM 12
II. QUY TRÌNH GIAO DỊCH HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI CỦA CÔNG TY 13
III. GIAO DỊCH BUÔN BÁN CÀ PHÊ BẰNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI: 17
1. Tiềm năng sản xuất và tiêu thụ cà phê 17
Việt Nam xuất khẩu được 1,2 triệu bao cà phê (loại 60kg) trong tháng 8 năm 2013, thấp
hơn so với mức 1,48 triệu bao của tháng 7 và giảm khoảng 14% so với cùng kỳ năm 2012,
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
3
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
PHẦN MỞ ĐẦU
Cho đến nay, cà phê vẫn luôn giữ vài trò là một trong những ngành hàng xuất
khẩu chủ lực của nước ta. Tuy nhiên, trong những năm qua, việc phát triển ngành cà
phê khá bấp bênh. Tính chất giá cà phê của nước ta là phụ thuộc vào giá cả của thị
trường thế giới, chỉ một vụ rớt giá mạnh cũng khiến cho người trồng cà phê và các nhà
kinh doanh cà phê gánh chịu rủi ro lớn, có khi dẫn đến phá sản.
Chính vì vậy trên thế giới, để bảo hộ giá cả cho nhà sản xuất xuất khẩu nông
sản, các nước thường sử dụng thành công một biện pháp là xây dựng thị trường giao
dịch hợp đồng tương lai hàng hóa nông sản để các chủ thể có thể là nhà sản xuất, xuất
khẩu nông sản tham gia giao dịch để san sẻ rủi ro về giá cả hàng hóa cho đối tác khác
trên thị trường đó và cho thị trường quốc tế. Các hợp đồng này thực hiện thông qua
các trung tâm giao dịch hàng hoá tập trung lớn như tại Luân Đôn (LIFFE), New York
(NYBOT). Vì vậy không lý do gì Việt Nam không áp dụng hình thức này khi mà sự
phát triển sản phẩm giao dịch cho các hàng hoá Việt Nam là điều tất yếu và cần thiết
tương ứng với giai đoạn phát triển kinh tế và hội nhập hiện nay.
Sự biến động bất thường của giá các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam nói chung
và ngành hàng cà phê nói riêng đã ảnh hưởng đến sự tình hình kinh doanh của toàn
ngành cũng như Công ty FONEXIM Hồ Chí Minh, đặt ra yêu cầu bức thiết đó là cần
có những công cụ bảo hiểm trong kinh doanh, đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu
dài và hình thức mà công ty đã và đang áp dụng đó là sử dụng hợp đồng tương lai
(Futures Contract) để phòng ngừa rủi ro về giá.
Trước khi tham gia giao dịch này, FONEXIM Hồ Chí Minh chỉ thực hiện các
hợp đồng uỷ thác từ những đối tác đã có sẵn nguồn hàng, các đối tác này gửi hàng cho
công ty nhờ công ty thực hiện xuất khẩu thu trước 70% tiền hàng và sau khi chốt giá
Phần II: Ứng dụng hợp đồng tương lai để phòng ngừa rủi ro biến động giá cà
phê tại Công ty Fonexim Hồ Chí Minh
Phần III: Đề xuất giải pháp trong việc sử dụng hợp đồng tương lai để phòng
ngừa biến động giá cà phê tại Công ty.
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luận của nhóm em
không tránh khỏi những sai sót. Chúng em mong nhận được ý kiến đóng góp của cô
giáo để bài tiểu luận hoàn thiện hơn!
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2013
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
5
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI
TRONG KINH DOANH
I. CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH (DERIVATIVES)
1. Khái niệm:
Công cụ tài chính phái sinh được hiểu là những công cụ được phát hành trên cơ
sở những công cụ tài chính đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác
nhau như phân tán rủi ro tiềm ẩn, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo ra lợi nhuận của các giao
dịch được chia sẻ cho các bên. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng
nhiều giá trị các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu hoặc để đảm bảo rằng nếu
giá cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ
được duy trì ở mức ban đầu.
Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại
các chứng từ tài chính như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn.
Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng nhưng có bốn công cụ chính là
Hợp đồng kỳ hạn (Forwards Contract), Hợp đồng tương lai (Futures Contract), Hợp
đồng quyền chọn (Options Contract) và Hợp đồng hoán đổi (Swaps Contract).
2. Các sản phẩm hàng hóa phái sinh
cho nhau vào một ngày nhất định một số lượng nhất định đồng tiền của một quốc gia A để
lấy một số lượng nhất định đồng tiền của quốc gia B đã được quy đổi theo tỷ giá ngoại tệ
hiện tại trong một thời hạn xác định, với điều hứa hoàn lại vốn khi đến kỳ hạn.
(Theo www.wikipedia.org)
II. HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI ( FUTURES CONTRACT)
1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích sử dụng hợp đồng tương lai: (Futures
Contract)
1.1 Khái niệm:
Hợp đồng tương lai là một hợp đồng được tiêu chuẩn hoá, được giao dịch trên
thị trường giao dịch hợp đồng tương lai để mua hay bán một số loại hàng hoá nhất
định, ở một mức giá nhất định, vào một ngày xác định trong tương lai. Ngày trong
tương lai đó gọi là ngày giao hàng, hay ngày thanh toán cuối cùng. Giá được xác định
ngay tại thời điểm kí hợp đồng được gọi là giá tương lai (Futures Price), còn giá của
hàng hoá đó vào ngày giao hàng là giá quyết toán. Dù cho thời điểm giao hàng, giá
hàng hóa trên thị trường có biến động theo chiều hướng nào chăng nữa thì giá bán theo
hợp đồng tương lai vẫn không thay đổi. Do vậy, hợp đồng tương lai được coi là công
cụ phòng ngừa rủi ro không chỉ cho các nhà xuất khẩu, cho người sản xuất mà cho cả
các nhà nhập khẩu.
1.2 Đặc điểm:
Hợp đồng tương lai (HĐTL) có nhiều đặc điểm riêng biệt, không có ở các hợp
đồng khác. Dựa vào định nghĩa và thực tiễn, HĐTL có thể được chia thành các đặc
điểm chính sau:
• Các điều khoản trong HĐTL được tiêu chuẩn hóa.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
7
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
• Là hợp đồng song vụ, cam kết thực hiện nghĩa vụ trong tương lai.
• Được lập tại Sở Giao Dịch (SGD) qua các cơ quan trung gian.
• Phải có tiền bảo chứng và đa số các HĐTL đều được thanh lý trước thời hạn.
giữa giá giao ngay và giá tương lai.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
8
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
3. Cơ chế vận hành của giao dịch hợp đồng tương lai
Để giao dịch futures, cần đặt một lệnh bán hoặc mua một hàng hoá nào đó vào
một ngày cụ thể trong tương lai - ví dụ như lúa mỳ tháng 10, thịt lợn tháng 12, hay
đồng Eurodollar tháng 6. Giá cả sẽ được quyết định khi giao dịch trên sở giao dịch
nào cung cấp thị trường giao dịch futures cho hàng hoá đó.
Ví dụ: Cà phê Rosbuta giao dịch trên sàn Luân Đôn (LIFFE), cà phê Abarica
trên sàn New York (NYBOTT).
Chi phí của hợp đồng sẽ là giá trị của hàng hoá đó khi giao hàng. Nhưng giá mua
hợp đồng thì chỉ bằng một tỷ lệ nào đó (2% đến 10%, tuỳ thuộc vào ai là khách hàng)
của tổng giá trị hợp đồng. Giá này sẽ được thanh toán như một khoản cược đảm bảo, gọi
là tiền cược tối thiểu (Initial Margin).
Ví dụ: một hợp đồng cung cấp 5.000 giạ lúa mỳ có trị giá 17.500$ nếu giá lúa
mỳ là 3,5$ một giạ thì khoản tiền cược đặt ra sẽ vào khoảng 1.750$.
3.1 Đánh giá trạng thái hàng ngày
Khi một lệnh đã có người đáp ứng thường thì hợp đồng sẽ được đưa vào một
quỹ vốn (pool) trong ngân hàng của sở giao dịch cùng với tất cả các lệnh đã khớp
khác. Người mua và người bán sẽ được ghép cặp tương ứng với nhau một cách kín
đáo. Do các hợp đồng thường được giao dịch liên tục, quá trình ghép cặp sẽ luôn luôn
diễn ra.
Mọi vị trí của người giao dịch tương lai đều được theo dõi và ghi nhận trên thị
trường hằng ngày. Quy trình này đôi khi được gọi là tái thanh toán hằng ngày (Daily
Resettlement). Nghĩa là, lãi hay lỗ sẽ được ghi nhận hằng ngày. Việc nhận biết lãi và
lỗ dựa vào giá thanh toán hằng ngày vào giá tại thời điểm đóng cửa của ngày giao dịch
(giá tương lai lúc đóng cửa). Nếu tiền trong tài khoản dưới mức duy trì thì phải gửi
tiền vào tài khoản để đưa về khoản ký quỹ ban đầu.
bù trừ, thông qua một hay nhiều các hợp đồng khác có tính chất ngược lại.
3.4 Giảm các rủi ro giao dịch
Một trong những kỹ thuật được những người giao dịch thường xuyên sử dụng
nhằm giảm bớt rủi ro bị thua lỗ quá nhiều tiền mỗi khi thị trường có biến động nhẹ là
chiến lược giao dịch dự phòng (Spread Trading), mặt khác, chiến lược này sẽ hạn chế
bớt những lợi ích mà họ có thể thu được.
Về cơ bản, chiến lược này có nghĩa là mua một hợp đồng cùng lúc với bán một
hợp đồng khác cùng cung cấp một loại hàng hoá. Thường thì một hợp đồng sẽ có lãi
còn hợp đồng kia thì thua lỗ. Điểm mấu chốt để cuối cùng có thể thu được lợi nhuận là
có được một khoản dự phòng (Spread), hay nói cách khác là khoản chênh lệch giá
giữa hai hợp đồng. Ví dụ, nếu bạn mất tiền trong một hợp đồng bán nhưng lại thu
được tiền trong một hợp đồng mua, chênh lệch giữa hai giá này chính là khoản dự
phòng. Nếu đó là 5 cent trong dự kiến của bạn, thì bạn đã thu được 250$ trên hợp đồng
đó. Nếu 5 cent đó trái với dự kiến của bạn, 250$ chính là khoản bạn sẽ bị lỗ.
4. Lợi ích của hợp đồng tương lai
− Công cụ phòng ngừa rủi ro giá cả.
− Phòng ngừa rủi ro chi phí đầu vào.
− Ổn định lợi nhuận và kế hoạch kinh doanh sản xuất.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
10
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
− Gắn hoạt động kinh doanh sát hơn với thị trường quốc tế.
5. Các rủi ro khi tham gia giao dịch hợp đồng tương lai
Bên cạnh những lợi ích mà hợp đồng tương lai mang lại thì bên trong nó cũng
tiềm ẩn mức độ rủi ro khá cao vì giao dịch hợp đồng tương lai không thích hợp với rất
nhiều đối tượng cá nhân và thể nhân. Các doanh nghiệp cần phải cân nhắc và sự phù
hợp của loại giao dịch này đối với tổ chức.
Các rủi ro bao gồm:
Tình trạng biến động giá cả hiện nay rất phức tạp ảnh hưởng rất lớn đến lợi
Tên doanh nghiệp: CHI NHÁNH CÔNG TY THỰC PHẨM MIỀN BẮC
Tên doanh nghiệp quốc tế : The Northern Foodstuff Company - HCM Branch.
Tên giao dịch: FONEXIM HCM
Địa chỉ: 64 Bà Huyện Thanh Quan, phường 7, quận 3, TP.HCM
Điện thoại: 083.9327588 – 083.9325450
Fax: 083.9322161
Giấy ĐKKD số: 4116000944
Hình thức sở hữu vốn: Doanh nghiệp Nhà Nước.
Tiền thân của chi nhánh là Công ty Thực phẩm và Dịch vụ tổng hợp. Đây là
đơn vị hoạch toán độc lập trực thuộc Bộ Thương Mại trước đây, hoạt động kinh doanh
đa ngành nghề, được thành lập theo quyết định số 638/TM-TCCB ngày 13/08/1996
của Bộ trưởng Bộ Thương Mại, trên cơ sở tổ chức lại văn phòng Tổng công ty Thực
Phẩm, Công ty Thực Phẩm Nam Trung Bộ, Công ty Xuất Nhập Khẩu Thực phẩm và
Dịch vụ tại TP. Hồ Chí Minh và các đơn vị trực thuộc Tổng công ty Thực Phẩm.
Ngày 04/05/2005, Bộ Thương Mại cũ ra quyết định số 0753/QĐ/BTM về việc
sáp nhập Công Ty Thực Phẩm và Dịch vụ Tổng Hợp vào Công ty Thực Phẩm Miền
Bắc để tổ chức lại thành đơn vị thành viên trực thuộc Công Ty Thực Phẩm Miền Bắc.
Căn cứ quyết định số 6251/TM-TCCB ngày 06/10/2005 của Bộ Thương Mại về phê
duyệt phương án của Công ty Thực Phẩm Miền Bắc xin thành lập Chi nhánh Công ty
Thực Phẩm Miền Bắc tại TP.Hồ Chí Minh. Và ngày 10/10/2005, Chi nhánh Công ty
Thực Phẩm Miền Bắc được thành lập tại TP. Hồ Chí Minh thuộc Công ty Thực Phẩm
Miền Bắc, bao gồm các đơn vị trực thuộc :
+ Kho Đầu Cầu Sài Gòn: trụ sở đóng tại số 01 đường Xa Lộ Hà Nội, phường
Thảo Điền, Quận 2, TP.Hồ Chí Minh.
+ Kho Toàn Thắng: trụ sở đóng tại 508 Kinh Dương Vương, An Lạc, quận
Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.
+ Cửa hàng ăn uống: đặt tại 195 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
Chi nhánh công ty Thực Phẩm Miền Bắc tại TP.Hồ Chí Minh là doanh nghiệp
nhà nước trực thuộc Công ty Thực phẩm Miền Bắc, hoạt động sản xuất kinh doanh
thực hiện theo giấy phép đăng ký kinh doanh được cấp cho chi nhánh và trong điều lệ
tấn, từ tháng 3/2009 trở đi đã quy định 1 lot cà phê = 10 tấn.
Đây là quy trình thực hiện giao dịch hợp đồng tương lai của công ty FONEXIM
HCM tại Ngân Hàng Kỹ Thương Techcombank:
Hàng ngày đại diện công ty sẽ lên mạng giao dịch từ lúc 16h30 đến 24h. Căn cứ
bảng giá nhấp nháy và những thông tin đọc được trên màn hình nối mạng trực tuyến,
dự đoán hàng hóa mình đang buôn bán sắp tới giá sẽ lên hay xuống để đặt lệnh mua,
bán về số lượng và giá cả cho hợp đồng tương lai.
Lệnh này sẽ được chuyển về trung tâm của Techcombank. Sau khi kiểm tra cứ
liệu chắc chắn, chuyên viên giao dịch sẽ cho khớp lệnh với sàn giao dịch.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
13
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
Nếu lệnh được khớp thì nó sẽ được nhập trực tiếp đến sàn giao dịch ở nước
ngoài và tại trung tâm của Techcombank. Như vậy, giao dịch coi như đã thực hiện
xong. Mỗi đơn vị hợp đồng (lot) đối với cà phê là 10 tấn.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
14
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
Hình 2.1 Quy trình giao dịch
B ước 1: Chuẩn bị giao dịch:
Công ty đã đáp ứng đủ các thủ tục để được cung cấp tài khoản giao dịch như
công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, mở tài khoản tại Techcombank, có sự hiểu
biết về nghiệp vụ giao dịch và có năng lực tài chính để đáp ứng nhu cầu giao dịch.
Công ty nộp tiền vào tài khoản để chuẩn bị giao dịch
Công ty đã hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ tài chính (Initial Margin,
Commission…) trước khi giao dịch.
B ước 2: Đặt lệnh giao dịch:
Lệnh có thể đặt trước hoặc trong phiên giao dịch
của từng khách hàng
B ước 4: Tài khoản ký quỹ:
Techcombank thực hiện việc quản lý nghĩa vụ và quyền lợi của khách hàng
thông qua tài khoản ký quỹ.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
16
Yêu cầu lệnh
Xác nhận lệnh
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
Khách hàng phải đóng ký quỹ bổ sung trong trường hợp Margin Call.
Báo cáo giao dịch.
Hàng ngày, Techcombank gửi 03 bản báo cáo đến cho Khách hàng:
Xác nhận giao dịch: thể hiện các lệnh khách hàng đã thực hiện
được trong phiên giao dịch.
Đánh giá giao dịch: đánh giá các khoản lãi lỗ thực và lãi lỗ tạm tính của
khách hàng.
Tài khoản ký quỹ: báo cáo tình trạng tài khoản ký quỹ.
III. GIAO DỊCH BUÔN BÁN CÀ PHÊ BẰNG HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI:
Việt Nam là nước dẫn đầu thế giới về sản xuất cà phê hạt Robusta nhiều vị
đắng, thường được sử dụng để sản xuất bột cà phê hòa tan. Việt Nam đã trải qua một
thập kỷ tăng trưởng vững chắc với kim ngạch xuất khẩu đạt 3 tỷ USD mỗi năm. Tuy
nhiên, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tình hình xuất khẩu của mặt hàng này. Bởi cà
phê được đánh giá là mặt hàng có giá biến động nhanh và mạnh nhất trong 1 thập kỷ
trở lại đây. Chưa kể ở nước ta, sản lượng cà phê các năm cũng rất không ổn định.
Người trồng cà phê luôn sống trong tâm trạng nơm nớp về nỗi lo được mùa, mất mùa.
Tuy hạn hán dẫn đến sản lượng thấp nhưng chưa chắc nông dân đã thua thiệt bởi giá tự
khắc sẽ được nâng lên. Ngược lại, được mùa, sản lượng tăng, nhưng nông dân chưa
chắc đã thắng bởi giá thị trường có thể sẽ bị giảm xuống. Đó chính là sự nhạy cảm và
khó đoán biết của thị trường cà phê. Không chỉ với người nông dân mà ngay với các
Honduras (A) T.10-T.9 3.450 3.603 4.331 5.903
Peru (A) T.4-T.3 3.286 4.069 5.373 4.133
Uganda (R/A) T.10-T.9 3.290 2.845 3.203 2.817
Côte d'Ivoire (R) T.10-T.9 1.795 982 1.886 2.000
Costa Rica (A) T.10-T.9 1.304 1.392 1.462 1.671
El Salvador (A) T.10-T.9 1.065 1.814 1.152 1.242
Venezuela (A) T.10-T.9 1.214 1.202 902 1.000
Ecuador (A/R) T.4-T.3 813 854 825 828
Philippines (R/A) T.7-T.6 730 189 180 455
Tổng sản
lượng 113.389 122.650 122.231 135.506
Nguồn: www.ico.org
• A (Arabica): Cà phê chè
• R (Robusta): Cà phê vối
• T: Tháng.
• A/R: Nước xuất khẩu cả hai loại cà phê, nhưng sản lượng Arabica là chủ yếu .
• R/A: Nước xuất khẩu cả hai loại cà phê, nhưng sản lượng Robusta là chủ yếu.
• 1 bao = 60 kg.
Thị trường xuất nhập khẩu cà phê thế giới năm 2013:
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
18
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
Số liệu của ICO cho thấy xuất khẩu cà phê của thế giới trong tháng 8/2013 đạt
8,63 triệu bao, giảm so với mức 9,05 triệu bao của tháng 7 và mức 9,22 triệu bao của
cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, xuất khẩu cà phê của thế giới trong 11 tháng đầu niên vụ cà phê
2012/2013 (từ tháng 10/2012 đến tháng 8/2013) vẫn tăng 2,7% so với cùng kỳ năm
trước lên 102,4 triệu bao từ mức 94,5 triệu bao của tháng 7 và 99,7 triệu bao của cùng
kỳ niên vụ trước.
+ Cơ cấu: Robusta chiếm 93%; Arabica 0,9% diện tích cả nước.
Việt Nam xuất khẩu được 1,2 triệu bao cà phê (loại 60kg) trong tháng 8 năm
2013, thấp hơn so với mức 1,48 triệu bao của tháng 7 và giảm khoảng 14% so với
cùng kỳ năm 2012, theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO).
Với khối lượng trên, Việt Nam vẫn giữ nguyên vị trí là nước xuất khẩu cà
phê lớn thứ hai thế giới, sau Brazil – nước có khối lượng xuất khẩu gấp đôi của Việt
Nam trong tháng 8 với mức 2,56 triệu bao, giảm 1,6% so với cùng kỳ.
Các thị trường xuất khẩu hàng đầu là Đức, Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Italia.
Nguồn: />thang-8/
Triển vọng thị trường cà phê thế giới năm 2013
Triển vọng sản xuất
Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) dự báo tổng sản lượng niên vụ 2012/13 ước tính
đạt 144,6 triệu bao, tăng 7,8% so với niên vụ trước.
CONAB, cơ quan dự báo của chính phủ Brazil, đã điều chỉnh tăng mức dự báo
về sản lượng niên vụ 2012/13 của Brazil lên 50,83 triệu bao, so với 50,48 triệu bao dự
báo trước đó. Đây sẽ là vụ thu hoạch kỷ lục của Brazil và cao hơn 16,9% so với vụ
mất mùa năm ngoái, và cao hơn 5,7% so với vụ 2010/11.
Tại Colombia, ngành cà phê vẫn khó đoán định về sản lượng, chủ yếu do dịch
sâu đục quả có thể khiến sản lượng chỉ ở mức bình thường. Niên vụ 2012/13 có 2
tháng liên tiếp sản lượng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, và dự kiến sẽ chưa sớm
hồi phục.
Sản lượng của Việt Nam năm 2012/13 dự kiến cũng sẽ giảm, sau vụ 2011/12
đạt kỷ lục cao. Tuy nhiên, chắc chắn việc sản lượng giảm ở Việt Nam có thể được bù
lại đủ bằng sản lượng tăng ở những nước khác, nhất là Indonesia – nơi sản lượng dự
kiến tăng 27% lên 11 triệu bao. Sản lượng của Ấn Độ cũng được điều chỉnh giảm nhẹ
do thời tiết không mấy thuận lợi lúc cây ra hoa, với sản lượng dự kiến 5,3 triệu bao, so
với 5,2 triệu bao niên vụ 2011/12.
Ở Trung Mỹ, sản lượng dự báo sẽ giảm ở Guatemala, Honduras và Nicaragua,
trong khi sẽ tăng ở Mexico, Costa Rica và El Salvador. Tuy nhiên, thông báo dịch
bệnh rỉ sét ở lá tại một số nước Trung Mỹ có thể ảnh hưởng tới những dự đoán này.
Năm 2008: Do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính, thị trường nông sản
thế giới bước vào thời kỳ khủng hoảng nghiêm trọng.
Tình hình này tác động đến nhiều mặt hàng nông sản trong nước, sau cao su
đến cà phê rớt giá thảm hại.
Riêng đối với cà phê - một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực,
tháng 2/2008 giá xuất khẩu (FOB) tại Tp.HCM đã từng đạt 2.520 USD/tấn; tháng 9
giảm mạnh xuống ở mức 2.000 USD/tấn; giữa tháng 10 giá tiếp tục giảm, còn 1.700
USD/tấn; đến tháng 11 rơi xuống tồi tệ chỉ còn khoảng 1.480 USD/tấn.
Ngoài nguyên nhân chính do tác động của khủng hoảng tài chính, giá cà phê
xuất khẩu “trượt dốc không phanh” còn chịu sức ép phục hồi của đồng USD. Bên cạnh
đó, nhiều quỹ đầu tư đồng loạt rút vốn ra khỏi hoạt động đầu tư nông sản, dẫn tới sự
giảm cầu trên các thị trường kỳ hạn, làm giá nông sản giảm đột ngột.
Trang thông tin giá cà phê dẫn nguồn từ chuyên gia Sterling Smith của Citibank
cho biết nguồn cà phê tồn kho của Việt Nam vào thời điểm này khoảng 2,5 triệu bao
(150.000 tấn).
Cuối tháng 8 năm 2013, Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa) sau khi
tổng hợp thông tin từ các tỉnh cho biết, lượng cà phên tồn trong dân khoảng 140.000
tấn.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
22
Trường Đại học Ngoại thương Tiểu luận Quản trị rủi ro tài
chính
Theo Vicofa, lượng cà phê tồn trong dân là do trước đây khi giá cà phê ở mức
trên 40.000 đồng/kg, có thông tin giá cà phê còn tiếp tục tăng và sẽ đạt mức giá 50.000
đồng/kg. Tin vào nhận định này, nhiều đại lý ở các tỉnh Tây nguyên đã tìm cách mua
vào, đợi giá lên để bán ra.
Thực tế, giá cà phê có tăng lên đến mức 46.000 đồng/kg rồi lại giảm xuống còn
36.000 đồng/kg (mức giá của ngày 18 và 19-9, giảm khoảng 900 đồng/kg so với ngày
trước đó). Đây được xem là giá tốt để những doanh nghiệp có tài chính mạnh tìm cách
gom cà phê trong dân. Song, nhiều người dân lại không muốn bán ra vì có thể bị lỗ.
chính
cho nhà xuất khẩu, phần còn lại được tính toán khi giao hàng và chốt giá dựa vào giá
cà phê giao dịch trên thị trường kỳ hạn London. Các năm trước, đây là phương thức
bán cà phê tiến bộ so với giao ngay bởi gắn giá cà phê Việt Nam với giá thế giới, hạn
chế thiệt hại so với phương thức giao ngay nếu giá cà phê thế giới tăng.
Với cách thức này doanh nghiệp có thể trúng lớn và cũng có thể lỗ nặng, tuỳ
theo giá thị trường thế giới lên hay xuống ở thời điểm giao hàng.
Để bảo đảm kinh doanh cà phê ở thị trường trong nước không bị lỗ trong tình
hình giá lên xuống chập chờn, nhà buôn cà phê sẽ mua bán một lượng cà phê trên
mạng, đặt lệnh bán ngay khi thấy giá có lời, đó là hình thức của giao dịch hợp đồng
tương lai, trong đó giá cà phê được "chốt" ngay tại thời điểm đặt lệnh (là thời điểm mà
giá cà phê trên thị trường quốc tế được Doanh nghiệp "ưng ý" nhất), còn hàng thì giao
sau với thời điểm do hai bên thỏa thuận. Điều quan trọng là, tại thời điểm giao cà phê,
giá lên hay xuống thì vẫn giao theo giá đã được "chốt" lệnh từ trước.
Giả sử mua cà phê vào giá 35.000đ/kg, khi xuất khẩu giá rớt còn 34.000đ/kg, bị
lỗ 1.000 đồng. Thế nhưng cũng trong cùng thời điểm đó, công ty đã mua vào và bán ra
trên thị trường kỳ hạn một lượng cà phê tương ứng với giá bán ra 37.000đ/kg, lời
2.000đ/kg. Nhờ cân đối được giữa mua bán trên thị trường trong nước và thị trường kỳ
hạn, công ty vẫn bảo đảm có lãi và tính toán giá mua cà phê của người nông dân ở
mức hợp lý.
Và cũng nhờ vào khoản lãi trên thị trường kỳ hạn, nhà xuất khẩu cà phê sẵn
sàng mua cà phê của nông dân với giá cao hơn giá thị trường. Thực tế, có thời điểm
giá mua vào trên thị trường trong nước là 14.300đ/kg, Công ty Inexim Đắc Lắc đã mua
cà phê của nông dân giá 15.000đ/kg khi tính toán bán ra thị trường kỳ hạn được giá
trên 18.000đ/kg.
Điểm đặc biệt ở phương thức giao dịch này là các hợp đồng được bên mua và
bán ký trên mạng hoặc qua điện thoại trên cơ sở lòng tin.
Thông tin về giá cà phê thế giới vừa được gửi về, các quyết định mua bán bắt
đầu cũng được đưa ra. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn cú điện thoại được gọi tới các
doanh nghiệp thông báo quyết định bán khi người ta thấy giá cả hợp lý. Một sàn giao
Cùng thời điểm đó, giá London lên 1.822 đô la Mỹ /tấn, giá FOB sẽ là 1.792 đô
la Mỹ/tấn (trừ lùi 90 đô la Mỹ/tấn so với giá London ) như vậy có thể đẩy giá mua cà
phê của nông dân lên 37.697 đồng/kg. Rõ ràng, doanh nghiệp nếu đưa ra quyết định
mua bán trên LIFFE được đúng thời điểm giá lên thì sẽ mua được giá cao cho nông dân.
Mua bán cà phê trên thị trường tương lai thật sự là một phương thức hỗ trợ tích
cực hoạt động xuất khẩu cà phê trên thị trường trong nước giúp nhà xuất khẩu cà phê
hạn chế rủi ro do giá biến động, kiểm soát giá cả trong tương lai và còn có thể kiếm lời.
Giao dịch cà phê Robusta trên thị trường LIFFE
LIFFE là từ viết tắt của London International Financial Futures and Options
Exchange - Thị trường hợp đồng tương lai và quyền chọn Quốc tế Luân Đôn. Thị
trường Luân Đôn hiện là thị trường giao dịch lớn nhất thế giới dành cho cà phê
Robusta, còn cà phê Arabica được mua bán chủ yếu qua thị trường New York.
Trên thị trường Luân Đôn người mua với người bán không gặp gỡ trực tiếp với
nhau mà giao dịch qua trung gian, môi giới là các công ty môi giới, các ngân hàng,
định chế tài chính.
Nhóm 3- Lớp cao học TCNH 19A
25