Phòng ngừa rủi ro lãi suất thông qua các công cụ phái sinh trong kinh doanh ngân hàng - Pdf 14

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT THÔNG QUA
CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Lớp : A8 – K43B
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Nguyễn Thị Quy

2.1 Phân loại theo nguồn sử dụng 10
2.2 Phân loại theo giá trị thực 10
2.3 Phân loại theo phương pháp tính lãi 10
2.4 Phân loại theo tiền 11
2.5 Phân loại theo độ dài thời gian 11
3. Rủi ro lãi suất 11
3.1 Khái niệm rủi ro lãi suất 11
3.2 Phân loại rủi ro lãi suất 12
3.2.1 Rủi ro định giá lại hay Rủi ro kỳ hạn bất cân xứng 12
3.2.2 Rủi ro cơ bản 13
3.2.3 Rủi ro đường cong lãi suất thay đổi 14
3.2.4 Rủi ro quyền chọn đi kèm 15
4. Phƣơng pháp lƣợng hoá rủi ro lãi suất 15
III/ Các công cụ phái sinh và nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất 21
1. Lịch sử ra đời và phát triển của các công cụ phái sinh 21
2. Khái niệm về hợp đồng phái sinh 23
3. Các loại hợp đồng phái sinh cơ bản 24
3.1 Hợp đồng kỳ hạn 24
3.2 Hợp đồng tương lai 25
3.3 Hợp đồng quyền chọn 27
3.4 Hợp đồng hoán đổi 28
4. Nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất thông qua các công cụ phái sinh 29
4.1 Khái niệm 29
4.2 Cơ chế thực hiện 31

NHTM VN 56
3.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam 56
3.2 Nguồn luật trong nước điều chỉnh các hoạt động phòng ngừa rủi ro lãi suất thông
qua các công cụ phái sinh 59
3.3 Tình hình sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các
NHTM VN 64
3.3.1 Thực trạng sử dụng các hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA) 64
3.3.2 Thực trạng sử dụng các hợp đồng tương lai lãi suất 65
3.3.3 Thực trạng sử dụng các hợp đồng quyền chọn lãi suất 65
3.3.4 Thực trạng sử dụng các hợp đồng hoán đổi lãi suất 66
III/ Đánh giá chung 71
1. Các kết quả đạt đƣợc 71
2. Hạn chế và nguyên nhân 72
2.1 Hạn chế 72
2.2 Nguyên nhân 74
CHƢƠNG III 81
GIảI PHáP PHáT TRIểN HOạT động phòng ngừa rủi ro lãi suất thông qua các
công cụ phái sinh trong kinh doanh ngân hàng trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế 81
I/ Sự cần thiết của việc đẩy mạnh hoạt động phòng ngừa rủi ro lãi suất thông
qua các công cụ phái sinh tại các NHTM VN trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế 81
1. Quá trình tự do hoá thị trƣờng tài chính và tác động đến hệ thống NHTM VN 81
2. Tiềm năng của thị trƣờng tài chính VN cho việc phát triển các công cụ phái sinh

GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

NHTM
Ngân hàng thƣơng mại
Libor
London interbank offer rate - Lói sut huy ng trờn th trng liờn ngõn
hng London
Sibor
Singapore interbank offer rate - Lói sut huy ng trờn th trng liờn
ngõn hng Singapore
Vnibor
Vietnam interbank offer rate - Lói sut huy ng trờn th trng liờn
ngõn hng Vit Nam
DANH MC CC BNG BIU, HèNH V

Sơ đồ 1. Những chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay 5
Biểu đồ 1. Tổng giá trị các giao dịch phái sinh trên thế giới 2000 - 2007 23
S 2. Thanh toỏn hp ng tng lai qua cụng ty thanh toỏn bự tr 27
Sơ đồ 3. Các loại công cụ phái sinh lãi suất 30
Biểu đồ 2. Doanh thu từ các hợp đồng phái sinh lãi suất 43
Hình 1. Mức độ giới hạn chính sách và sự phát triển của thị tr-ờng phái sinh 44
Bảng 1. Ngân hàng và các TCTD phi ngân hàng (năm 2007) 48
Bảng 2. Diễn biến các loại lãi suất do NHNN VN công bố từ 2004 - T6/2008 52
Bảng 3. Tỷ trọng của doanh thu và lợi nhuận từ các hợp đồng phái sinh trong tổng
doanh thu và lợi nhuận của các NHTM VN 56

quốc tế, trƣờng Đại học Ngoại Thƣơng về những bài giảng lý thú hữu ích, giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự khuyến khích quan tâm, động viên của
bạn bè và những ngƣời thân trong gia đình.

1
LỜI MỞ ĐẦU

Lãi suất là một biến số quan trọng đƣợc theo dõi chặt chẽ trong nền kinh tế, nó
trực tiếp tác động đến các lợi ích vật chất trong xã hội và lợi ích của con ngƣời. Trong
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, vai trò của lãi suất đã bị xem nhẹ và còn đƣợc hiểu
nhƣ sự phân chia cuối cùng của sản xuất và ngƣời sản xuất, hay ngƣời đầu tƣ về vốn và
ngƣời cho vay. Trong nền kinh tế thị trƣờng thị vai trò của lãi suất đã có sự thay đổi.
Lãi suất trong nền kinh tế thị trƣờng là giá cả để vay mƣợn tiền có liên quan đến việc
tạo ra tín dụng - đƣợc xác định trong các thị trƣờng trao đổi tài chính.
Đối với nền kinh tế Việt Nam, từ khi chuyển mình từ nền kinh tế tập trung sang
nền kinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa,
lãi suất đã trở thành công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nƣớc. Lãi suất góp phần kiềm chế
lạm phát cũng nhƣ kích thích tăng trƣởng và phát triển kinh tế trong công cuộc đổi mới
của đất nƣớc ta.
Năm 2007 đánh dấu một sự kiện quan trọng của Việt Nam khi chúng ta trở thành

phái sinh để góp phần phòng ngừa rủi ro cho khách hàng và cho chính bản thân ngân
hàng. Đây chính là một thị trƣờng tiềm năng cho các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
nghiên cứu và khai thác trƣớc khi các ngân hàng nƣớc ngoài với bề dày kinh nghiệm
tham gia vào thị trƣờng này.
Với mục đích tìm hiểu thực trạng về thị trƣờng phái sinh còn rất mới mẻ cũng
nhƣ nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất thông qua các công cụ phái sinh tại các ngân
hàng thƣơng mại Việt Nam và từ đó, đƣa ra một số giải pháp nhằm góp phần đẩy mạnh
việc ứng dụng của các sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các ngân
hàng thƣơng mại trong nƣớc, góp phần cho sự phát triển và hoàn thiện của thị trƣờng
các công cụ tài chính phái sinh nói chung tại Việt Nam, em đã chọn đề tài “Phòng
ngừa rủi ro lãi suất thông qua các công cụ phái sinh trong kinh doanh ngân hàng”
làm đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp của mình.

3

CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO LÃI SUẤT
VÀ VIỆC PHÒNG NGỪA RỦI RO LÃI SUẤT THÔNG QUA
CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG

I/ Khái quát chung về hoạt động kinh doanh ngân hàng
1. Khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại

đó cho chính họ để thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Theo luật Mỹ, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh
toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế”.
Theo luật 20/2004QH11, luật bổ sung, sửa đổi luật các Tổ chức tín dụng
(TCTD) của Việt Nam (VN), “Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất
và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại (NHTM),
ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và
các loại hình ngân hàng khác”.
Từ những khái niệm trên ta có thể thấy, NHTM là một loại hình doanh nghiệp
đặc biệt đƣợc thành lập theo quy định của Luật các TCTD và các quy định khác của
phap luật để hoạt động kinh doanh, kiếm lời.

2. Chức năng và các hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM
2.1 Chức năng của NHTM
Hệ thống ngân hàng, đƣợc coi là bộ xƣơng sống của nền kinh tế, cung cấp một
kênh dẫn vốn gián tiếp từ những ngƣời có nhu cầu đến các công ty. Về cơ bản, NHTM
thực hiện 2 chức năng: chức năng luân chuyển tài sản và chức năng cung cấp các dịch
vụ thanh toán, môi giới, tƣ vấn,
Tuy nhiên, với sự lấn sân của các công ty bảo hiểm và công ty kinh doanh
chứng khoán lớn sang lĩnh vực ngân hàng dƣới hình thức các “ngân hàng phi ngân
hàng” (non-banking banks), các ngân hàng truyền thống ngày nay cũng phải đa dạng 5

 Hoạt động sử dụng vốn
- Hoạt động ngân quỹ: NHTM phải dự trữ bắt buộc và dự trữ thanh toán
theo quy định pháp luật dƣới hình thức tiền mặt, tiền gửi tại NHTƢ và các công cụ nợ
có tính lỏng cao.
- Hoạt động cho vay: là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM,
thƣờng chiếm từ 60-70% tổng tài sản, mang lại 70-90% lợi nhuận.
- Hoạt động đầu tư: là hoạt động giúp NHTM đảm bảo khả năng thanh
khoản và đa dạng hoá kinh doanh nhằm chia sẻ rủi ro. NHTM có thể đầu tƣ trực tiếp
thông qua việc lập công ty con, góp vốn liên doanh,mua cổ phần hoặc đầu tƣ gián tiếp
dƣới hình thức mua công trái, trái phiếu, tín phiếu của chính phủ và những công cụ có
tính thanh khoản cao.
- Hoạt động khác: nhƣ mua sắm tài sản, cho thuê tài chính,
 Hoạt động dịch vụ
Dịch vụ ngân hàng ngày càng trở nên thiết yếu không những đối với các
tổ chức kinh doanh mà còn với các cá nhân trong xã hội. Thành công của ngân hàng
hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội 7
có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh
tranh.
Sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ
thông tin đã làm cho dịch vụ ngân hàng ngày càng hoàn thiện, đa dạng và tiện lợi. Các
dịch vụ cơ bản của NHTM bao gồm: thanh toán, thu chi hộ, cung cấp các tài khoản
giao dịch, bảo quản các tài sản quý giá, các giấy tờ quan trọng, mua bán ngoại tệ, mua
bán chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, tƣ vấn khách hàng, cung cấp dịch vụ môi giới đầu
tƣ chứng khoán, cung cấp dịch vụ quỹ tƣơng hỗ và trợ cấp,


8
tiếng, rủi ro chiến lƣợc, Tuy nhiên, một cách cụ thể hơn, ta có thể liệt kê một số loại
rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng nhƣ sau: (i) rủi ro lãi suất, (ii) rủi ro ngoại
hối, (iii) rủi ro tín dụng, (iv) rủi ro thanh khoản, (v) rủi ro hoạt động ngoại bảng, (vi)
rủi ro công nghệ và hoạt động, (vii) rủi ro quốc gia và các rủi ro khác.

II/ Những vấn đề cơ bản về lãi suất và rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng
1. Khái niệm về lãi suất
Lãi suất là một trong những nhân tố khả biến đƣợc theo dõi chặt chẽ nhất trong
nền kinh tế. Sự biến động của lãi suất đƣợc đƣa tin hàng ngày bởi lãi suất ảnh hƣởng
trực tiếp đến cuộc sống của chúng ta. Lãi suất ảnh hƣởng đến các quyết định cá nhân
cũng nhƣ quyết định của các doanh nghiệp và hộ gia đình nhƣ liệu nên tiêu dùng hay
tiết kiệm, nên mua một căn nhà, mua cổ phiếu, hay gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm tại
ngân hàng. Lãi suất cũng là một trong những công cụ của ngân hàng Trung Ƣơng
(NHTƢ) dùng để điều tiết lƣu thông tiền tệ trong nền kinh tế. Mỗi sự biến động, dù
nhỏ, trong lãi suất cũng có thể gây ảnh hƣởng lớn đến hoạt động của cả nền kinh tế.
Vậy lãi suất là gì?
Chúng ta hiểu lãi suất theo nghĩa “giá cả” giống nhƣ mọi loại giá cả hàng hoá
khác trên thị trƣờng. Điều khác biệt duy nhất của lãi suất so với các loại giá cả khác là
nó chính là giá của một loại hàng hoá rất trừu tƣợng.
Lãi suất là chi phí bỏ ra cho việc vay tiền, là giá cả của quyền được sử dụng
tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người sở
hữu nó
3
. Nói cách khác, lãi suất chính là cái giá phải trả do việc không có sẵn tiền mặt
gây ra, và là chi phí cơ hội cho việc nhận lại tiền muộn hơn và trì hoãn việc tiêu dùng

chính sách lãi suất. Mức lãi suất sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế và chế độ quản
lý kinh tế hiện tại, điều tiết hợp lý cung-cầu tín dụng trên thị trƣờng trong mối quan hệ
với các yếu tố kinh tế khác, sẽ là chìa khoá thúc đẩy phát triển kinh tế.
NHTƢ có thể ấn định khung lãi suất chung. Khung lãi suất chính là giới hạn tối
đa của lãi suất cho vay và giới hạn tối thiểu của lãi suất tiền gửi mà NHTƢ quy định để
khống chế và quản lý chung về mặt lãi suất đối với các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên,
trong nền kinh tế thị trƣờng, NHTƢ thƣờng chỉ công bố một mức lãi suất cơ bản, hoặc
một mức lãi suất để định hƣớng lãi suất thị trƣờng. Các NHTM có thể lấy mức lãi suất
đó để tham khảo, sau đó đƣa ra mức lãi suất riêng để đảm bảo kết quả hoạt động kinh
doanh.
10
2. Phân loại lãi suất
Khi nói đến lãi suất, chúng ta thấy sẽ có rất nhiều loại lãi suất khác nhau đƣợc
phân loại dựa trên các căn cứ khác nhau, đồng thời phạm vi hoạt động của chúng cũng
khác nhau.
Phân loại theo nguồn sử dụng
- Lãi suất huy động: là loại lãi suất quy định tỷ lệ lãi phải trả cho các hình
thức nhận tiền gửi của khách hàng. Lãi suất huy động thƣờng căn cứ vào đối tƣợng huy
động (tiền hay vật đảm bảo có giá trị, nội tệ hay ngoại tệ, cá nhân hay các tổ chức kinh
tế) và thời gian huy động.
- Lãi suất cho vay: là lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà ngƣời đi vay phải trả cho
ngƣời cho vay.
Theo nguyên tắc hoạt động của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác mà hoạt
động thƣờng xuyên và chủ yếu của chúng là kinh doanh tiền tệ, lãi suất cho vay bao

vay dƣới một năm.
- Lãi suất trung hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản
vay từ một đến năm năm.
- Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản
vay trên năm năm.

3. Rủi ro lãi suất
Khái niệm rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là một trong những loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân
hàng. Rủi ro lãi suất là rủi ro đối với các khoản thu nhập và giá trị thị trường của
danh mục đầu tư bắt nguồn từ sự biến động của tỷ lệ lãi suất
4
.
Ngƣời ta có thể tiếp cận với vấn đề rủi ro lãi suất từ hai giác độ khác nhau:
 Từ khía cạnh “giá trị sổ sách” (book value), rủi ro lãi suất đƣợc nhìn
nhận thông qua các ảnh hƣởng của nó đến khoản thu nhập đƣợc phản ánh trong sổ sách
của ngân hàng. Khía cạnh này tập trung vào rủi ro đối với thu nhập trong ngắn hạn, đặc

4
Theo Interest rate risk - Comptroller’s handbook (Narrative - June 1997, Procedures - March 1998), Office for
Comptroller of the Currency (OCC), USA. 12
biệt trong vòng 1 hoặc 2 năm. Sự biến động của tỷ lệ lãi suất nhìn chung thƣờng ảnh
hƣởng đến thu nhập đƣợc phản ánh trong sổ sách thông qua những thay đổi trong thu
nhập lãi ròng của ngân hàng.

sản nợ đƣợc định giá lại dài hơn) sẽ hƣởng lợi từ sự gia tăng tỷ lệ lãi suất và bị thiệt hại
khi tỷ lệ lãi suất giảm.
Ví dụ nhƣ, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn 1 năm với mức lãi suất
12%/năm, và đầu tƣ kỳ hạn 2 năm với mức lãi suất 13%/năm. Sau năm đầu tiên, ngân
hàng thu đƣợc lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 13% - 12% = 1%. Sang năm thứ hai,
do lãi suất thị trƣờng tăng lên, ngân hàng chỉ có thể huy động vốn ở mức 14%, do đó,
ngân hàng sẽ chịu lỗ 14% - 13% = 1%. Nhƣ vậy, lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ đủ bù
đắp cho khoản lỗ của năm thứ hai.
Kết quả là, nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài
sản nợ (ngân hàng nhạy cảm với tài sản nợ), thì ngân hàng luôn đứng trƣớc rủi ro về
lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ. Trƣờng hợp ngƣợc lại, nếu tài sản nợ có
kỳ hạn dài hơn tài sản có, ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu tƣ.
Rủi ro định giá lại hay rủi ro kỳ hạn bất cân xứng còn có thể xảy ra trong
trƣờng hợp tài sản có hoặc tài sản nợ có lãi suất thả nổi. Nếu tài sản có có lãi suất cố
định đƣợc tài trợ bằng tài sản nợ có lãi suất thả nổi, tỷ lệ lãi phải trả của tài sản nợ có
thể tăng trong khi tỷ lệ lãi kiếm đƣợc từ tài sản có có thể vẫn giữ nguyên không đổi.
3.2.2 Rủi ro cơ bản
Rủi ro cơ bản (rủi ro biên độ) bắt nguồn từ sự thay đổi trong mối quan hệ
về tỷ lệ lãi suất tại các thị trƣờng tài chính khác nhau, hoặc của các công cụ tài chính
khác nhau. Nó xảy ra khi lãi suất thị trƣờng của các công cụ tài chính khác nhau, hoặc
các chỉ số đƣợc sử dụng để định giá tài sản có và tài sản nợ thay đổi vào những thời
điểm khác nhau, hoặc thay đổi những lƣợng khác nhau.
Ví dụ nhƣ, nếu ngân hàng cho vay với mức lãi suất cơ bản (Prime rate)
5

trong khi huy động với mức lãi suất Libor
6
, nó sẽ đứng trƣớc rủi ro là biên độ giữa lãi

5

2
4
6
8
10
12
3 60 120
Kỳ hạn (tháng)
Tỷ lệ lãi suất (%/năm)
chính chuẩn đƣợc sử dụng tại các thị trƣờng vốn ở Hoa Kỳ. Nói chung, Libor thƣờng thấp hơn mức lãi suất cơ
bản. 15
Rủi ro đƣờng cong lãi suất thay đổi xuất phát từ sự biến động về lãi suất
của các kỳ hạn khác nhau của cùng một chỉ số hay trên cùng một thị trƣờng (ví dụ nhƣ,
trái phiếu kho bạc kỳ hạn 3 tháng và 5 tháng). Mối quan hệ giữa lãi suất và kỳ hạn thay
đổi khi hình dáng của đƣờng cong cho từng thị trƣờng xác định thoải, dốc, hoặc đảo
chiều trong suốt một chu kỳ lãi suất. Sự khác nhau về đƣờng cong lãi suất có thể làm
tăng rủi ro cho ngân hàng bằng việc khuyếch đại ảnh hƣởng của việc bất cân xứng kỳ
hạn. 3.2.4 Rủi ro quyền chọn đi kèm

)1(

)1()1()1(
321








.
Trong đó: P là giá trị thực của trái phiếu (hay thị giá trái phiếu) 16
hữu ích để phòng ngừa rủi ro lãi suất đối với các trái phiếu nắm giữ, nhƣng các nhà
quản trị ngân hàng vẫn cần thông tin chính xác về các khoản thực thu và thực lỗ khi lãi
suất thay đổi một lƣợng xác định. Để làm đƣợc điều đó, đòi hỏi các ngân hàng phải áp
dụng các phƣơng pháp hiện đại để lƣợng hoá rủi ro lãi suất và xem xét sự ảnh hƣởng
của chúng đến kết quả kinh doanh.
Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lƣợng hoá rủi ro lãi suất đang đƣợc các
ngân hàng hiện đại áp dụng, đó là: (i) Mô hình kỳ hạn đến hạn (the maturity model);
(ii) mô hình định giá lại (the pricing model); và (iii) mô hình thời lượng (the duration
model). Trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn chỉ xin giới thiệu một mô hình tiêu biểu
nhất, đó là mô hình thời lƣợng và các công thức có liên quan đến việc lƣợng hoá rủi ro


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status