tiểu luận môn học quản trị rủi ro ứng dụng các công cụ phái sinh trong việc quản trị rủi ro giá xăng dầu hiện nay tại việt nam - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
QUẢN TRỊ RỦI RO
Tiểu luận
ỨNG DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG VIỆC QUẢN TRỊ RỦI RO GIÁ XĂNG DẦU
HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: TS.Mai Thu Hiền
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
72. Nguyễn Huy Thành
33.Nguyễn Thị Mai Hương
52. Đinh Văn Nghị
76. Nguyễn Thị Minh Thu
88. Đỗ Quang Tùng
Lớp: TCNH 19A
Hà Nội - Năm 2013
PHẦN MỞ ĐẦU
Việt Nam đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải tăng cường các hoạt động nhằm phục
vụ cho nhu cầu của người dân, đồng thời phải cạnh tranh với nhau giữa các doanh
nghiệp trong nước và nước ngoài. Việc bình ổn giá trong xu thế thị trường hiện nay là
một vấn đề rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế, kìm chế lạm phát
cao của nền kinh tế. Nhu cầu tiêu dùng cũng như sản xuất tiêu dùng ngày càng tăng,
nhiều ngành nghề phải chịu sự tác động của sự biến động giá cả. Mặt hàng xăng dầu là
một nhân tố mà mỗi quốc gia đều phải sử dụng cho nhu cầu tiêu dùng cũng như sản
xuất, nó cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế, đất nước muốn phát triển thì phải có nguồn
năng lượng. Hiện nay xăng dầu vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu. Giá cả của xăng dầu
trong thời gian qua tăng rất cao liên tục phá vở những kỷ lục về giá cả gây ảnh hưởng
không nhỏ đến nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng.
Mặc dù, chính phủ đã có những kế hoạch dài hạn để tránh việc phụ thuộc quá


Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển thị trường các công cụ phái sinh.

Những vấn đề xăng dầu trên thế giới và ở Việt Nam.
Sử dụng các công cụ phái sinh vào việc bình ổn giá xăng dầu.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá các vấn đề liên quan đến thị trường các công cụ phái sinh

Đánh giá hoạt động thị trường các công cụ phái sinh ở Việt Nam.
Xác định vai trò của việc nghiên cứu các công cụ phái sinh đối với nền kinh tế
thế giới và ở Việt Nam.
Nêu ra một số biện pháp cụ thể cũng như việc thu thập thông tin để ứng dụng các
công cụ phái sinh vào thị trường.
2. Kết quả mong đạt được.
Giới thiệu cho nhiều người hiểu biết về thị trường các công cụ phái sinh.
Giới thiệu cho các tổ chức cá nhân cũng như đơn vị có hướng nghiên cứu ứng
dụng công cụ phái sinh về vai trò của thị trường các công cụ phái sinh vào các mặt hàng
xăng dầu cũng như các sản phẩm khác giúp xác định được mục tiêu cũng như ổn định
thị trường.
Các hoạt động của thị trường các sản phẩm phái sinh đi vào nề nếp trở thành một
thói quen của các doanh nghiệp và cá nhân. Nâng cao vị thế của doanh nghiệp, cá nhân
trong nền kinh tế.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Nghiên cứu về thị trường sản phẩm phái sinh trên thế giới và tình hình phát triển
ở Việt Nam.
Tình hình biến động xăng dầu trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua.
4. Phương pháp nghiên cứu.
2
 Nghiên cứu tại văn phòng:
Thông qua sách, báo chí, tài liệu, internet…

thế giới 35
3.1.1 Thị trường phi tập trung 35
3.1.1.1 Thị trường giao sau phi tập trung 35
3.1.1.2 Thị trường quyền chọn phi tập trung 35
3.1.2 Thị trường tập trung 37
3.1.2.1 Thị trường giao sau tập trung 38
3.1.2.2 Thị trường quyền chọn tập trung 38
4
3.1.3 Cơ chế yết giá giao sau và quyền chọn 39
3.1.3.1 Hợp đồng giao sau 39
3.1.3.2 Hợp đồng quyền chọn 41
3.2 Ứng dụng cho thị trường Việt Nam 44
3.2.1 Những bất cập trong việc ứng dụng các công cụ phái sinh ở thị trường
Việt Nam 44
3.2.2 Tại sao các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam cần phòng

ngừa rủi ro cho mặt hàng này là cần thiết? 48
3.3 Các giải pháp giảm ảnh hưởng biến động giá xăng dầu đến đời sống kinh tế
- xã hội Việt Nam 49
3.3.1 Nhà nước cần tăng lượng dự trữ xăng dầu 49
3.3.2 Khuyến khích tiết kiệm năng lượng 50
3.3.3 Các DN tự tích lũy tài chính và xây dựng chiến lược kinh doanh phù

hợp, giảm tối đa chi phí để tăng sức cạnh tranh 51
3.4 Giải pháp ứng dụng quyền chọn và giao sau xăng dầu ở Việt Nam 51
3.4.1 Xây dựng khung pháp lý hoàn chỉnh về công cụ tài chính phái sinh. 51
3.4.2 Sử dụng chính sách giá và thuế để thực hiện giá xăng dầu theo cơ chế
thị trường, cần chống độc quyền ngành 52
3.4.3 Xây dựng thị trường hiệu quả 52
3.4.4 Nhận thức đầy đủ vai trò quan trọng của các công cụ phái sinh trong

đồng mà thành quả của chúng được xác định trên một công cụ hoặc một tài sản khác. Các công
cụ phái sinh khác nhau bao gồm các hợp đồng quyền chọn, kỳ hạn, giao sau, quyền chọn,
quyền chọn trên hợp đồng giao sau, hoán đổi. Chúng ta sẽ đi sâu hơn vào phần hợp đồng kỳ
hạn, quyền chọn và giao sau cho sản phẩm là xăng dầu.
1.4.2 Vai trò của các công cụ tài chính phái sinh.
Thứ nhất, quản trị rủi ro: Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn
làm giảm rủi ro của mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là các
nhà đầu tư. Vì thị trường này rất hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các nhà đầu tư,
không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù hợp với bản thân mình. Công cụ
6
phái sinh chính là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế
mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn và đương nhiên, lợi nhuận của các giao dịch cùng được
chia sẻ cho các bên. Công cụ phái sinh gồm các công cụ giao dịch kỳ hạn (Forward), hoán đổi
(Swaps), quyền chọn (Options) và tương lai (Futures).
Thứ hai, thông tin hiệu quả hình thành giá: Các thị trường kỳ hạn và tương lai là nguồn
thông tin quan trọng đối với giá cả. Đặc biệt, thị trường tương lai được xem là một công cụ chủ
yếu để xác định giá giao ngay của tài sản. Điều này không hề bất bình thường, bởi có rất nhiều
hàng hoá được giao dịch trên thị trường tương lai nhưng thị trường giao ngay của nó rất rộng
lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định được giá giao ngay của chúng. Ở đây, thường giá
tương lai của những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá giao ngay. Thêm nữa, thị
trường giao sau, trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên các thông tin do nó cung cấp có tính
tin cậy cao hơn. Những thông tin được cung cấp trên thị trường phái sinh dù trực tiếp hay gián
tiếp đều góp phần hình thành giá giao ngay trong tương lai một cách có hiệu quả mà những
người tham gia thị trường có thể chốt lại trong giới hạn chấp nhận của mình.
Thứ ba, các lợi thế về hoạt động và tính hiệu quả: Chi phí giao dịch thấp hơn, điều này
làm cho việc chuyển hướng từ các giao dịch giao ngay sang phái sinh ngày càng dễ dàng và
hấp dẫn hơn. Tính thanh khoản cao hơn hẳn so với thị trường giao ngay. Thêm nữa, tỷ suất
sinh lời và rủi ro có thể được điều chỉnh ở bất cứ mức độ nào như mong muốn. Các nhà đầu tư
có thể tìm kiếm được những khoản lợi nhuận đáng kể từ chênh lệch giá, chênh lệch lãi suất.
Tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều có thể tìm thấy lợi nhuận. Thị trường phái sinh giúp

ngày. Hợp đồng này đã được giao dịch rất năng động trong nhiều năm liền nhưng sau đó đã
giảm dần do những thành công mang lại từ các hợp đồng giao sau Eurodollar, đây là dạng giao
dịch đã được phát triển mạnh mẽ trong những năm thập niên 1980.
Vào năm 1977, CBOT bắt đầu cho giao dịch sau trái phiếu kho bạc T-Bond Mỹ, đây là
loại hợp đồng giao sau thành công nhất trong các thời kỳ. Chỉ trong vòng một vài năm, công cụ
này đã trở thành hợp đồng giao dịch năng động nhất và vượt qua cả hợp đồng giao sau ngũ cốc,
vốn đã tồn tại hơn một thế kỷ trước đây.
Vào thập niên 1980, hợp đồng giao sau chỉ số chứng khoán đã đạt được những thành
công cao độ. Công cụ này là chiếc cầu nối giữa các nhà giao dịch cổ phiếu tại New York và các
nhà giao dịch giao sau tại Chicago. Tuy nhiên, có một điều thú vị là hợp đồng giao sau chỉ số
chứng khoán lại không phải xuất hiện ở New York hoặc Chicago mà là tại thành phố Kansas.
Hội đồng thương mại thành phố Kansas đã hoàn thành quá trình đăng ký với bên đối tác New
York và Chicago và vào ngày 16 tháng 2 năm 1982 đã cho khai trương các hợp đồng giao sau
chỉ số Value Line. Thị trường quyền chọn và chỉ số, một bộ phận của CME, đã hình thành vào
21 tháng 4 với các hợp đồng giao sau S&P 500. Sàn giao dịch giao sau New York cũng đã
tham gia vào cuộc chơi này vào ngày 6 tháng 5, với các hợp đồng giao sau chỉ số sàn giao dịch
giao sau New York. Mặc dù vậy, hợp đồng giao sau chỉ số Value Line và NYSE hiện nay có
khối lượng giao dịch không lớn lắm.
Có một điều thú vị là tại Mỹ, chỉ sau một vài năm đã có hợp đồng giao sau chỉ số trung
bình công nghiệp Dow Jones, một chỉ số tên tuổi trên thị trường chứng khoán. Hầu hết các
8
nước phát triển đều có sàn giao dịch giao sau riêng cho hợp đồng chỉ số chứng khoán hoạt
động thành công, nước có hợp đồng giao sau chỉ số chứng khoán cực kỳ phổ biến gồm Anh,
Pháp, Nhật, Đức, Tây Ban Nha và HồngKông .
 Mục đích, vai trò của hợp đồng giao sau:
− Hợp đồng giao sau đóng vai trò như một công cụ đầu tư:
Đây là một vai trò hết sức quan trọng của thị trường giao sau. Các nhà đầu tư sử dụng
hợp đồng giao sau như một công cụ đầu cơ để kiếm lời, nhờ đó thị trường giao sau mới hoạt
động liên tục, nhộn nhịp và hiệu quả được. Sở dĩ người đầu cơ mạo hiểm chấp nhận rủi ro để
tham gia thị trường giao sau là vì công cụ đòn bẩy tài chính của thị trường giao sau. Khi người

hợp đồng giao sau.
Đối với sự thay đổi về lãi suất: Lãi suất cao thì giá trái phiếu sẽ hạ, ngược lại, nếu lãi suất
hạ thì giá trái phiếu cao. Dựa vào tính chất đó mà các công ty, các quỹ đầu tư hoặc kể cả chính
phủ thi hành các chính sách tài chính của mình sao cho ít bị thiệt hại vì sự thay đổi về lãi suất.
Để tiện cho việc so sánh, quan hệ giữa người mua, người bán hợp đồng giao sau và lợi
ích của họ được mô tả như sau:
Bảng 1.1 Lý do để mua, bán hợp đồng giao sau
Lý do để mua

hợp đồng giao sau
Lý do để bán

hợp đồng giao sau
Người bảo vệ. Khóa giá mua. Đạt được mục
đích bảo hộ khi giá tăng.
Khóa giá bán. Đạt được mục đích
bảo hộ khi giá giảm.
Người đầu cơ. Kiếm lời từ việc tăng giá. Kiếm lời từ việc giảm giá.
− Ngoài ra, hợp đồng giao sau còn là công cụ điều chỉnh giá cả trên thị trường: Việc
các bên mua bán hàng hoá với giá cả dự kiến trong tương lai giúp cho thị trường tự điều chỉnh
giá. Nhờ biết trước được giá cả dự kiến trong tương lai nên những người cần bảo hộ có thể điều
tiết sản xuất, tự động cân bằng cung cầu. Hơn thế nữa, việc niêm yết giá cả công khai trên thị
trường sẽ giúp cho các nhà kinh doanh không lo việc mua bán không đúng giá, ép giá. Giá cả
được niêm yết công khai không chỉ lợi cho những người giao dịch trên thị trường giao sau mà
nó còn là căn cứ để các nhà kinh doanh trong nước, khu vực hoặc thế giới thực hiện việc mua
bán của mình.
− Sử dụng giao sau để đầu cơ:
− Đối với vai trò quản lý Nhà nước:
Đối với các loại hàng hoá thông thường, sự xuất hiện thị trường giao sau sẽ giúp cho các
thành phần tham gia thị trường cũng như Nhà nước nắm được quan hệ cung cầu và giá cả. Sự

đưa vào giao dịch trong tháng 6/1977.
Từ thời điểm đó, nhiều sàn giao dịch chứng khoán và gần như tất cả sàn giao dịch giao
sau bắt đầu giao dịch quyền chọn. Được kích thích bởi nhu cầu của công chúng về quyền chọn,
ngành kinh doanh này tăng trưởng mạnh mẽ cho đến khi thị trường chứng khoán sụp đổ nặng
nề vào năm 1987. Bị tổn hại bởi cú sốc này, nhiều nhà đầu tư cá nhân đã sử dụng quyền chọn
trước đây đã tránh xa thị trường này, và khối lượng giao dịch chỉ mới phục hồi ở mức năm
1987 trong thời gian gần đây.
Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong đó cho
người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán tài sản nào đó vào một ngày
trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
11
Theo luật thương mại (Điều 66- LTM). Hợp đồng quyền chọn mua hoặc quyền chọn
bán là thoả thuận, theo đó bên mua có quyền được mua hoặc được bán một hàng hoá xác định
với mức giá xác định trước và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này.
Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền
chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức
giá xác định, và trong một thời gian nhất định.
Quyền chọn kiểu Châu Âu là quyền chọn được thực hiện vào cuối kỳ hạn.
Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền chọn có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào
trước khi đáo hạn. Quyền chọn này có tính linh động hơn so với quyền chọn kiểu Châu Âu.
Phí quyền chọn là người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền.
Quyền chọn bán (put option) là một quyền chọn để bán tài sản, cho phép người mua
Option có quyền quyết định thực hiện bán tài sản hay không bán tài sản theo giá đã ấn định
trước trong hợp đồng. Hay có thể hiểu người sở hữu một quyền chọn bán có quyền bán một tài
sản, tại một mức giá nhất định, vào một thời điểm nhất định.
Quyền chọn mua (call option) là một quyền chọn để mua tài sản, cho phép người mua
Option có quyền quyết định thực hiện mua tài sản hay không mua tài sản theo giá đã ấn định
trước trong hợp đồng. Hay có thể hiểu người sở hữu một quyền chọn mua có quyền mua một
tài sản, tại một mức giá nhất định, vào một thời điểm nhất định.
Giá thực hiện còn được gọi là giá điểm là mức giá tại đó tài sản trong một quyền chọn

trường giao sau, và điều này cũng làm cho họ thoát khỏi nghĩa vụ bán hàng. Đặc trưng này
giúp những người tham gia mua bán công cụ tài chính phái sinh tránh được những thiệt hại
kinh tế đáng kể nếu trong thời hạn hợp đồng giá cả của tài sản cơ sở có sự biến động không có
lợi cho mỗi bên.
Nhưng khác biệt rõ nhất với thị trường kỳ hạn là thị trường giao sau sử dụng hai công
cụ để loại bỏ rủi ro này. Thứ nhất, thay vì giao nhận giá trị hợp đồng vào một ngày thông qua
mua bán đơn thuần vào ngày đáo hạn, thay đổi trong giá trị hợp đồng giao sau được thực hiện
thanh toán vào cuối ngày giao dịch. Điều này có nghĩa hợp đồng giao sau có tính chất thanh
toán tiền mặt hay điều chỉnh theo ngày, tức thời hạn giao sau được rút ngắn lại. Nhờ thế mà rủi
ro trong thanh toán được giảm đi. Thứ hai, hợp đồng giao sau yêu cầu tất cả các thành viên
tham gia thị trường, người bán và người mua đều như nhau, phải thực hiện một khoản ký gửi
gọi là ký quỹ. Nếu hợp đồng giao sau của bạn tăng giá trị trong ngày giao dịch, mức tăng này
sẽ được công vào tài khoản ký quỹ của bạn vào cuối ngày. Ngược lại, nếu hợp đồng của bạn
giảm giá trị, thua lỗ sẽ được trừ ra.Và nếu số dư tài khoản ký quỹ của bạn giảm xuống mức tối
thiểu đã thoả thuận trước đó, bạn sẽ bị yêu cầu nộp một khoản ký gửi bổ sung, tài khoản ký
quỹ của bạn phải được bổ sung như cũ hoặc là vị thế của bạn sẽ bị đóng.
Hợp đồng giao sau rất giống với một danh mục các hợp đồng kỳ hạn. Tuy nhiên, hợp
đồng giao sau và một danh mục các hợp đồng kỳ hạn chỉ giống nhau khi lãi suất là có thể xác
định trước, tức là biết được một cách chắc chắn. Vào lúc đóng cửa mỗi ngày, các hợp đồng
giao sau mang tính kỳ hạn đang tồn tại sẽ được thanh toán cũng như một hợp đồng mới được
ký kết. Tính chất thanh toán hàng ngày kết hợp với yêu cầu ký quỹ cho phép hợp đồng giao sau
giảm thiểu đáng kể rủi ro tín dụng vốn có của hợp đồng kỳ hạn.
13
1.5.2 Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn.
Hợp đồng quyền chọn mang những đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá:
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là
thương nhân.
Hình thức có thể được thiết lập theo cách thức mà hai bên thể hiện được sự thoả thuận
mua bán hàng hoá giữa các bên (có thể: bằng lời nói, văn bản, hoặc hành vi của các bên giao
kết) (điều 24 LTM2005).

kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có thể quyết
định mua hoặc bán tài sản với giá cố định nếu giá trị của nó thay đổi.
1.5.2.1 Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn bán.
Hợp đồng quyền chọn bán (put option): là thoả thuận cho phép người bán bán tài sản
cho người mua với giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.
Đối với quyền chọn bán, người thực hiện quyền sẽ có lợi nếu giá bán thực hiện quyền
cao hơn giá thị trường của hàng hoá cơ sở và sẽ bị mất tiền nếu giá thực hiện quyền thấp hơn
giá thị trường của hàng hoá cơ sở.
1.5.2.2 Đặc điểm cuả hợp đồng quyền chọn mua.
Hợp đồng quyền chọn mua (call option): là thoả thuận cho phép người người mua có
quyền mua tài sản từ người bán với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.
Đối với quyền chọn mua, nếu giá thực hiện thấp hơn giá hiện hành của chứng khoán cơ
sở, thì quyền đó được gọi là đang được tiền (in the money), tức là người có quyền có thể có lợi
từ việc thực hiện quyền. Nếu giá thực hiện bằng với giá thị trường, quyền đang ở trạng thái hoà
vốn (at the money), và nếu cao hơn, gọi là đang mất tiền (out of money).
1.6 Những kinh nghiệm của thế giới và trong khu vực trong việc sử dụng các công cụ
phái sinh.
Bằng chứng về những thoả thuận cho vay đã xuất hiện ở nhiều nền văn minh cổ đại,
đặc biệt những nhà nghiên cứu đã ghi nhận về sự tồn tại của ít nhất là hai tổ chức hoạt động
theo hình thức ngân hàng ở Babylonia và Assyria khoảng vài ngàn năm trước Công Nguyên.
Những công cụ vốn và trái phiếu bắt đầu được phát triển vào những thế kỷ 16. Những chứng
khoán chuyển đổi cũng có lịch sử phát triển từ khá lâu. Ở Châu Âu lục địa, vào thế kỷ 16 đã có
những loại cổ phần được phát hành kèm với điều khoản chuyển đổi thành các khoản nợ trong
trường hợp một số điều khoản đi kèm bị phá vỡ. Tương tự, các dạng cổ phiếu ưu đãi cũng đã
được phát triển từ giai đoạn này. Hoạt động giao dịch chứng khoán, xét trên góc độ tài chính,
có một lịch sử rất dài. Các dạng cổ phần đã bắt đầu được giao dịch ở Antwerp và Amsterdam
từ đầu những năm 1600. Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn bắt đầu được giao dịch
khi sàn Amsterdam ra đời vào năm 1611.
Thế kỷ 18 chứng kiến nhiều sàn giao dịch ở Châu Âu trải qua những giai đoạn "bong
bóng thị trường" (stock market bubble). "Bong bóng South Sea" (1720) là một ví dụ điển hình.


1.800cc (nếu có thể cấm nhập khẩu các loại xe này).
- Ra chiến dịch giảm tiêu thụ dầu diesel.
- Tắt các bảng hiệu dùng đèn từ 21g, sớm hơn một giờ so với hiện nay.
- Chỉ sử dụng máy điều hoà từ 9g-16g và thực hiện chế độ giờ làm việc so le từ 7g30-

15g30 và từ 9g30-17g30 tại các cơ quan chính phủ nhằm giảm tiêu thụ điện.
- Yêu cầu các hình thức tiết kiệm điện đối với đồ điện gia dụng bán ra tại Thái Lan.
- Kêu gọi các hãng sản xuất ôtô ghi rõ mức tiêu thụ nhiên liệu của máy xe.
16
- Phân hạng các loại taxi ở những trung tâm giải trí và mua sắm.
- Nâng phí đậu xe bằng cách tăng thuế các gara có diện tích lớn hơn 1.600 m
2
.
- Củng cố các qui định giao thông và kiểm soát chặt chẽ các xe thải nhiều khí.
17
Chương 2: Thực trạng của tình hình xăng dầu trên thế giới và việc
sử dụng các công cụ phái sinh để bình ổn giá xăng dầu.
2.1 Nhận định chung về tình hình xăng dầu trên thế giới.
Hiện nay, ngành công nghiệp năng lượng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển của các nền kinh tế thế giới. Nhằm đảm bảo an toàn, bình ổn thị trường và đáp
ứng nhu cầu năng lượng đang gia tăng cho mỗi quốc gia, các nước xuất khẩu dầu lớn trên thế
giới (Nga, Iran, Quatar, Venezeuela, Arập Xêut, ) đang cố nỗ lực phát triển, đầu tư, mở rộng
quan hệ hợp tác với các nước khác để tăng sản lượng khai thác, chế xuất dầu và khí gas tại các
mỏ dầu khí tiềm năng xa bờ cũng như tăng hiệu suất lọc dầu ở các mỏ dầu có trữ lượng lớn.
Hiện nay, trước tình hình biến động rất lớn về giá dầu và sự thiếu hụt năng lượng ở các
nền kinh tế lớn như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đức, Pháp…, Nga đang nổi lên với
cương vị là một nhà sản xuất năng lượng siêu cường. Chính phủ nước này đang tập trung đầu
tư mạnh vào ngành năng lượng, khai thác triệt để các mỏ dầu tiềm năng, trữ lượng lớn. Phía
EU đang hối thúc Nga ký kết nhiều hợp đồng năng lượng dài hạn nhằm đảm bảo nhu cầu năng

hàng hoá tính bằng đồng tiền này, bằng cách tăng cường sức mua của người nước ngoài và thu
hút các nhà đầu tư tìm kiếm một nơi trú ẩn trước lạm phát, do đó một đồng USD mạnh hơn sẽ
đẩy giá hàng hoá giảm xuống.
Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ thông báo dự trữ dầu thô đã giảm 3,2 triệu thùng còn
316 triệu thùng. Theo EIA, mức tiêu thụ dầu của thế giới tăng, đi đôi với sản lượng dư thấp
đang gây sức ép ngày càng tăng lên giá dầu. Luồng vốn đầu tư đổ vào hàng hoá cũng góp phần
khiến giá dầu bất ổn. EIA cũng điều chỉnh tăng dự báo về giá dầu năm 2009 từ mức 86 $/thùng
ban đầu lên 92,5 $/thùng. EIA nhận định, giá dầu cao làm giảm nhu cầu tại Mỹ, nhưng mức
tiêu thụ dầu vẫn khá mạnh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Trung Đông.IEA dự đoán sản lượng
dầu của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) ước đạt trung bình 32,3 triệu thùng/ngày
trong năm 2008, tăng khoảng 100.000 thùng/ngày so với con số được đưa ra trước đó. IEA
thừa nhận có sự thay đổi lớn trong những dự báo của cơ quan này về giá dầu, bởi lẽ những gián
đoạn về nguồn cung không lường hết được (do xung đột tại các nước sản xuất dầu mỏ), điều
kiện thời thiết bất thường hay một số cơ sở lọc dầu ngừng hoạt động, tất cả những nhân tố này
đều có thể khiến dầu tăng giá mạnh. Giá dầu tăng dự kiến sẽ đánh mạnh vào người tiêu dùng
19
Mỹ và làm giảm nhu cầu tiêu thụ xăng của nước này trong những tháng hè - mùa du lịch cao
điểm tại đây. EIA dự kiến giá xăng bán lẻ sẽ tăng lên gần 3,6 $/gallon trong tháng 6/08. Giá
xăng cao và kinh tế yếu kém sẽ khiến nhu cầu của Mỹ đối với nhiên liệu này giảm khoảng
0,4%. Nhiều chuyên gia phân tích dự báo giá xăng có thể tăng cao hơn và chạm ngưỡng
4$/gallon. Đặc biệt, mức tiêu thụ các chế phẩm dầu mỏ tại Mỹ dự kiến sẽ giảm 90.000
thùng/ngày trong năm nay. Trong khi trước đó, EIA dự báo sức tiêu thụ các sản phẩm này tăng
40.1 thùng/ngày.
 Lịch sử giá xăng dầu trong giai đoạn 2005 đến đấu năm 2008:
− Sự gia tăng trong năm 2005:
Giá dầu thô đã tăng lên một ngưỡng mới vào tháng 3/2005. Giá chốt ở sàn NYMEX
trên mức $50/thùng từ ngày 5/03/2005. Vào ngày 16/03/2005, giá đã vượt qua ngưỡng cao nhất
là $55.17 của tháng 10/2004 và đóng ở mức $56.46. Vào tháng 4/2005 giá bắt đầu giảm, ở mức
$53.32 vào ngày 9/4. Sau đó tiếp tục tăng ở mức giá $58.28 trong suốt 1 khoảng thời gian,
nguyên nhân là do ảnh hưởng kéo dài của việc đồng dollar mất giá. Vào tháng 06/2005 giá dầu

đầu tháng 9, xuống mức $0.11 từ tuần trước. Một vài thành phố giá trung bình mức dưới
$2.40/gallon.
Khi tháng 9, giá bắt đầu giảm, chi phí trung bình của một gasoline dưới $2.50. Vào
ngày 19/09, giá dầu giảm $2.14 .Việc giá dầu thô giảm gần đây đã dẫn dến một suy đoán rằng
giá gasoline có thể giảm ở mức $1.15/gallon. Qua ngày 03/10, giá đóng ở mức $58.68, giá
đóng cửa thấp nhất từ giữa tháng hai. Nguyên nhân của sự giảm giá này có thể là tình hình
chính trị Iran dễ chịu hơn, nguồn cung dư thừa và thiên tai giảm nhiều ở khu vực sản xuất dầu
của Vịnh Mexico.
Sau khi có tin Bắc Triều Tiên thử thành công tên lửa vào ngày 09/10/2006, giá dầu đã
tăng qua mức $60/ thùng, nhưng đã giảm xuống ngay ngay hôm sau. Cũng như thế, trong vài
ngày đầu tháng 10, giá dầu nhảy lên quanh mốc $60 điểm khi có tin cho rằng các nước thuộc
khối OPEC sẽ cắt giảm sản lượng sản xuất dầu thô 1,000,000 thùng/ ngày. OPEC đã không cắt
giảm sản lượng từ tháng 12/2004. Tuy nhiên, thị trường dường như đã xoá bỏ tin này, đặc biệt
khi có tin Saudi Arabia đã nói rằng không có thoả thuận cắt giảm ở đây.
Vào ngày 11 tháng10, giá dầu lần đầu tiên đã giảm xuống dưới $58 từ tháng 2. Những
ngày sau đó, vào ngày 20 tháng 10, giá đóng cửa một thùng dầu thô là $56.82. Cùng ngày này,
OPEC đã công bố rằng họ sẽ cắt giảm sản lượng từ 1.2 tỷ thùng mỗi ngày để ngăn chặn sự
trượt giá.
− Sự tăng giá giữa năm 2007:
Mức trung bình ở Mỹ là $3.09, và một vài phần của bờ biển phía Tây đã bán với giá
không dưới $3.33/gallon. Ở NYMEX do tình trạng bất ổn ở Nigeria, một thùng dầu được giao
dịch ở mức $73.93. Sự ngưng trệ của một đường ống dẫn dầu ở bờ biển Bắc cũng là nguyên
nhân làm cho giá dầu thô Brent lên tới $79.64. Dự luật từ Đảng Dân Chủ-được ban hành bởi
Quốc Hội Mỹ, chấp hành dự luật không sản xuất và xuất khẩu dầu của năm 2007 từ Uỷ ban
Năng lượng và Thương Mại. Đại diện Nhà Trắng đã thông qua đạo luật “NOPEC” vào ngày 22
21
tháng 5/2007. Vào ngày 12 tháng 9/2007 giá dầu tăng lên mức kỷ lục là $80 mỗi thùng, vượt
qua mức giá cao nhất của thập kỷ 80. Giá dầu cao và nguồn cung hạn chế làm gia tăng mối
quan tâm của những người tin rằng giá dầu trong tương lai không xa sẽ đạt đỉnh, hoặc mới vừa
trôi qua, bởi người ta cho rằng nguồn cung sẽ không gia tăng một cách đáng kể, và trong một

22
yếu đi và việc Fed liên tục hạ lãi suất để kích thích nền kinh tế.
Giá dầu tiếp tục tăng lên giá $104 vào ngày 3 tháng 3/2008, nguyên nhân chính vẫn là
do đồng dollar Mỹ yếu đi. Vào ngày 5 tháng 3/2008 OPEC đã buộc tội cho việc điều hành
không tốt nền kinh tế Mỹ và nói rằng sẽ đẩy giá dầu lên một mức kỷ lục cao hơn nữa, đồng
thời từ chối dứt khoát việc tăng sản lượng và đổ trách nhiệm cho sự yếu kém của chính quyền
Bush. Giá dầu đẩy lên trên mức $110/thùng khi có dự kiến về mức lạm phát vào ngày 12 tháng
3/2008 trước khi chốt ở mức giá $109.92 khi mức sản xuất toàn cầu giảm xuống một mức mới.
Hàng loạt những sự kiện liên quan đã đẩy giá dầu tăng tột đỉnh. Giá dầu tiếp tục với những
cuộc mốc kỷ lục mới khi tăng $111/thùng vào 13/3/2008 trước khi trượt xuống dưới giá $110
do mối lo ngại nền kinh tế Mỹ suy thoái.
Tóm lược và phân tích tình hình dầu thô và khí Gas tự nhiên trong hiện tại.
+ Thị trường dầu tiếp tục diễn biến phức tạp bởi những đặc tính vốn có của nó, những
vướng mắc trong việc phân vùng địa lý, và sự thích nghi chậm chạp với những biến động để có
thể mang lại một mức giá thấp hơn.
+ Chi phí thăm dò và khai thác có thể tăng lên một cách nhanh chóng hơn chúng ta
mong đợi khi ta chứng kiến sự thay đổi trong giá năng lượng dài hạn vào năm 2007.
+ Hơn nữa, nguồn tài nguyên quốc gia, những thay đổi trong kỳ tài khoá, và khó khăn
trong vùng địa lý tới nguồn cung dầu cũng ảnh hưởng đến giá dầu.
+ Mối quan hệ giữa nhu cầu dẫn đến giá năng lượng tăng tuỳ thuộc vào mức độ thu
nhập thực tế. Giá có thể bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm của GDP toàn cầu, nhưng sự suy thoái
mang tính toàn cầu dường như không như vậy.
+ Chúng tôi mong đợi giá dầu của WTI, và Brent trong bảng danh sách trên sẽ có mức
trung bình ở mức $75/bbl năm 2010 và $80/bbl trong năm 2012-2013. So sánh này với giai
đoạn giữa chu kỳ ước tính trên $65/bbl.
+ Giá gas dự đoán ở Mỹ dự đoán trung bình ở mức $8.75/mmBtu trong năm 2010, tăng
lên $8/mmBtu so với trước đó.
Vào trung tuần tháng 11, dự đoán giá dầu trong ngắn hạn phản ánh đúng thực tế khi giá
dầu ở mức khá cao và tiếp tục chính sách siết chặt của các nước cung cấp dầu mỏ và sự gia
tăng trong nhu cầu. Nhưng chúng tôi cũng không ngạc nhiên khi có sự thay đổi từ việc dự đoán

vẫn đang phát triển nhưng nó không đủ sức để tạo ra một bước đột phá như cách đây hai thập
kỷ. Việc phát hiện những khu vực có trữ lượng dầu mỏ tiềm năng cao ngày càng giảm xuống vì
“nguồn lực quốc gia” đã dần chuyển sang vấn đề chính trị hơn là việc khai thác.
24

Trích đoạn Những bất cập trong việc ứng dụng các công cụ phái sin hở thị trường Tại sao các doanh nghiệp kinhdoanh xăng dầ uở Việt Nam cần phòng Khuyến khích tiết kiệm năng lượng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status