Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
Lời mở đầu
Nền kinh tế nớc ta trong thời gian gần đây với tốc độ phát triển bình quân
7%/năm trong một thời gian đầu , tỉ giá ổn định , cán cân thanh toán ở mức
cân bằng, Việt Nam đợc coi là một môi trờng kinh tế vĩ mô tơng đối ổn định
cùng với hệ thống ngân hàng lành mạnh và cạnh tranh nhiều so với trớc, thị tr-
ờng tiền tệ hoạt động sôi nổi hơn. Đó là những tiền đề cấn thiết để tự do hoá
lãi suất và chuyển đổi từ các công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp một cách
hiệu quả.
Hơn nữa, NHTƯ ngày càng tăng tính độc lập trong việc thực thi chính
sách tiền tệ là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo cho việc
chuyển đổi sang điều hành chính sách tiền tệ bằng công cụ gián tiếp một cách
có hiệu quả.
Trong bối cảnh nớc ta hiện nay, việc duy trì các công cụ trực tiếp trong
điều hành chính sách tiền tệ sẽ không còn thích hợp vì các công cụ naỳ mặc dù
đợc coi là rất hiệu quả trong việc kiểm soát tăng trởng tín dụng , kiềm chế lạm
phát những năm 90, nhng nó đã bộc lộ những ảnh hởng tiêu cực trong hoạt
động ngân hàng do hạn chế việc huy động vốn và phân bổ các nguồn tài chính
kém hiệu quả.
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới tiến tới gia nhập tổ chức
thơng mại quốc tế(WTO), gia nhập AFTA.theo tinh thần Nghị quyết hội nghị
lần thứ 5 BCH TW Đảng khoá IX, việc chuyển đổi điều hành chính sách tiền
tệ của NHNN thông qua các công cụ gián tiếp thay cho công cụ trực tiếp , tiến
tới hoàn toàn thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận là một yêu cầu bức thiết và
đã đủ điều kiện chín muồi.
Việc thay thế cơ chế LSCB bằng lãi suất thoả thuận thực sự là một bớc
tiến mới trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, các công cụ gián tiếp
của chính sách tiền tệ chỉ điều hành thực sự có hiệu quả khi cơ chế lãi suất
thoả thuận đợc thực hiện và phát huy hiệu quả.Tuy nhiên cơ chế điều hành lãi
suất ở nớc ta hiện nay vẫn cha hoàn hảo, còn nhiều bất cập tác động đến toàn
bộ nền kinh tế.
loại giá cả, lãi suất cũng đợc hình thành trên cơ sở hay đợc điều chỉnh theo
quan hệ cung cầu tiền tệ trên thị trờng , theo những mục tiêu khác nhau.
Để nghiên cứu một cách toàn diện về hai loại lãi suất trên trớc hết, cần
phải đa ra một cách hiểu chính xác về lãi suất :Lãi suất là giá cả của tín dụng,
là tỉ lệ phần trăm tính theo một thời gian nhất định (ngày, tuần, quý, tháng,
năm .) dùng làm căn cứ để tính toán số lợi tức tín dụng phải trả (đối với chủ
thể đi vay ) hoặc nhận đợc (đối với chủ thể cho vay ) để điều hoà lợi ích kinh
tế giữa các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng.
Hoặc: lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian
nhất định mà ngời sử dụng nó phải trả cho ngời sở hữu nó.
Trong một nền kinh tế nh hiện nay đang tồn tại rất nhiều các phạm trù
kinh tế tài chính, trong đó tín dụng và lãi suất là một trong những phạm trù
quan trọng. Nhờ có hoạt động tín dụng mà một bộ phận lớn vốn của xã hội dói
dạng hiện kim hoặc hiện vật đợc vận động từ nơi tạm thời d thừa sang nơi
thiếu để đáp ứng nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế.
Đối với các chủ thể thừa vốn , tín dụng mang đến cho họ cơ hội không
những bảo tồn mà còn tạo thu nhập ( thu lãi ).Đối với các chủ thể thiếu vốn,
tín dụng giúp họ bổ sung vốn để đáp ứng các nhu cầu sản xuất,kinh doanh
hoặc đời sống.
Công cụ và đòn bẩy quảntọng không thể thiếu đợc cho hoạt độnh tín
dụng đó là lãi suất tín dụng. Từ đây cho thấy ý nghĩa quan trọng của lãi suất.
2. ý nghĩa của lãi suất:
Chính nhờ lãi suất tín dụng tác động đến lợi ích của các chủ thể mà quan
hệ tín dụng đợc xác lập và vận động. Nừu không có lãi suất tín dụng hoặc có
nhng không hợp lí sẽ làm triệt tiêu các quan hệ tín dụng,làm giảm đi vai trò
tích cực của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế.
3
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
Từ ngời tiêu dùng,ngòi tiết kiệm, nhà đầu t, các ngân hàng và cả nền kinh
tế vĩ mô đều bị ảnh hởng bởi sự thay đổi của lãi suất.
4
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
điều hành chính sách tiền tệ.Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn nớc ta trong
nhiều nm đổi mới cho thấy vai trò quan trọng của cơ chế điều hành lãi suất đối
với mục tiêu ổn định và phát triển thị trờng tài chính tiền tệ,thúc đẩy kinh
doanh và tăng trởng kinh tế.
II. Các loại lãi suất:
Trong hoạt động thực tiễn hiện nay, các NHTM đang áp dụng nhiều loại
cả trong khâu huy động tiền gửi lẫn trong khâu giải quyết kinh doanh. Trên cơ
sở lập luận nhỏ hẹp của đề án em xin đợc đề cập đến một số loại lãi suất tiêu
biểu:
A/ Phân theo thời gian : Có 3 loại
- Lãi suất áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
- Lãi suất áp dụng đối với các khoản tín dụng trung hạn
- Lãi suất áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn
B/ Theo các loại hình tín dụng: Có 4 loại
1) Lãi suất tín dụng thơng mại:
Đợc áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dới hình thức mua bán
chịu hàng hoá.
Loại lãi suất này đợc tính bao hàm trong tổng giá cả hàng hoá bán chịu.
Lãi suất
TDTM
=
giá cả HH bán chịu
giá cả HH bán trả tiền
ngay
x 100%
chiết khấu hạm chí còn cao hơn lãi suất chiết kháu của hệ thống ngân hàng.
e) Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi
cho nhau vay trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng.
Nó đợc ấn định hàng ngày vào mỗi buổi sáng( còn gọi là lãi suất hàng
ngày). Nó đợc hình thành do quan hệ cung cầu tiền TW của các tổ chứctín
dụng và chịu sự chi phối bởi lãi suất tái cấp vốn của NHTW. Mức độ chi phối
này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trờng mở và tỉ trọng sử dụng
vốn vay NHTW của các tổ choc tín dụng.
g) Lãi suất cơ bản: là lãi suất đợc ngân hàng sử dụng làm cơ sở ấn định
mức lãi suất kinh doanh của mình.
Nó đợc hình thành khác nhau ở các nớc, nó có thể do NHTW ấn định( VD
ở Nhật: là mức lãi suất cho vay thấp nhất) hoặc có thể do bản thân ngân hàng
xác định căn cứ vào tình hình hoạt động cụ thể của ngân hàng mình (VD nh ở
Mỹ, Anh,úc ) và đó là mức lãi suất đợc áp dụng cho các khách hàng có mức rủi
ro rhấp nhất hoặc căn cứ vào mức lãi suất cơ bản của một số ngân hàng
đứng đầu, của các ngân hàng khác biên độ dao động theo 1 tỉ lệ % nhất
định để hình thành lãi suất cơ bản của mình.
3) Lãi suất tín dụng nhà nớc:
áp dụng khi nhà nớc đi vay của các chủ thể khác nhau trong xã hội dới
hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu.
Loại lãi suất này có thể do nhà nớc ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết
kiệm của ngân hàng, vào các yếu tố khác nhau nh sự biến động của lạm phát, nhu
cầu cấp thiết về vốn của nhà nớcHoặc đợc hình thành thông qua hoạt động đấu
6
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
thầu tín phiếu, trái phiếu nhà nớc.ở Việt Nam hiện nay, Ngân hàng nhà nớc đợc
giao nhiệm vụ tổ choc đấu thầu tín phiếu kho bac nhà nớc.
4) Lãi suất tín phiếu tiêu dùng:
áp dụng khi doanh nghiệp cho ngời lao động vay phục vụ nhu cầu tiêu
ding cá nhân.Mức lãi suất tín dụng tiêu ding thờng cao hơn lãi suất tín dụng
7
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
2. Lãi suất tín dụng là công cụ kích thích đầu t phát triển kinh tế.
Với mức lãi suất cho vay hợp lí sẽ kích thích các nhà đầu t vay vốn, mở
rộng và phát triển sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, tăng
thu nhập quốc dân, hạn chế thất nghiệp, tăng mức sống của ngời dân, từ đó tạo
điều kiện cho nền kinh tế ngày càng phát triển.
3. Lãi suất tín dụng là đòn bẩy kích thích ngân hàng và các doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Đối với các doanh nghiệp, khi vay vốn đòi hỏi phải sử dụng một cách tiết
kiệm, có hiệu quả, phải thực sự quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh để
đảm bảo hoàn trả cả vốn và lãi.
Đối vơí các ngân hàng, hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cho vay.
Do đó, ngân hàng phải tìm nhiều biện pháp thiết thực để thu hút nguồn vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, thực hiện các biện pháp cho vay có hiệu
quả, sao cho đáp ứng đợc các yêu cầu hạch toán kinh tế.
5. Lãi suất là một trong những công cụ đánh giá sức khoẻ của nền
kinh tế.
Căn cứ vào sự biến động của lãi suất hoặc tình hình lãi suất trong một
thời kỳ, có thể dự báo một số yếu tố của nền kinh tế.Đó là: tính sinh lợi của cơ
hội đầu t, tình hình tiền tệ, tình hình kinh tế trong tơng lai Từ đó các ngân
hàng hoặc doanh nghiệp có điều kiện để chuẩn bị và lựa chọn phơng án kinh
doanh cho phù hợp.
6. Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Nếu lãi suất thay đổi sẽ kéo theo nhu cầu đầu t, xuất khẩu cũng thay đổi
và nó sẽ làm ảnh hởng đến tổng sản phẩm quốc dân(GNP). Lãi suất đồng thời
cũng làm cho tỉ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm thay đổi, ảnh hởng đến cầu về
hàng hoá, dịch vụ.Do đó, dễ dàng thấy đợc lãi suất đã góp phần điều tiết sản
xuất và tiêu ding, điều tiết cung và cầu hàng hoá.
Ta biết rằng chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ
chính đợc quyết định bởi sự cân bằng giữa cung và cầu vốn. Lãi suất cao hay
thấp sẽ do một số nhân tố sau đây,có thể là từ phía ngời cung vốn, có thể là từ
ngời cầu vốn. Thông thờng thì ngời cung vốn muốn lãi suất ngày càng cao để
họ có thể thu đợc lợ cao, lợi nhuận sẽ cao hơn khi lãi cao, còn đối với ngời có
vốn , lúc đó họ sẽ không đầu t vào các hình thức khác cũng nh sẽ tiêu dùng mà
để giành vốn để tiết kiệm, cho vay lấy lãi, còn đối với ngời co nhu cầu về vốn
thì lãi suất càng thấp thì càng tốt,sẽ tạo điều kiện cho họ tiến hành hoạt động
của mình theo dự kiến.Và cũng chính cung cầu về vốn ảnh hởng ngợc lại lãi
suất.
1) Cung về vốn: là những ngời có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi và họ có
nhu cầu về các công cụ nợ.Đó có thể là:
- Hộ gia đình: là nguồn vốn chủ yếu, liên tục, và với mọi thời hạn nhng
vốn ít và lẻ tẻ.
- Doanh nghiệp: thời hạn cung vốn không dài (ngắn, rất ngắn), nguồn
cung co khối lợng lớn.
- Ngân sách nhà nớc: trong trờng hợp bội thu ngân sách thì ngân sách
trở thành ngời cung vốn,nhng tình trạng này ít khi xảy ra.
- Vốn nớc ngoài chảy vào trong nớc phụ thuộc vào tính chất mở của
nền kinh tế, tự do hoá tài chính (sự di chuyển vốn từ nớc này sang nớc khác,
đồng tiền đợc tự do chuyển đổi)
9
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
2) Cầu về vốn: là những ngời có nhu cầu về vốn và là ngời cung công
cụ nợ.
- Doanh nghiệp: vơid nhiệm vụ là đầu t sản xuất vật chất để kiếm lợ
nhuận nhng vì nguồn vốn chủ sở hữu chỉ đáp ứng một phần về vốn ,do đó để
tiến hành hoạt động doanh nghiệp phải đi vay vốn của các chủ thể khác trong
nền kinh tế nên nó trở thành chủ thể có nhu cầu về vốn.
- Chính quyền: cũng trở thành một chủ thể cầu ốn khi mà cần tiền cho
việc xây dung tiện ích cho giáo dục và những dịch vụ công quyền khác, nhu
nhân tố ảnh hởng đến nó thay đổi . Vì luôn thay đổi nên nó làm giảm mong
muốn đầu t .
c) Tình trạng ngân sách nhà nớc : để bù đắp bội chi ngân sách nhà nớc,
nhu cầu về vốn sẽ tăng và làm tăng mức lãi suất .
** 2. Nhân tố ảnh hởng đến cung vốn vay
- Thu nhập của chủ sở hữu các khoản tiết kiệm : nếu thu nhập dự tính
trong tơng lai tăng cung vốn sẽ tăng .
- Tỷ suất sinh lời dự tính của các công cụ nợ : đó là giá trị kì vọng của
thu nhập đem lại từ việc đầu t một công cụ nợ. Tỷ suất sinh lời càng cao sẽ
làm giảm cung về vốn và lãi suất sẽ tăng trong điều kiện cầu không thay đổi
- Mức rủi ro dự tính : trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi,
nếu rủi ro cao sẽ làm cung ứng vốn giảm . Rủi ro các công cụ nợ sẽ làm thu
nhập thay đổi .
- T ính lỏng của các công cụ nợ : đợc hiểu là khả năng chuyển đổi của
một tài sản tài chính sang tiền mặt . Nếu tính lỏng cao thì cầu công cụ nợ cao
và cung cho vay sẽ cao.
Trên đây là tổng quan về lãi suất , để đi sâu tìm hiểu về cơ chế điều hành
lãi suất của NHTƯ đi từ lãi suất cơ bản đến lãi suất thoả thuận . Phần tiếp theo
sẽ tiếp tục làm rõ hơn về lý luận lãi suất cơ bản và lãi suất thoả thuận .
11
O
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
Chơng II : lãi suất cơ bản
I. Khái niệm
Nh tên gọi của nó , lãi suất cơ bản là lãi suất có tác động chi phối tất cả
các loại lãi suất khác hình thành trong nền kinh tế thị trờng , đó là loại lãi suất
chiếm vị trí quan trọng trong cơ chế thị trờng nói chung và trong cơ chế thị tr-
ờng có sự điều tiết của nhà nớc nh ở Việt Nam hiện nay .
Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực
tế và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia .
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
nh: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất thị thị trờng liên ngân
hàng , lãi suất cho vay tối đa, lãi suất tiền gửi tối thiểu,Có ý kiến lại cho rằng
lãi suất cơ bản chính là lãi suất cho vay tối đa trong giai đoạn hiện nay.
Do tính phức tạp , đa dạng trong cách nhìn nhận về lãi suất cơ bản nên
đến nay vẫn cha đi đến sự thống nhất trong nhận thức ef lãi suất .
Trong khâu điều hành lãi suất cho vay, lãi suất cơ bản còn đợc coi là mức
lãi suất cho vay bình quân gia quyền trên thị trờng với biên độ giao động
không quá tỷ lệ % giữa lợi nhuận thu đợc từ hoạt động cho vay và mức d nợ
tín dụng bình quân.
II. Cơ sở của việc xây dung LSCB:
1. LSCB đợc xây dung dựa trên những lí luận cơ sở sau:
- Chỉ tiêu lãi suất cho vay bình quân gia quyền phản ánh tơng đối
chính xác lãi suất cho vay của thị trờng .Dù không bắt buộc các TCTD phait
tuân thủ , song các chỉ tiêu đợc thông báo sẽ là thông tin quan trọng để các
TCTD tham khảo khi định lãi suất cho vay của đơn vị mình.
- NHNN không quy định mức lãi suất cho vay tối đa xuất phát từ tình
hình thực tế là các TCTD đều muốn đa ra lãi suất cho vay thấp để thu hút
khách hàng.Do đó, việc quy định trần lãi suất cho vay là không cần thiết.Để
ngăn ngừa cuộc chạy đua cạnh tranh hạ thấp lãi suất cho vay bất chấp cả việc
tính toán hiệu quả kinh tế có thể dẫn đến khả năng làm suy yếu hệ thống ngân
hàng.Lãi suất cơ bản còn bao gồm cả lãi suất cho vay tối thiểu.Giới hạn sàn lãi
suất cho vay đợc định ra phải đảm bảo hoạt động cho TCTD với quy mô và
chất lợng trung bình trang trải đợc chi phí huy động vốn và chi phí hoạt động
tín dụng của mình.
- LSCB đợc hiểu là giá cả tín dụng, giá cả này trong điều kiện nền
kinh tế thị trờng phải đảm bảo yêu cầu và quyền lợi chính đáng cho ngời gửi
tiền ( tiền gửi không mất giá và có lãi).Nghĩa là: tỉ lệ lạm phát < lãi suất huy
động.
Mức lãi suất phải đảm bảo duy trì và phát triển của hoạt động ngân
NHTM đối với khách hàng, chuyển sang cơ chế lãi suất linh hoạt, phù hợp với
thị trờng quốc tế nhng vẫn có sự kiểm soát của nhà nớc.Cụ thể là mức lãi suất
cho vay ngắn hạn không vợt quá mức Sibor.
+ Cho vay bằng ngoại tệ khác: chiếm tỉ lệ nhỏ nên NHTM tự xem xét
quyết định mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay trên cơ sở mức lãi suất thị tr -
ờng quốc tế và cung cầu vốn tín dụng của từng loại ngoại tệ trong nớc.
- LSCB đợc hình thành trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay khách
hàng tốt nhất của các NHTM, LSCB còn có thể chọn lãi suất huy động vốn
hoặc lãi suất cho vay . Nhng hợp lí nhất là lãi suất huy động vốn, co nh vậy
mới đảm bảo cho sự vận hành bình thờng các hoạt động huy động vốn, nhận
tiền gửi và cho vay trong nền kinh tế.
Trên cơ sở tìm hiểu về LSCB, về khái niệm và các cơ sở hình thành nên
lãi suất đã cho thấy sự thay đổi hay chính xác hơn là một bớc tiến của NHNN
trong việc điều hành và quản lí chính sách tiền tệ . Đây chỉ là cái nhìn khái
quát về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, đến phần tiếp theo khi đề cập đến
thực trạng thì mọi khía cạnh của lãi suất cơ bản sẽ đợc trình bày đầy đủ và rõ
14
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
ràng hơn. Sẽ cho thấy lí do tại sao có sự thay đổi trong cơ chế điều hành lãi
suất và cơ chế nh thế nào? Tại sao lại thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận?
15
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
Chơng III : lãi suất thoả thuận
I- Khái niệm:
Trớc hết nói về khái niệm cho vay theo lãi suất thoả thuận xem có đồng
nghĩa với cơ chế tự do hoá lãi suất hay thả nổi lãi suất hay không? Nếu nh chỉ
xét ở góc độ là chủ yếu để cho các NHTM tự do định đoạt lãi suất tín dụng
không bị khống chế bằng một mức lãi suất nào cả thì nên gọi là cơ chế thả nổi
lãi suất. Nhng ở đây không phải thả nổi hoàn toàn mà có sự quản lí, điều tiết
của nhà nớc do đó nên gọi là cơ chế thả nổi lãi suất co sự quản kí của nhà nớc.
Nhng thực ra là do trong cơ chế lãi suất cơ bản, mặc dù trong gần hai
năm thực hiện theo cơ chế này đã tạo ra điều kiện cho các TCTD mở rộng cho
vay, góp phần thúc đẩy nhịp độ tăng trơng kinh tế ở mức cao so với khu vực và
thé giới. Các TCTD và khách hàng đã có một khung lãi suất tơng đối rộng cho
việc thoả thuận lãi suất vay vốn. Nhng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản vẫn
mang bong dáng cơ chế trần lãi suất, đã ít nhiều làm méo mó quan hệ cung
cầu vốn trên thị trờng, gây trở ngại cho các TCTD trong việc huy động và phân
bổ nguồn lực quan trọng bậc nhất dối với tăng trởng kinh tế. Nói chính xác
hơn là có những dự án kinh doanh khả thi, có thể mang lại lợi nhuận cao đã
không tiếp cận đợc với nguồn vốn ngân hàng. Bởi với những dự án có thể có
lợi nhuận cao thì thờng có rủi ro đi kèm và do vậy lãi suất cho vay sẽ phải vợt
mức LSCB cộng với biên độ cho phép. Tình trạng nhiều dự án có khả năng
mang lợi không tiếp cận đợc với vôn đã và đang hạn chế việc chip lấy cơ hội
đầu t của một bộ phận không nhỏ ngời sản xuất, đặc biệt là ngời sản xuất ở
khu vực nông thôn.
- Đồng thời hiện nay các điều kiện cơ bản cho việc áp dụng lãi
suất thoả thuận đã chín muồi:
+ Thứ nhất: nền kinh tế nớc ta đã phát triển ổn định,vững chắc theo cơ
chế thị trờng định hớng XHCN. Môi trờng pháp lí cho hoạt động ngân hàng
dần đồng bộ.Đặc biệt là NHNN đã mạnh lên nhiều, có khả năng quản lí chặt
chẽ các TCTD và điều tiết lãi suất thị trờng.
+Thứ hai: Hệ thống các TCTD đợc sắp xếp cơ cấu lại theo đề án cơ cấu
đợc Chính phủ duyệt.
Không chỉ có những điều kiện cơ bản trong nớc mà cả trên thế giới cũng
tác động mạnh đến xu hớng này. Trên thế giới hiện nay các nớc đang trong
quá trình phát triển theo kinh tế thị trờng đều phấn đấu để tiến tới tự do hoá lãi
suất , bởi vì tự do hoá lãi suất có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế quốc dân,
có khả năng quyết định nhịp độ tăng trởng kinh tế . So sánh giữa tự do hoá lãi
suất và kiểm soát lãi suất cho thấy tự do hoá lãi suất có nhiều u điểm cơ bản
nh: nó thúc đẩy tăng trơng kinh tế, tạo điều kiện ổn định kinh tế vĩ mô, tăng
giá cả hàng hoá, chứ không do ý muốn của ngời bán hay ngời mua. Về việc
hình thành lãi xuất ngoài quy luật cung cầu còn phải kể đến một nguyên tắc
chi phối lãi xuất cho vay. Đó là : lãi suất là một phần của lợi nhuận. Thông th-
ờng, lãi suất cho vay bao gời cũng thấp hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân của
doanh nghiệp.
Hai phần lí luận về lãi suất cơ bản & lãi suất thoả thuận ở trên đã đề cập
cha làm rõ đợc tính chất tất yếu của việc chuyển đổi cơ chế lãi suất của NHNN
cũng là việc chuyển từ quản lý chính sách tiền tệ bằng công cụ gián tiếp sang
công cụ trực tiếp. Bằng việc phân thực trạng của cơ chế lãi suất cơ bản ,
những mặt đợc và những vấn đề còn tồn tại, ta sẽ thấy đợc lí do thực hiện theo
cơ chế lãi suất thoả thuận và những thay đổi có thể xảy ra nếu cơ chế này đi
vào cuộc sống.Và những gì trong nền kinh tế thay đổi từ khi có lãi suất thoả
thuận. Định hớng trong thời gian tới nh thế nào.
18
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
Phần II: thực trạng về điều hành lãi suất cơ
bản và lãi suất thoả thuận ở Việt Nam
Trớc khi đi vào bàn cụ thể về 2 loại cơ chế này,đề án sẽ trình bày sơ lợc
về diễn biến lãi suất ở Việt Nam từ trớc đến nay.
Chơng I: diễn biến lãi suất Việt Nam từ trớc
đến nay
Thực hiện đờng lối đổi mới do ĐH Đảng lần thứ VI (1986) đề ra chuyển
nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang KTTT định hớng XHCN, một nội
dung đổi mới có tính then chốt lãi suất chuyển hệ thống ngân hàng từ một
sang hai cấp.Quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng đợc bắt đầu từ 3/1988
theo Nghị định 53/ĐH của Thủ tớng Chính phủ , và chính thức từ Pháp lệnh
NH 5/1990. Từ 1990 về cơ bản đã hình thành hệ thống ngân hàng với chức
năng NHTƯ, ngân hàng của các ngân hàng và ngân hàng của Chính phủ . Mặc
dù vậy cơ chế lãi suất âm vẫn kéo dài đến tận 6/1992. Điều này chứng tỏ việc
thay đổi lãi suất là vấn đề khó khăn và nhạy cảm nhất vì nó liên quan trực tếp
+ cho vay quĩ tín dụng nhân dân cơ sở
Đến tháng 1/1998 đợc điều chỉnh còn 3 mức
+ cho vay của các TCTD ở đô thị
+ cho vay của các TCTD ở nông thôn
+ cho vay quĩ tín dụng nhân dân
Đối với lãi suất cho vay ngoại tệ , NHNN cũng khống chế trần lãi suất
cho vay , đồng thời kết hợp khống chế trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của doanh
nghiệp để tăng cờng quản lý ngoại hối .
Phù hợp với diễn biến của nền kinh tế NHNN điều chỉnh giảm nhanh lãi
suất trần từ 1/1998- 7/2000 đã 6 lần điều chỉnh giảm . Một số điểm lu ý trong
giai đoạn này :
Một là: do ảnh hởng khủng hoảng kinh tế khu vực và một vài nguyên
nhân , tốc độ tăng trởng kinh tế giảm, nhu cầu đầu đầu t vay vốn giảm, các
ngân hàng thơng mại cạnh tranh bằng hạ lãi suất cho vay .
Hai là : Mạng lới ngân hàng cha rộng khắp để đáp ứng nhu cầu ngời dân.
c) Giai đoạn từ 5/8/2000 đến nay thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản:
Từ 6/2001 lãi suất cho vay USD do NHTM tự ấn định trên cơ sở lãi suất
thanh toán quốc tế và cung cấp vốn tín dụng ngoại tệ trong nớc.
Qua quá trình trên có thể thấy:
+ Cơ chế lãi suất gắn chặt và phù hợp với nền kinh tế biểu hiện ở chổ
những biện pháp điều hành lãi suất,những năm qua của NHNN là phù hợp, đợc
chấp nhận và chuyển dần theo hớng kinh tế thị trờng định hớng XHCN.
+ Cơ chế lãi suất cơ bản cộng biên độ quy định đã tạo cho các TCTD linh
hoạt trong việc ấn định lãi suất cho vay đồng thời tránh khuynh hớng bắt bí
khách hàng vay lãi suất cao hoặc chạy theo vụ lợi dẫn đến rủi ro trong tín
dụng.
Đới với các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, lãi suất là công cụ
gián tiếp để thực hiện chính sách tiền tệ. NHTƯ chỉ công bố lãi suất cơ bản
20
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
Từ 6/2001 lãi suất vay USD do TCTD tự ấn định trên cơ sở lãi suất thanh
toán quốc tế và cung cấp vốn tín dụng ngoại tệ trong nớc.
Năm 2001, NHNN Việt Nam tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất
tín dụng theo định hớng điều chỉnh lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng
( ngoại tệ) đồng Việt Nam một cáhc linh hạot. Lãi suất cơ bản đợc xác định
trên cơ sở bám sát tín hiệu thị trờng đáp ứng mục tiêu của chính sách tiền tệ,
đảm bảo sự kiểm soát của NHNN và từng bớc thực hiện mục tiêu tự do hoá lãi
suất . Ngoài việc tham khảo lãi suất cho vay của 15 NHTM áp dụng đối với
khách hàng tốt nhất (năm 2000 mới chỉ tham khảo khách hàng tốt nhất của 9
NHTM ).LSCB năm 2001 đã đợc xác định trên cơ sở tham khảo thêm lãi suất
thị trờng nội tệ liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trờng mở, ks đấu thầu tín
phiếu kho bạc nhà nớc và một số yếu tố khácChính vì vậy lãi suất của
NHTM là tín hiệu của NHNN trong việc điều hành thị trờng tiền tệ. Trong
năm 2001 ngân hàng Việt Nam đã chủ động điều chỉnh giảm lãi suất liên tục
nh ở phần trên cho thấy biên độ trên đối với lãi suất cơ bản đợc quy định đủ
rộng, không có sự phân biệt biên độ giữa các khu vực với nhau mà chỉ có sự
phân biệt giữa lãi suất cho vay ngắn hạn và lãi suất cho vay tryng và dài
hạn( nh trên). Vào thời điểm cuối năm 2001 các mức lãi suất cho vay phổ biến
của các NHTM đối với nền kinh tế nh sau:
22
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
+ Cho vay ngắn hạn khu vực thành thị là 0,75%/tháng, khu vực nông
thôn là 0,9%/tháng.
+ Cho vay trung và dài hạn khu vực thành thị là 1%/tháng, khu vực nông
thôn là 1,1%/tháng.
II. Tác động của cơ chế điều hành LSCB đến các chủ thể
trong nền kinh tế:
Việc thay đổi cơ chế lãi suất này sang cơ chế lãi suất khác làm cho lãi
suất ở từng thời điểm là khác nhau, chính việc thay đổi lãi suất đã tác động
đến nhiều lĩnh vực của đời sống, kinh tế, xã hội trên cả các lĩnh vực kinh tế vi
Đề án Lý thuyết tiền tệ và ngân hàng
cạnh tranh cực ký mạnh về nhiều mặt. Cái khó khăn đối với các NHTM hiện
nay là phải vừa cạnh tranh nhng đồng hành trong sự phát triển. Cả hệ thống
phải hớng đến những môi trờng lâu dài hơn là những môi trờng trớc mắt.
Trên cơ sở LSCB VND do NHNN công bố hàng tháng chủ động quy định
cụ thể mức lãi suất cho vay của mình, đồng thời quy định cụ thể mức lãi suất
điều chuyển vốn trong hệ thống nh NHNN&PTNT Việt Nam hay lãi suất tiền
gửi nh NHNT Việt Nam , hoặc tính trả đủ phí huy động vốn với chi nhánh
NHTM thừa nhiều vốn phải điều đi.Nhìn chung các NHTM quốc doanh có
cơ chế quy định lãi suất điều chuyển vốn trong hệ thống của mình không hoàn
toàn giống nhau. Chi nhánh các NHTM cũng chủ động thực hiện mức lãi suất
cho vay cụ thể của mình đối với từng khách hàng, còn về lãi suất huy động
vốn thì về cơ bản không chênh lệch giữa các chi nhánh trong mỗi NHTM cũng
nh giữa các NHTM khác nhau.
Song đối với các NHTM cổ phần do khó khăn về mạng lới và năng lực tài
chính, do hạn chế về uy tín nên thờng có mức lãi suất huy động và lãi suất cho
vay cao hơn các NHTM quốc doanh.Còn trong khối NHTM quốc doanh thì
NHNNcó mức lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay thấp. Các chi nhánh NH nớc
ngoài cũng có lãi suất tiền gửi thấp và lãi suất cho vay hấp dẫn.
2. Tác động tới việc quản lý kinh tế vĩ mô:
Sự thay đổi của lãi suất sẽ ảnh hởng đến nhu cầu đầu t, xuất khẩu.do đó
sẽ ảnh hởng đến tổng sản phẩm quốc dân.Đồng thời sự thay đổi lãi suất cũng
ảnh hởng đến nhu cầu tiêu dùng, ảnh hởng tới nhu cầu hàng hoá.Do đó lãi suất
đã góp phần điều tiết sản xuất và tiêu dùng, điều tiết cung cầu hàng hoá.
Do có sự chênh lệch lãi suất cho vay quá lớn trong nền kinh tế và giữa
các loại hình tín dụng, lãi suất cho vay của các TCTD lên tới 1,25%/tháng, lãi
suất cho vay trung và dài hạn ở nông thôn lên tới 1,05%/tháng, trong khi lãi
suất cho vay các doanh nghiệp nhà nớc của các NHTM ở đô thị chỉ có khoảng
0,56%-0,58%.
Lãi suất còn là công cụ để thực hiện môi trờng chính sách tiền tệ quốc
15% , và hiện nay là 10%.
+ Biên độ giao dịch trong mua bán ngoại tệ quy định quá hẹp.
LSCB là lãi suất ấn định trực tiếp bởi cơ quan chức năng (NHTƯ) dới
nhiều góc độ khác nhau. Có thể là để bảo vệ lợi ích cho ngời gửi tiền, thì
NHTƯ sẽ ấn định lãi suất tiền gửi tối thiểu. Nếu để bảo vệ lãi suất cho ngời đi
vay ( các doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế)NHTƯ sẽ ấn định lãi suất cho vay
tối đa. Nếu muốn bảo vệ lợi ích cho các ngân hàng , nhằm tạo an toàn cho hệ
thống NH_NHTƯ sẽ ấn định mức lãi suất tiền gửi tối đa và lãi suất cho vay tối
thiểu.
3. Tác động tới các chủ thể trong nền kinh tế: là ngời gửi tiền ( ngời
tiêt kiệm) và ngời đi vay.
Cung và cầu vốn trên thị trờng dần gặp nhau và tiến tới hình thành lãi
suất bình quân trong nền kinh tế.Cơ chế lãi suất cơ bản đã tác động rất lớn đến
lãi suất huy động vốn trên thị trờng. Do các ngân hàng đa dạng hoá các hình
thức huy động khác nhau đã hình thành nên các thị trờng: thị trờng cổ phiếu,
tín phiếu, trái phiếu, thị trờng tiền tệ, tiền gửi,thị trờng chứng khoán.tạo ra đ-
ợc sự lựa chọn tối u cho mỗi ngời dân, với mạng lới huy động rộng khắp.
Đồng thời an toàn về tiền gửi trong huy động vốn của ngời dân đợc đảm
bảo cao hơn, thúc đẩy nguồn vốn trong xã hội.
25