Cơ chế điều hành lãi suất của ngân hàng trung ương các nước phát triển và Việt Nam - Pdf 13

MÔN: TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG

Bài tiểu luận
CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG CÁC NƯỚC PHÁT
TRIỂN VÀ VIỆT NAM

Họ và tên: Phạm Thị Thu Hà
MSSV: K094040538
Lớpcải thiện: K10404B
Giảng viên: Nguyễn Thị Hai Hằng MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1:Tổng quan về lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất
1.Khái quát chung về lãi suất
1.1 Khái niệm về lãi suất
1.2 Phân loại lãi suất
1.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
2. Tổng quan về cơ chế điều hành lãi suất
2.1 Khái niệm
2.2 Mục tiêu của cơ chế điều hành lãi suất
2.3 Phân loại cơ chế điều hành lãi suất
Chương 2: Cơ chế điều hành lãi suất của NHTW các nước phát triển
1. Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED)
1.1 Khái quát về Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ
1.2 Cơ chế điều hành lãi suất của FED

trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ. Việc nghiên cứu cơ chế điều hành lãi
suất của NHTWcác nước phát triển nói chung và cơ chế điều hành lãi suất của NHTWViệt
Nam nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức, đánh giá, so sánh về cơ chế điều
hành lãi suất nói riêng và chính sách tiền tệ nói chung của NHTW.
Trong từng thời kỳ nhất định, việc tìm ra và thi hành một chính sách lãi suất phù hợp
là vô cùng phức tạp mà vai trò quyết định thuộc về NHTW. Cùng với sự thay đổi và phát
triển không ngừng của nền kinh tế, chính sách lãi suất của NHTW cũng thường xuyên được
điều chỉnh cho phù hợp với các tình hình mới của nền kinh tế, tạo điều kiện phát triển cho
các ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức kinh tế khác. Do đó, nhiệm vụ của đề tài
là đi làm rõ về cơ chế điều hành lãi suất của các quốc gia phát triển và ở Việt Nam hiện nay.
Từ đó đưa ra các nhận định, đánh giá, giải thích và so sánh cơ chế điều hành lãi suất ở Việt
Nam so với các quốc gia khác.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÃI SUẤT
VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
1. Khái quát chung về lãi suất
1.1 Khái niệm lãi suất
Lãi suất phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (người vay vốn) với chủ thể
sở hữu vốn (người cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn kèm theo lãi ở thị trường
vốn ở một thời điểm nhất định. Nói cách khác, lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng
vốn vay trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó hay lãi
suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền tăng thêm mà người đi vay phải trả cho người cho vay so
với phần giá trị vay ban đầu.
Tư duy kinh tế hiện đại có nhiều cách định nghĩa về lãi suất.Đồng thời cũng có rất
nhiều khái niệm được đưa ra để giải thích về vấn đề này. Nhưng nhìn chung, điều không thể
tránh là lãi suất luôn hàm chứa một mâu thuẫn: người đi vay muốn có lãi suất thấp nhất
trong khi người cho vay muốn lãi suất cao nhất. Vì vậy, như mọi loại hàng hoá khác, lãi
suất chủ yếu được xác định bởi cung-cầu về vốn.

bạc, chứng chỉ tiền gửi) đến chiết khấu tại cửa sổ chiết khấu của NHTW.
 Lãi suất tái cấp vốn: Đây là loại lãi suất mà NHTW ấn định khi các tổ chức tín
dụng thiếu hụt vốn trầm trọng mà không thể tiếp cận các kênh khác như liên
ngân hàng, cửa sổ chiết khấu, thông qua các hình thức như cho vay theo hồ sơ
tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác; cho vay có đảm bảo bẳng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn
hạn khác. Về cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn có cách thức
thực hiện gần tương tự nhau, trừ đối tượng. Lãi suất tái cấp vốn có thể áp dụng
với nhiều loại giấy tờ có giá hơn và do vậy nó thường cao hơn lãi suất chiết
khấu do các giấy tờ có giá đem cầm cố có mức độ rủi ro cao hơn.
 Lãi suất bình quân liên ngân hàng: Đây là loại lãi suất được tính bằng trung
bình lãi suất các khoản cho vay trong thời gian ngắn giữa các ngân hàng với
nhau. Về bản chất đây là lãi suất cho vay giữa các ngân hàng với nhau và hầu như chỉ dựa trên tín chấp, nó phản ánh khá rõ thanh khoản trong ngắn hạn của
hệ thống ngân hàng.
1.3. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
1.3.1 Là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư:
Là công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của các chủ
thể kinh tế: lãi suất cao kích thích người ta hi sinh tiêu dùng hiện tại, tiết kiệm nhiều hơn để
có khoản tiêu dùng cao hơn trong tương lai và ngược lại.
1.3.2 Là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô:
Đối với nhà đầu tư, khi mà lãi suất gia tăng, chi phí bỏ ra cũng sẽ tăng theo, do đó làm
lợi nhuận trên một đồng vốn sẽ giảm đi, nhà đầu tư sẽ không muốn đầu tư nữa, và ngược lại.
Đối với người tiêu dùng, khi mà lãi suất gia tăng, số tiền mà họ bỏ ra để có được hàng
hoá sẽ tăng lên, vì vậy họ sẽ chờ đợi chứ không mua ngay, tiêu dùng sẽ giảm và ngược lại.
Vì sự biến động lãi suất có tác động đến đầu tư, đến tiêu dùng nên nó có tác động gián
tiếp đến các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, biểu hiện trong các trường hợp:
+ lãi suất thấp ═> khuyến khích đầu tư, khuyến khích tiêu dùng ═> tăng tổng cầu ═>

doanh cho các ngân hàng hoặc quy định khung lãi suất tiền gửi – lãi suất cho vay hoặc trần
lãi suất cho vay qua đó khống chế lãi suất cho vay của các ngân hàng theo hướng thắt chặt
hoặc nới lỏng tiền tệ. Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển, NHTW sử dụng công
cụ lãi suất gián tiếp chẳng hạn như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn để tác động tới
lãi suất thị trường. Lãi suất thị trường thay đổi sẽ tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô.
Ngày nay theo xu hướng tự do hóa tài chính, cơ chế điều tiết nền kinh tế bằng công cụ lãi
suất ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới.
2. Tổng quan về cơ chế điều hành lãi suất
2.1Khái niệm
Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương, chính sách và giải
pháp cụ thể của NHTW, nhằm kiểm soát và điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng
trong từng thời kỳ nhất định. Cơ chế điều hành lãi suất luôn gắn chặt không tách rời với cơ
chế lãi suất từng thời kỳ.
2.2. Mục tiêu của cơ chế điều hành lãi suất Hơn các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô khác, cơ chế lãi suất mà theo đó cơ cấu lãi suất
định hình và tác động tới môi trường hoạt động và phát triển của hệ thống tài chính mỗi
quốc gia với 3 mục tiêu chính:
Một là,khuyến khích việc tiết kiệm và sự phát triển của các trung gian tài chính, phát
triển chiều sâu thị trường tài chính.
Hai là, hướng các nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực hoạt động có tỷ suất lợi tức cao
nhất tức là các lĩnh vực có hiệu quả kinh tế cao nhất.
Ba là, mang lại mức chênh lệch đủ để các định chế tài chính trang trải các chi phí hoạt
động, chi phí vốn, chi phí chấp nhận rủi ro và lợi nhuận trên vốn tự có.
2.3Phân loại cơ chế điều hành lãi suất
2.3.1 Cơ chế điều hành gián tiếp (cơ chế tự do hóa lãi suất)
NHTWthực hiện quản lý gián tiếp lãi suất cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế
thông qua cơ chế tái cấp vốn (chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay cầm cố chứng từ có giá…)
đối với các tổ chức tín dụng.

giới hạn để trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng xác định lãi suất kinh doanh.
Phương pháp này không hoàn toàn cứng nhắc như cơ chế ấn định lãi suất, nhưng vẫn giữ
được vai trò điều hành lãi suất của NHTW.
Ưu điểm của cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp là NHTW quản lý thống nhất lãi suất
đối với nền kinh tế, vì vậy cơ chế lãi suất này chỉ thích hợp và được áp dụng phổ biến ở các
nước có hệ thống tài chính chưa phát triển. Trong các nền kinh tế phát triển, lãi suất ngày
càng được tự do hoá, xu hướng chung là ngày càng giảm dần sự quản lý lãi suất mang tính
trực tiếp này.

CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA
NHTW CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN
1. Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED)
1.1 Khái quát về Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ
Cục dự trữ liên bang Mỹ, gọi tắt là FED, là NHTW của nước Mỹ. Trong vai trò của
một NHTW, FED là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng của Chính phủ liên bang.
FED được xây dựng để đảm bảo duy trì cho nước Mỹ một chính sách tiền tệ linh hoạt
hơn, an toàn hơn, và ổn định hơn. Trong quá trình tồn tại và phát triển cùng với lịch sử nước
Mỹ, FED ngày càng chứng minh được vai trò vô cùng quan trọng của nó trong hệ thống
ngân hàng cũng như trong nền kinh tế Mỹ.
Được thành lập ngày 23/12/1913 theo đạo luật mang tên “Federal Reserve Act” do
tổng thống Woodrow Wilson kí, FED là một mạng lưới gồm 12 Ngân hàng dự trữ liên bang
và một số chi nhánh khác. Về mặt quản lý, FED chia nước Mỹ làm 12 khu vực, được gọi là
các “Quận” (District), mỗi ngân hàng Dự trữ liên bang đại diện cho một quận và được đặt
tên theo tên thành phố mà nó đặt trụ sở, đó là Boston, New York, Philadelphia, Cleveland,

gián tiếp ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Thứ nhất các quyết định về tăng giảm lãi
suất của FED tác động trực tiếp đến sức mạnh của đồng USD, qua đó ảnh hưởng mạnh đến
các đối tác thương mại của Mỹ. Nếu FED tăng lãi suất đồng USD nhằm kiềm chế lạm phát,
vô hình chung làm tăng sức mạnh của đồng USD trên thị trường tiền tệ quốc tế, làm tăng
nhập khẩu, giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào Mỹ.Thứ hai, FED còn trực tiếp can thiệp vào
việc xác lập giá trị đồng USD thông qua hoạt động mua bán USD và các ngoại tệ khác. Ví
dụ, nếu Mỹ bán đồng Yen ra đồng thời mua vào USD thì giá trị của USD sẽ tăng, trong khi
giá trị Yen giảm xuống, dẫn đến tỉ giá USD/Yen tăng.Chính vì vậy những chuyên gia tham
gia vào thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế không bao giờ bỏ qua những diễn biến của FED.
1.2 Cơ chế điều hành lãi suất của FED
Về cơ bản, FED hiện đang điều hành lãi suất thông qua hai công cụ quan trọng đó là:
Lãi suất chiết khấu (Discount rate) và Lãi suất quỹ dự trữ liên bang.
1.2.1 Lãi suất chiết khấu Tất cả các NHTM và tổ chức tín dụng được yêu cầu phải bảo đảm dự trữ bắt buộc đều
có thể vay tiền mặt hoặc séc tự NHTW nhằm bổ sung vào sự thiếu hụt dự trữ trong những
trường hợp khẩn cấp tại cửa sổ chiết khấu. Tuy nhiên việc vay mượn tại cửa sổ chiết khấu
không phải là điều tốt đối với ngân hàng trung gian vì khi đó họ sẽ rơi vào danh sách những
ngân hàng trung gian hoạt động kém hiệu quả theo đánh giá của người dân Mỹ.
Tại Mỹ, cho vay từ cửa sổ chiết khấu của FED rơi vào một trong ba hình thức sau:
- Tín dụng chính (Primary credit): với dụng ý của FED cho phép các ngân hàng
trung gian điều chỉnh sự thiếu hụt dự trữ bắt buộc để tiếp tục mở rộng cho vay.
- Tín dụng thời vụ (Seasonal credit): với ý đồ cho phép một số ngân hàng trung gian
đặc biệt (như ngân hàng nông nghiệp…) không phải giải quyết thiếu hụt bằng con
đường vay trên thị trường tiền tệ. Tín dụng này cho phép các ngân hàng nhân được
nó gia tăng cho vay với những hoạt động theo mùa như thu hoạch, gieo trồng trong
nông nghiệp, mùa nghỉ hè của người dân…
- Tín dụng mở rộng (Secondary credit): bằng việc cấp phát loại cho vay này, FED hỗ
trợ cho các ngân hàng trung gian thiếu hụt dự trữ bắt buộc một cách lâu dài mà

gian tài chính nhận tiền gửi có thể vay được (với món vay phi rủi ro), vì vậy lãi suất này
có khi được gọi là lãi suất cơ bản hay lãi suất chuẩn (benchmark rate). Bên cạnh nhu cầu
đảm bảo dự trữ bắt buộc, các trung gian tài chính còn có nhu cầu đảm bảo thanh khoản,
an toàn chi trả và lãi suất chiết khấu của FED chính là lãi suất cho các trung gian tài
chính vay để đáp ứng các nhu cầu này.
1.2.3 Mối quan hệ giữa Lãi suất chiết khấu và Lãi suất quỹ dự trữ liêng bang
Về nguyên tắc, lãi suất liên ngân hàng thông thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu vì
nếu không, trung gian tài chính sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ FED để được
hưởng lãi suất chiết khấu thấp hơn. Lãi suất chiết khấu thường thường cao hơn lãi suất
FFR và có ba mức lãi suất chiết khấu áp dụng cho ba loại cho vay khác nhau là tín dụng
chính (Primary credit), tín dụng mở rộng (Secondary credit) và tín dụng thời vụ (Seasonal
credit) với lãi suất chiết khấu hiện hành lần lượt là 0.5%, 1.0% và 0.15%/năm.Như vậy,
FED “bảo vệ” lãi suất chiết khấu đã ấn định thông qua chương trình cho vay chiết
khấu “bảo vệ” lãi suất FFR đã công bố thông qua nghiệp vụ thị trường mở.Cách điều
hành này của FED sẽ khiến cho lãi suất liên ngân hàng luôn có xu hướng biến động giữa lãi suất FFR (có vai trò như lãi suất sàn trừ giai đoạn khủng hoảng tài chính vừa qua)
và lãi suất chiết khấu (có vai trò như lãi suất trần) mà không phải đặt ra giới hạn
bằng biện pháp hành chính.
Thay đổi trong lãi suất chiết khấu luôn luôn kéo theo sự thay đổi cùng chiều trong lãi
suất quỹ vốn liên bang và vì lãi suất quỹ vốn liên bang là lãi suất chủ đạo, lãi suất hướng
dẫn của toàn bộ lãi suất thị trường tiền tệ cho nên sự tăng lãi suất chiết khấu luôn luôn đồng
nghĩa với việc tăng lãi suất toàn nền kinh tế và thắt chặt cung ứng tiền. Ngược lại, sự giảm
lãi suất chiết khấu là thông điệp chắc chắn về việc hạ toàn bộ lãi suất và tăng cung ứng tiền.
Mối quan hệ gần gũi giữa lãi suất chiết khấu và chính sách điều tiết khiến cho FED sử dụng
công cụ này một cách thận trọng.
Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh “lãi suất quỹ vốn tại FED” mỗi lần ở mức
0.25% hoặc 0.5%. Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, FED hạ lãi suất 13 lần, từ 6.25%
xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế.Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, FED

Đây là một trong những sự kiện kinh tế quan trọng và thu hút sự chú ý theo dõi của tất cả
các thành phần tham gia thị trường ngoại hối. Sau khi nó kết thúc, một cuộc họp báo sẽ
được tổ chức, Thống đốc ECB khi đó sẽ giải thích cụ thể lý do cơ quan này đưa ra các quyết
định về lãi suất, đồng thời dự báo tình hình chung cũng như các xu hướng của nền kinh tế
các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu.Trên 500 tỷ Euro dự trữ bao gồm cả dự trữ vàng
nằm dưới quyền kiểm soát của ECB.Cựu thống đốc Ngân hàng quốc gia ItaliaMario Draghi
đã thay thế đại diện của PhápJean-Claude Trichet để trở thành Chủ tịch đương nhiệm của
Ngân hàng trung ương Châu Âu kể từ tháng Mười Một năm 2011.
ECB duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính Châu Âu thông qua việc can thiệp
thường xuyên vào thị trường liên ngân hàng bằng cách tiến hành các hoạt động trên thị
trường mở, được gọi là hoạt động tái cấp vốn. Có hai loại chính của hoạt động tái cấp vốn
là: MRO (hoạt động tái cấp vốn chính) là loại thường xuyên với thời hạn là một tuần hoặc
một tháng, và LTRO (hoạt động tái cấp vốn dài hạn) có thời hạn ba hay sáu tháng tùy thuộc
vào việc phân tích tính thanh khoản của ECB.
Lãi suất cho vay cận biên của ECB tương đương với lãi suất quỹ dự trữ vốn của FED.
Lãi suất này xác định mức lãi suất mà các ngân hàng có tiền gửi tại ECB được giao dịch với
nhau và vì vậy, nó xác định chi phí thấp nhất của tiền tệ trong khu vực đồng tiền chung châu
Âu. Các ngân hàng trong thị trường liên ngân hàng bán buôn tiến hành các hoạt động ngắn
hạn gồm cho vay và đi vay từ các ngân hàng có mức lãi suất phù hợp với lợi nhuận của
họ.Vì tất cả lượng tiền bắt nguồn từ NHTW có mức độ cơ bản ngang nhau, lãi suất áp đặt
bởi ECB thông qua nghiệp vụ thị trường mở là thấp nhất và quan trọng nhất đối với nền
kinh tế.Để duy trì mức độ này, NHTW thường xuyên tiến hành các hoạt động tái cấp vốn
bằng cách tiến hành các cuộc đấu giá và lượng tiền sẽ giao cho ngân hàng nào đặt mức lãi suất cao hơn cho đến khi số tiền cần cung cấp được đấu giá hết.ECB xác định số tiền cần
thiết dựa trên phân tích các điều kiện thị trường nhưng ở thời điểm khủng hoảng, nó cũng có
thể cung cấp thanh khoản không giới hạn để xoa dịu căng thẳng trên thị trường tiền tệ.

Nguồn:

thấp và môi trường kinh doanh thuận lợi). Đây chính là yếu tố quan trọng nhất đóng góp
vào thành công của giai đoạn phát triển kinh tế ổn định bắt đầu từ năm 1993 đến nay –
quãng thời gian dài nhất trong hai thế kỷ qua. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vương quốc
Anh đã bỏ xa các quốc gia thuộc khu vực đồng Euro trong suốt mười năm qua và một đồng
bảng mạnh là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó.
Ngân hàng Anh điều hành lãi suất thị trường thông qua hai công cụ là lãi suất cơ bản
và lãi suất Repo – là lãi suất được sử dụng trong những hoạt động của thị trường mở, Ngân
hàng Anh sẽ mua lại các cổ phiếu ngắn hạn từ các ngân hàng thương mại và sẽ bán lại cho
các ngân hàng khác sau một khoảng thời gian nhất định.
Nguồn:
4. Ngân hàng trung ương Nhật Bản
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (Bank of Japan – BOJ) được thành lập năm 1882, là
một công ty cổ phần mà vốn của nhà nước khi mới thành lập chỉ chiếm 55 triệu Yen.Tuy
nhiên, BOJ được xác định ngay từ đầu là một ngân hàng phục vụ cho nhà nước và thực tế là
các cổ đông tư nhân không có quyền đưa ý kiến về các chính sách của BOJ.
Chính sách tiền tệ của BOJ được quyết định bởi Ủy ban chính sách tiền tệ. Ủy ban
chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương Nhật Bản bao gồm 6 thành viên, không kể
Thống đốc Masaaki Shirakawa và hai phó Thống đốc, nhóm họp một hoặc hai lần mỗi
tháng. BOJ có mối liên hệ rất chặt chẽ với Chính phủ Nhật. Trong một chừng mực, có thể
nói BOJ không có được quyền hạn độc lập trong chính sách điều tiết tiền tệ và nền kinh tế
như FED, BOE. Tuy nhiên, BOJ hiện nay vẫn là NHTW có mức độ độc lập trong hoạt động
đối với chính quyền đứng hạng cao trên thế giới. Với sự kết hợp chặt chẽ cùng Chính phủ
Nhật trong việc hướng tới các mục tiêu chung của nền kinh tế, BOJ thực hiện chính sách
điều tiết một cách hiệu quả không kém bất cứ một NHTW thành công nào trên thế giới.
BOJ điều hành lãi suất thị trường thông qua lãi suất cho vay qua đêm.Lãi suất này
tương tự như lãi suất quỹ dự trữ vốn của FED, là lãi suất phải trả khi các ngân hàng cho
nhau vay qua đêm các khoản vay với kì hạn ngắn. Như tên gọi của nó, cho vay qua đêm

giá đem tới cầm cố tại ngân hàng để có được một khoản vay với giá trị nhỏ hơn giá trị trên
các giấy tờ cầm cố (phần chênh lệch chính là tỷ lệ chiết khấu) và ngân hàng sẽ thu lại toàn
bộ khoản tiền khi các giấy tờ này đáo hạn. Trong trường hợp các giấy tờ đó chưa đến hạn
thanh toán mà ngân hàng lại đang cần vốn kinh doanh, họ có thể đem các giấy tờ có giá này
tới chiết khấu tại NHNN với lãi suất chiết khấu NHNN đã công bố trước đó để thu được
nguồn vốn phục vụ hoạt động kinh doanh.
Rõ ràng, lãi suất tái chiết khấu đóng vai trò như mức lãi suất “sàn” trên thị trường. Lý
do rất đơn giản: các tổ chức tín dụng đã vay vốn từ NHNN để cung cấp tín dụng cho khách
hàng, nếu lãi suất cho vay khách hàng thấp hơn lãi suất huy động vốn từ NHNN, các tổ
chức tín dụng sẽ không có lãi. Do vậy, lãi suất tái chiết khấu NHNN đưa ra cũng chính là
mức lãi suất cho vay thấp nhất của các tổ chức tín dụng.
Việc NHNN tái chiết khấu các giấy tờ có giá cũng tương tự như động thái tăng cung
tiền trên thị trường. Tuy nhiên, lãi suất tái chiết khấu tăng cao sẽ hạn chế khả năng tiếp cận
nguồn vốn của các TCTD và ngược lại.
Nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu được thực hiện theo quy định của Luật các tổ
chức tín dụng. Lãi suất chiết khấu được NHNN xác định và công bố, phù hợp với mục tiêu
của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Tăng lãi suất tái chiết khấu được coi là một trong
số các công cụ thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát của NHTW các quốc gia.
1.2 Lãi suất tái cấp vốn Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất áp dụng khi NHNN tái cấp vốn cho các TCTD thông
qua các hình thức như:
 Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng.
 Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
 Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác. (Điều 17 Luật NHNN 06/1997/QHX)
Về cơ bản, lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn có cách thức thực hiện gần
tương tự nhau, trừ đối tượng. Lãi suất tái cấp vốn có thể áp dụng với nhiều loại giấy tờ có
giá hơn và do vậy nó thường cao hơn lãi suất chiết khấu do các giấy tờ có giá đem cầm cố

sau hoặc sẽ công bố khi có sự điều chỉnh trong trường hợp cần thiết. Như vậy, lãi suất cơ
bản đóng vai trò như một “trần” lãi suất trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín
dụng, bảo vệ người đi vay trong trường hợp lãi suất trên thị trường có xu hướng tăng cao.
Ở Việt Nam, lãi suất cơ bản được quy định lần đầu tiên trong Luật NHNN số
06/1997/QHX, chính thức được áp dụng từ 5/2000.Ngày 14/4/2010, NHNN ban hành Thông
tư số 12/2010/TT-NHNN hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam theo
cơ chế lãi suất thỏa thuận, cho phép các tổ chức tín dụng được phép cấp tín dụng với lãi suất
thỏa thuận phù hợp với chính sách tiền tệ của NHNN. Cùng với việc ban hành Thông tư
này, quy định về lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng theo Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN hết hiệu lực.
2. Sự khác biệt trong cơ chế điều hành lãi suất tại Việt Nam và Hoa Kỳ.
Đối với nước ta cơ chế điều hành lãi suất có sự thay đổi qua nhiều giai đoạn, từ giữa
tháng 5/2008 đến nay, NHNN Việt Nam áp dụng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo
đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố
trong từng thời kỳ. Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của
NHTM.Đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường
mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ.
Thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng với biên độ chênh lệch
khoảng 2% để điều tiết lãi suất thị trường:
 “Trần” là lãi suất tái cấp vốn – là suất phạt vì thế đây là loại lãi suất cao nhất,
“sàn” là lãi suất tái chiết khấu – lãi suất có mức thấp nhất (hiện nay là 10% -
8%/năm); lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong
phạm vi hành lang này
 Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng và thực hiện việc
“bơm” tiền ra hoặc “hút” tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất
thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM.
Chúng ta cùng xem lại lịch sử điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status