TIỂU LUẬN MÔN HỌC QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
Đề tài :
CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
NHÓM THỰC HIỆN :NHÓM
1. Lê Thị Ngọc Anh
2. Bùi Việt Chương
3. Bạch Lâm Duy
4. Phạm Xuân Phương
LỚP TCDN ĐÊM 5 – K20
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TPHCM, ngày 10 tháng 4 năm 2012
MỤC LỤC
1. Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương 3
1.1 Định nghĩa 3
1.1.1 Ngân hàng trung ương (“NHTW”) 3
1.1.2 Lãi suất 4
1.2 Cơ chế lãi suất của Ngân hàng Trung ương 7
2. Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW Việt Nam: 9
3. Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW một số nước: 16
3.1 Mỹ (Fed) 16
3.2 NHTW Anh (BOE) 17
3.3 NHTW châu Âu (ECB) 18
3.4 NHTW Úc (RBA) 18
3.5 NHTW Nhật Bản (BOJ) 19
4. Các giải pháp đề xuất: 20
1. Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương

hành.
 Là ngân hàng của các ngân hàng.
NHTW mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian. Các trung
gian tài chính buộc phải dự trữ 1 lượng tiền mặt nhất định để đảm bảo nhu cầu
rút tiền mặt của khách hàng,đảm bảo khả năng thanh toán và hạn chế khả năng
rủi ro thanh khoản cho cả hệ thống. NHTW cũng là trung tâm thanh toán và cấp
tín dụng cho hệ thống ngân hàng trung gian.
 Là ngân hàng của chính phủ.
Ngân hàng trung ương có nghĩa vụ cung các dịch vụ cho ngân hàng Chính phủ
và làm đại lý, tư vấn chính sách cho chính phủ. Đồng thời, cũng làm thủ quỹ cho
kho bạc nhà nước thông qua quản lý tài khoản của kho bạc, làm đại lý tư vấn
cho chính phủ hoặc cho Chính phủ vay.
 Chức năng quản lí nhà nước (là chức năng quyết định bản chất gắn liền với các
nghiệp vụ ngân hàng của NHTW)
NHTW có trách nhiệm và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và thanh
tra,giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ
thống ngân hàng và bảo vệ công chúng đầu tư.
1.1.2 Lãi suất
- Định nghĩa: Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan chặt chẽ đến các
phạm trù kinh tế khác, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (người vay
vốn) với chủ thể sở hữu vốn (người cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn
kèm theo lãi ở thị trường vốn ở một thời điểm nhất định. Nói cách khác, lãi suất là
giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng
trả cho người sở hữu nó. Lãi suất được sinh ra là bởi lẽ người đi vay đã sử dụng vốn
đó để phục vụ các nhu cầu sinh lợi của mình (trong hoạt động sản xuất kinh doanh
hay tiêu dùng) trong khi người cho vay đã hi sinh quyền đó. Đánh đổi cho sự hi sinh
quyền được sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của người cho vay chính là lãi suất.
- Phân loại
 Lãi suất thương mại: Áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình
thức mua bán chịu hàng hoá.

 Cung cầu quỹ cho vay
 Mức cung cầu tiền tệ
 Tỷ giá
- Vai trò của lãi suất được thể hiện cụ thể qua các nội dung sau:
 Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư:
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết kiệm
của các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay phục vụ cho nhu cầu của nền kinh
tế.
 Là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Chúng ta thấy rằng, lãi suất là khoản chi phí của người đi vay, nên sự thay đổi
của lãi suất sẽ ảnh hưởng tới quyết định đến đầu tư và tiêu dùng của người dân,
doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác. Cụ thể lãi suất thấp có thể kích
thích đầu tư, kích thích tiêu dung và làm tăng tổng cầu và sản lượng tăng, giá
tăng, thất nghiệp giảm, còn lãi suất cao sẽ làm giảm thiểu đầu tư, hạn chế tiêu
dùng và làm giảm tổng cầu dẫn đến sản lượng giảm, giá giảm, thất nghiệp tăng.
Như vậy, NHTW có thể tạo dùng công cụ lãi suất để điều tiết nền kinh tế vĩ mô
trong từng hoàn cảnh nhất định.
 Là công cụ phân phối có hiệu quả nhằm khai thác và sử dụng triệt để các nguồn
lực của nền kinh tế.
Khi Nhà nước muốn khuyến khích phát triển một ngành nghề quan trọng nào đó
trong nền kinh tế, Nhà nước có thể thực hiện bằng cách ưu đãi về lãi suất cho
vay (như giảm lãi suất cho vay ), và ngược lại khi muốn hạn chế phát triển của
các ngành chưa cần thiết để dành nguồn lực cho các ngành khác thì Nhà nước có
thể tăng lãi suất cho vay của ngành đó. Như vậy, những ngành được hỗ trợ sẽ
phát triển hơn còn các ngành bị hạn chế sẽ ít phát triển hơn. Do đó chính sách lãi
suất là một công cụ để phân phối cơ cấu của nền kinh tế nhằm sử dụng hiệu quả
nhất các nguồn lực.
 Là công cụ đo lường nền kinh tế
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn phát triển thì lãi suất thường có xu hướng tăng
do cung cầu quỹ cho vay đều tăng, trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay lớn

Giả sử khi lãi suất thị trường tăng, lãi suất tăng làm giảm vay nợ dẫn đến cá nhân
giảm đi vay tăng gửi tiết kiệm do đó giảm tiêu dùng và tác động tiêu cực tới tổng
cầu. Thêm vào đó, doanh nghiệp giảm vay mới và do đó giảm đầu tư mới, nên tác
động tiêu cực tới tổng cầu. Mặt khác, lãi suất tăng còn có nghĩa là giá cả các khoản
vay hiện thời của doanh nghiệp tăng, có nghĩa là giá vốn tăng hay chi phí sản xuất
tăng. Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp có xu
hướng thu hẹp sản xuất; do đó tác động tiêu cực tới tổng cầu. Lợi nhuận của doanh
nghiệp giảm còn làm giảm thu nhập của người lao động. Điều này khiến họ giảm
tiêu dùng. Tổng cầu lại chịu tác động tiêu cực.
Thêm vào đó, lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất ở nước ngoài sẽ
khiến cho dòng vốn từ nước ngoài tăng cường chảy vào trong nước. Điều này làm
cho tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ giảm xuống. Xuất khẩu ròng vì thế giảm
làm cho tổng cầu giảm theo. Kiềm chế được lạm phát.
Tùy tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia và mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn mà
NHTW sử dụng công cụ lãi suất để đưa ra những chính sách lãi suất phù hợp và riêng
biệt. Chúng ta sẽ tìm hiểu việc sử dụng công cụ lãi suất cụ thể như thế nào ở phần sau.
2. Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW Việt Nam:
Lãi suất là giá cả của vốn tiền tệ, là một chỉ số kinh tế tổng hợp, chịu tác động bởi nhiều
nhân tố kinh tế vĩ mô, tài chính- tiền tệ ở trong nước và ngoài nước. Các ngân hàng thương
mại (NHTM) ấn định lãi suất kinh doanh (huy động và cho vay vốn) dựa trên cơ sở cơ chế
điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương (NHTW), xu hướng cung – cầu vốn thị trường,
lạm phát, mức độ rủi ro và lãi suất thị trường quốc tế. Đối với nước ta, cơ chế điều hành lãi
suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn; giai đoạn chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất thực
dương,
Giai đoạn Ngân hàng nhà nước quy định lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và lãi suất thoả
thuận, giai đoạn thực hiện trần lãi suất cho vay.
Thời gian Chính sách LS Tác động Nguyên nhân
Giai đoạn
đầu của
thời kỳ

Giai đoạn
1996 đến
tháng
7/2000
Ngân hàng Nhà nước
điều hành lãi suất
theo lãi suất trần.
tiền đề để hình thành chính sách lãi suất mới
đó là chính sách khống chế trần lãi suất cho
vay
. Với chính sách này , NHTW đã khống chế
lãi suất cho vay tối đa của các NHTM và
các tổ chức tín dụng . Trong năm 1999 ,
NHTW đã thực hiện 5 lần giảm lãi suất trần
cho vay nhằm đối phó với các cuộc khủng
hoảng tài chính khu vực và thế giới . Việc
giảm lãi suất như vậy , đã có tác dụng kích
cầu , tăng đầu tư , tăng mức tiêu dùng để
khắc phục hậu quả khủng hoảng kinh tế .
kiềm chế thành công lạm phát khi đẩy lùi
lạm phát về mức một chữ số
Giai đoạn
từ tháng
8/2000
đến tháng
5/2002
điều hành lãi suất
theo lãi suất cơ bản
có tác động tích cực đến tiến trình phát triển
của hệ thống tài chính Việt Nam

động tiền gửi là 14% cho các NHTM.
o Ưu tiên hàng đầu: giảm lãi suất cho vay đối với các DN bằng cách kiểm soát
chặt chẽ mức lãi suất huy động đầu vào của các ngân hàng.
o Lãi suất huy động và cho vay vẫn tiếp tục tăng, và từ 14,5% vào 3/2010 lên
18,5% vào 06/2011 và 18,73% vào 08/2011
o Lập nhóm G12+1 ( 12 NHTM lớn và NHNN)  xây dựng các chính sách
quản lý tiền tệ hiệu quả
o Chính sách trần lãi suất huy động  giảm LS cho vay vào thời điểm cuối năm
Chính sách trần tỏ ra không có hiệu lực và khó kiểm soát trong 10 tháng đầu năm, nhưng
nhanh chóng có những chuyển biến tích cực trong các tháng cuối năm
Mục tiêu của NHNN: chặn lãi suất tăng cao tác động gia tăng lạm phát, ảnh hưởng xấu tới
tăng trưởng kinh tế 09/2011, NHNN đã quyết liệt siết chặt việc tuân thủ quy định mức trần
lãi suất huy động vốn 14% và xử lý nghiêm các tổ chức tín dụng vi phạm. Nhờ vậy, lãi suất
cho vay của các tổ chức tín dụng cũng đã dần dần đc kéo xuống ở mức khoảng từ 17-19%,
DN có thể chịu đựng được và có thể tiếp tục vay vốn để duy trì phát triển sản xuất, kinh
doanh.
Năm 2011, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất chiết khấu (từ 7% năm 2010 lên 13%), 4 lần tăng lãi
suất tái cấp vốn (từ 9% lên 15%), 5 lần tăng lãi suất OMO (từ 8% lên 15%). Lãi suất cơ bản
đã được giữ nguyên 9% kể từ năm 2010.
Lãi suất bắt đầu leo thang kể từ đầu tháng 5/2011, có thời điểm huy động VND lên đến
20%/năm, lãi suất cho vay nông nghiệp nông thôn lên 16,5-20%/năm, cho vay phi sản xuất
từ 25-28%/năm.
Quy định trần lãi suất 14%/năm khiến các NHTM gặp khó về thanh khoản và phải đi vay
trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao. Cá biệt, có những giao dịch lãi suất lên tới
mức 30-40%/năm kỳ hạn 1 tháng.
Năm 2012 (quý 1):
Tựu trung, có 5 gánh nặng đang đè lên vai lãi suất, nên việc điều chỉnh giảm 1% các lãi suất
điều hành vừa qua của Ngân hàng Nhà nước là một cố gắng, đặt trong định hướng thắt chặt -
thận trọng - linh hoạt.
Gánh nặng thứ nhất là nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Nhiệm vụ này xuyên suốt từ năm 2011

trọng lượng hơn.
Lãi suất cơ bản 9%
Lãi suất tái chiết khấu 12%
Lãi suất tái cấp vốn 14%
Lãi suất bình quân liên ngân hàng (VNIBOR), (đến ngày 04/04/2012)
Thời hạn %/năm
Qua đêm 10,76
1 tuần 8,66
2 tuần 8,71
1 tháng 11,49
3 tháng 12,34
6 tháng 13,57
12 tháng 13,00
Từ giữa tháng 5/2008 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) áp dụng cơ chế điều
hành lãi suất cơ bản:
- Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay
tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố trong từng thời kỳ (cho đến ngày
31/10/2010 là 8%-Quyết định số 2281/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt
Nam). Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM; đồng thời,
NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất tái cấp
vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ. Lãi suất cơ bản được xác định và
công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường, mục tiêu của chính sách
tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.
- Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch khoảng
2% để điều tiết lãi suất thị trường: (i) “Trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất tái chiết
khấu (hiện nay là 8% – 6%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến
động trong phạm vi hành lang này; (ii) Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định
hướng và thực hiện việc “bơm” tiền ra hoặc “hút” tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn,
lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM.
Có thể thấy, việc áp dụng cơ chế điểu hành lãi suất lãi suất cơ bản mang lại các mặt tích cực;

FFR được ủy ban thị trường mở (FOMC) công bố sau các phiên họp định kì (6 tuần) và nó
không mang bản chất ấn định cụ thể mà thực chất chỉ là lãi suất mục tiêu (target rate) để Fed
giao dịch trên thì trường mở nhằm đạt được mục tiêu đã công bố. Lẽ dĩ nhiên các trung gian
tài chính nhận tiền gửi có thể vay lẫn nhau để bù đắp thiếu hụt, tuy nhiên các khoản vay lẫn
nhau (lãi suất liên ngân hàng) thường cao hơn FFR vì vấn đề rủi ro. Khi Fed cho các trung
gian tài chính vay tiền để bù đắp thiếu hụt dự trữ bắt buộc, số tiền đó tuy được hoạch toán
báo có vào tài khoản của các trung gian tài chính tại Fed nhưng các trung gian tài chính đó
không được phép rủi ngay cả khi phá sản, do đó Fed ko có nguy cơ bị mất số tiền cho vay
dưới dạng này.
Khác với Fed, khi một trung gian tài chính cho một đối tác vay liên ngân hàng, họ phải cắt
tiền từ tài khoản tiền gửi của mình, chuyển vào tài khoản tiền gửi của đối tác tại Fed, từ lúc
đó bên cho vay không còn quyền sủ dụng với số tiền cho vay nữa; nguy cơ không thu hồi
được số tiền cho vay xuất hiện, do đó lãi suất phải cao hơn. Có thể thấy được lãi suất FFR là
lãi suất thấp nhất mà các trung gian tài chính nhận tiền gửi có thể vay được, vì vậy có thể
xem đây là lãi suất cơ bản, lãi suất chuẩn.
Bên cạnh nhu cầu đảm bảo dự trữ bắt buộc, các trung gian tài chính còn có nhu cầu đảm bảo
thanh khoản, an toàn chi trả. Lãi suất chiết khấu của Fed chính là lãi suất cho các trung gian
tài chính vay để đáp ứng nhu cầu này. Về nguyên tắc, thông thường lãi suất liên ngân hàng
phải thấp hơn lãi suất chiết khấu, vì nếu không các trung gian tài chính sẽ không vay liên
ngân hàng mà sẽ vay của Fed để được lãi suất chiết khấu thấp hơn. Lãi suất chiết khấu
thường cao hơn lãi suất FFR và có ba mức lãi suất áp dụng cho ba loại cho vay khác nhau là
tín dụng chính (Primary credit), tín dụng mở rộng (secondary credit) và tín dụng thời vụ
(seasonal credit).
Như vậy Fed bảo vệ lãi suất chiết khấu đã ấn định thông qua chương trình cho vay chiết khấu
và bảo vệ FFR đã công bố thông qua nghiệp vụ thị trường mở. cách điều hành này cua Fed
khiến cho lãi suất liên ngân hàng luôn có xu hướng biến động giữa FFR (có vai trò như lãi
suất sàn trừ gian đoạn khủng hoảng vừa qua) và lãi suất chiết khấu (có vai trò như lãi suất
trần) mà không cần đặt ra các giới hạn như sủ dụng biện pháp hành chính.
3.2 NHTW Anh (BOE)
Tên gọi của lãi suất do ủy ban chính sách tiền tệ của BOE công bố có nhiều lần thay đổi,

thầu lãi suất. Song song đó NHTW của các quốc gia thành viên có nhiệm vụ bảo vệ hai lãi
suất chủ chốt còn lại thông qua hoạt động cho vay và nhận tiền gửi để cho lãi suất các
phương tiện tiền gửi thường xuyên đóng vai trò lãi suất sàn, còn lãi suất cho vây giới hạn
đóng vai trò lãi suất trần, lãi suất cho vay qua đêm sẽ dao động quanh biên độ này. Rõ ràng
cũng như lãi suất chính thức của BOE hay FFR của Fed, các lãi suất chủ chốt mà ECB công
bố đều mang tính chắt mục tiêu, và ECB sẽ bảo vệ lãi suất mục tiêu thông qua các công cụ
chính sách tiền tệ của mình để lãi suất thị trường hướng về mức lãi suất mục tiêu. Trước
khủng hoảng chênh lệch lãi suất trần và sàn giữa ở mức ổn định phổ biến là 2%, nhưng từ
ngày 9/10/2008 đến ngày 20/1/2009 được rút xuống 1%, sâu đó lại tăng lên 2% và đến nay là
1,5%.
3.4 NHTW Úc (RBA)
Hội đồng RBA sẽ ấn định lãi suất tiền mặt (cash rate) là mức lãi suất mang tính mục tiêu
nhằm tác động đến lãi suất cho vay qua đêm của các trung gian tài chính. Thông qua nghiệp
vụ thị trường mở RBA tác động cho lãi suất cho vay qua đêm càng tiệm cận với lãi suất mục
tiêu càng tốt. Thực tế cho thấy, RBA đã khá thành công thông qua nghiệp vụ thị trường mở
khi lãi suất qua đêm luôn được điều chỉnh gần sát với mức lãi suất mục tiêu mà RBA
3.5 NHTW Nhật Bản (BOJ)
Không khác nhiều so với cách thức điều hành lãi suất của NHTW các nước phát triển, trước
đây BOJ sủ dụng công cụ lãi suất có tên gọi lãi suất chiết khấu chính thức (Official discount
rate) bao gồm lãi suất chiết khấu thương phiếu và lãi suất cho vay có đảm bảo bằng trái phiếu
chính phủ (thường thấp hơn 0.25% lãi suất cho vay có đảm bảo bằng tài sản khác).
Kể từ ngày 11/8/2006 các lãi suất cho vay khác nhau được gộp lại bằng nhau, được gọi là lãi
suất cho vay cơ bản và lãi suất chiết khấu cơ bản (Basic discount rate and basic loan rate).
Việc thay đổi tên không hề làm thay đổi bản chất của loại lãi suất này bởi vì nó vẫn là lãi
suất mà BOJ chiết khấu các giấy tờ có giá cho các NHTM, các NHTM sẽ vay chiết khấu của
BOJ khi không tìm được nguồn vay nào trên thị trường liên ngân hàng có chi phí thấp hơn
chi phí vay từ BOJ. Do đó lãi suất mà BOJ công bố nghiếm nhiên trở thành giới hạn trần của
lãi suất cho vay qua đêm cho dù BOJ không đưa ra rào cản hành chính nào cho hoạt động
cho vay qua đêm.
Tóm lại , mỗi nước đều có tên riêng cho các lãi suất mà mình công bố, nhưng về bản chất

NHNN sủ dụng hoạt động thị trường mở để điều tiết lãi suất liên ngân hàng tiệm cận với lãi
suất mục tiêu như cái cách mà NHTW các nước phát triển đã đang thực hiện.
NHNH cần tính toán một mức lãi suất công bố căn cứ theo lãi suất cho vay dài hạn của các
NHTM lớn, để đảm bảo được tính linh hoạt hợp lí của công cụ lãi suất công bố vì nó bám sát
diễn biến thị trường, phản ánh kịp thời quan hệ cung cầu vốn trong nền kinh tế. Điều này
chắc chắn cũng làm giảm đáng kể hoạt động tín dụng chợ đen vẫn chưa triệt tiêu được ở Việt
Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status