rủi ro lãi suất và phòng ngừa rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng - Pdf 11

GIÁO VIỆN HƯỚNG DẪN

cồ LÉ THI THANH
SÍNH VIÊN THỰC HIỆN í TRỬ PHƯƠNG THẢO
LỚP
ì
AB. Ksac
BÀ NỘI
-2003
X
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TE NGOẠI
THƯƠNG
KHÓA
LUẬN TỐT NGHIỆP


Đề tài:
RỦI
RO
LÃI
SUẤT VÀ
PHÒNG
NGỪA
RỦI

trung gian
tài chính ngày càng đóng
vai
trò vô cùng
quan
trọng trong
quá
trình luân
chuyển
vốn
từ nơi
này đến nơi
khác.
Với
chức
năng là một kênh
phân
phối
vốn
với
dung
lượng
lớn nhất
trong
nền
kinh tế, hiệu
quà
hoựt
động
của ngân hàng có ảnh

động của chúng một cách
hiệu
quả nhằm
mang
lựi
sự
ổn
định và tăng trưởng cho nền
kinh
tế.
Với
xu
thế
toàn cầu hoa
hiện
nay,
kéo
theo
việc
giảm
dần sự can
thiệp
của Nhà nước vào nền
kinh tế,
các
ngân hàng được
hoựt
động trên một sân chơi
rộng lớn
nhưng

ro một ngân hàng
phải
đối
mặt
trong
quá trình
hoựt
động,
rủi
ro
lãi
suất
được
coi

loựi
hình
rủi
ro
quan
trọng
nhất
bởi lý do:
nghiệp
vụ chính cùa ngân hàng là
nghiệp
vụ tín
dụng,
trong
đó lãi

Ì
qua
khảo
sát tìm
hiểu
thực
tế, Việt
Nam vừa bước vào nền
kinh tế thị
trường
nên các ngân hàng
hiện
nay chưa
nhận
thức
được
hết
được
những
hậu
quả
to lớn
do
rủi ro
lãi
suất
gây
ra
nên
kinh

trong kinh
doanh
ngân hàng.
Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đề tài nghiên cứu
những
vấn để cơ bản về rủi ro của ngân hàng
trong
nền kinh tế thị
trường.
- Đề tài nghiên cứu sâu về lãi suất, tác hại của rủi ro lãi suất, cũng như
sự
cần
thiết
của
việc
nghiên cứu
rủi
ro lãi
suất
trong kinh
doanh
ngân
hàng.
- Xuất phát từ nguyên lý chung về quản lý tài sản của ngân hàng. đề tài
phân tích các
nghiệp
vụ kỹ
thuật
chuyên sâu nhằm phòng tránh có

hơn nữa
trong việc
phòng
tránh rủi ro lãi
suất
trong
quá trình
hoạt
động.
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập
trung
nghiên cứu về rủi ro lãi
suất
trong kinh
doanh
ngân hàng
và các
nghiệp
vụ của ngàn hàng
trong việc
phòng tránh
rủi ro
lãi
suất.
2
Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt
được mục đích nghiên cứu nêu
trên,

giải,
phàn tích
tổng
hợp
và đưa
ra
kết luận,
phương pháp
thống
kê,
mó hình hoa để
minh
hoa,
giải
thích.
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, Kết cấu của khoa luận tốt nghiệp như
sau:
+ Chương ì - Ngân hàng và vấn đề
rủi
ro
trong kinh
doanh
ngân hàng
+ Chương
li
- Lãi
suất

rủi
ro lãi

Trung
gian
tài chính
4
1.1.
Ngân hàng có
chức
năng luân
chuyển tài
sản
6
1.2.
Ngân hàng có
chức
năng
cung
cấp các
dịch
vụ
thanh
toán,
môi
giới
và tư
vấn
8
2.
Các
đặc trưng khác
9

Rủi ro lãi
suất
Ì
I
2.2. Rủi ro
tín
dụng
11
2.3. Rủi ro
về
nguồn
vốn
13
2.4. Rủi ro
tỷ
giá
hối
đoái
14
2.5. Rủi ro
công
nghệ

hoựt
động
15
2.6.
Các
rủi ro
thuần

tài
chính
18
3.2.
Sự
điều
khiển
của "bàn
tay
võ hình"
-

chế
thị
trường 22
3.3.
Các chính sách
kinh
tế


của
chính phủ 24
3.4.
Ánh
hưởng
của
những
biến
động

DOANH
NGÂN HÀNG
27
1.
Khái quát
chung
về
lãi
suất
27
1.1.
Khái
niệm lãi
suất
27
1.2.
Đặc
điểm
của
lãi
suất
28
1.3. Vai
trò của
lãi
suất
30
Ì .4.
Phán
loỹi

DOANH
NGÂN HÀNG
61
1.
Khái
niệm
rủi
ro
lãi
suất
61
2.
Phân
loỹi rủi
ro
lãi
suất
61
3.
Sự
cản
thiết
phải
nghiên cứu
rủi
ro lãi
suất
trong
kinh
doanh

ro lãi
suất
thông qua phương pháp
phân
tích
khoảng
cách và
khoảng
thời
gian tồn
tại
66
1.1.
Phân
tích
khoảng
cách
66
1.2.
Phân
tích
khoảng
thời
gian tổn
tại
68
2.
Phòng
ngừa
rủi

5.
Phòng
ngừa
rủi
ro lãi
suất
bằng
hợp đồng
quyền chọn
75
5.1.
Các
chiến
lược

bản
trong
giao
dịch quyền chọn
75
5.2.

do
khiến
các ngân hàng
nhỏ
không nên
thực hiện
bán
quyền chọn

SUẤT
TẠI
CÁC
NGÂN HÀNG
VIỆT
NAM
TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY
88
1.
Kinh
nghiệm
thực hiện tự
do
hoa
lãi suất
của
mểt
số
nước
dạng
phát
triển
88
2.
Tình hình
lãi
suất

rủi
ro

IU.
CÁC
BIỆN
PHÁP VÀ KIÊN
NGHỊ
KHÁC 99
1.
Biện
pháp 99
2. Kiến
nghị
loi
Két luận 102
CHƯƠNG
ì
RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
Một nền
kinh
tế phát
triển
lành
mạnh,
có tốc độ tăng trưởng bền
vững
cẩn
có sự
hoạt
động
hiệu
quả của các

thu
đước chênh
lệch
lãi
suất
và góp
phim
tăng trưởng
kinh tế.
Tuy nhiên,
trong
quá trình
hoạt
động, ngân hàng
không
thế
không gặp
phải rủi ro

thể
dần
tới
những
ảnh hướng xấu cho
nền kinh
tế.
Chương này nhằm tìm
hiểu
lý do vì sao ngân hàng đước
coi

Kinh
doanh
ngân hàng là
loại
hình
kinh
doanh

những
đặc trưng riêng
biệt.
Những đặc trưng này
khiến
ngân hàng
trở
thành một thành
phần
không
thế
thiếu
đước
trong
nền
kinh
tế,
ảnh hưởng
mạnh
mẽ
tới
mọi chù

tiền
mặt
hoặc
đầu tư
trực
tiếp
vào cổ
phiếu
và trái
phiếu
doanh
nghiệp.
Các
doanh
nghiệp

nguồn
vốn này sẽ sử
dụng
đế đáu tư
vào các
tài sản
thực
như nhà
xưởng,
máy móc, công
nghệ,
thiết
bị,
nguyên

nghiệp,
những người
bỏ vốn
phải
được đảm bào
rằng
doanh
nghiệp
đó làm ăn có lãi và không lãng phí
tiền
vốn.
Đế có
thề
bảo
đàm được
điều
này,
những người
đầu tư
chứng
khoán
phải
giành
thời
gian

tiền
bạc vào
việc
thu

đã đầu tư. Do không còn ở vị trí giám sát
trực
tiếp
hoạt
động của
doanh
nghiệp
nữa nên
việc
nắm
giữ
cổ
phiếu
và trái
phiếu
công
ty
trở
nén kém
hấp
dẫn và
nhiều
rủi ro,
người
dân không còn muốn
trở
thành nhà đáu tư
cho
doanh
nghiệp nữa.

rất lớn,
mất dần khả năng
cạnh
tranh
và dẫn
tới
phá
sản,
gây ảnh
hưởng
nghiêm
trọng
đến nền
kinh
tế.
Thứ hai, đặc tính dài hạn của cổ phiếu và trái phiếu công ty cũng khiến
cho
chúng
trở
nên kém hấp dẫn
đối với
nhà đầu
tư,
đặc
biệt

khi
người
5
dân có kế

hơn trái
phiếu.
Ngoài
ra,
các
chi
phí
chuyển
nhượng
trái
phiếu
sẽ là
rất
cao vì
việc
mua bán trái
phiếu diễn
ra
không
quy
mô.
Điều
này dẫn
tới
thực tế

thu
nhập
từ
chuyến

bằng,

những
nơi cần vốn (các
doanh
nghiệp)
thì
thiếu
vốn
trong khi
vốn nhàn
rỗi
của dân chúng không được
đưa vào đầu
tư.
Tuy
nhiên,
trên
thực
tế,
hệ
thống
ngân hàng
hiện
có mặt ớ
khắp
nơi,
tại
mọi khu vực
kinh tế với vai

cung
cấp các
dịch
vụ
thanh
toán, môi
giới,
tư vấn và
hướng
dẫn khách hàng,
1.1. Ngàn hàng có chức năng luân chuyển tài sản:
Trong
chổc
năng này, ngán hàng đồng
thời tiến
hành hai
hoạt
động.
Hoại
động
thổ
nhất,
ngân hàng phát hành
chổng chỉ
tiền
gửi
để huy động vốn.
Chổng chỉ
tiền
gửi

ngân hàng
tiến
hành
hoạt
động đầu tư
bằng
cách mua cổ
phiếu
và trái
phiếu
doanh
nghiệp
cũng
như cấp tín
dụng
cho các
doanh
nghiệp
cần
vốn.
Như vậy, nói tóm lại, ngân hàng thẫc hiện hoạt động kinh doanh đặc thù
của
mình
bằng
cách luân
chuyến
vốn
trong
nền
kinh

rủi
ro
giá cả.
ì .1.1. Chi phí giám sát:
Việc
ngân hàng tập hợp các
khoản
tiết
kiệm
đơn lẻ và sau đó đẩu tu
trẫc
tiếp,
có quy mô vào các
doanh
nghiệp

rất

lợi
không
chi đối với
ngân
hàng mà còn
đối với
người dân, những
cá nhân đơn
lẻ.
Lý do được đưa
ra
ờ đây là ngân hàng là cơ

tổ
chức,
cá nhân mà mình cấp tín
dụng
so
với
việc
một cá nhân đơn lé
khi
đầu
tư vào một
doanh
nghiệp, chi
phí giám sát sẽ là vô cùng
lớn,
chưa
chắc
là sẽ mang
lại
kết
quả như mong muốn. Và
từ đó,
trên cơ sở giám sái
khách hàng một cách có
hiệu
quả và
giảm
được
chi
phí,

tra,
giám sát khách hàng có
hiệu
quả
hơn.
1.1.2. Chi phí thanh khoản và rủi ro giá cả:
Không chỉ giảm được chi phí điều tra và giám sát khách hàng, ngân hàng
còn xử lý
tốt
hơn cấc
chi
phí
thanh
khoản

rủi
ro giá cả qua
việc
cung
cấp
các
dịch
vụ
tiền
gửi
phong
phú và đa
dạng
về tính
thanh

nhau.
Như
vậy
là mặc dù bén
tài
sản nợ của ngán hàng có tính
thanh
khoản
cao,
rủi
ro giá cả
thấp, trong
khi
bên tài sản có của ngân hàng có tính
thanh
khoản
thấp,
rủi
ro
giá cả
cao,
mà ngân hàng vẫn
hoạt
động
sinh
lãi.
Lý do
ở đây là một
mặt,
thưòng các ngân hàng huy động vốn

sẽ
được
phân tán nhỏ và
từ đó,
ngân hàng có
thể đạt
được mức
lợi
tức
gán
như dự
tính.
Một ngân hàng càng có quy mô
lộn
thì
lợi
ích
từ
việc
đa
dạng
hoa
các
danh
mục đầu tư càng
nhiều.
Như
vậy,
ngân hàng luôn đảm bảo
được

dịch
vụ
thanh
toán
trung gian giữa
các khách hàng của mình. Thông qua đó.
chi
phí đầu tư
của người
có vốn đầu tư
sẽ giảm

người
đầu tư có
thể
nắm
bắt
đưỷc tình hình
hoạt
động
kinh
doanh
cùa
tổ chức
hay
doanh
nghiệp
chính xác
hơn.
Chứng khoán

động và
chức
năng
đặc
thù của mình, ngán hàng
thực
hiện
chức
năng
chuyến
tải
chính sách
tiền
tệ từ
Nhà nước hay ngán hàng
trung
ương đến toàn bộ nền
kinh tế. lác
động
lớn
đến
từng
chủ
thể
tham
gia trong
nền
kinh tế.
- Ngân hàng là cônẹ cụ phân bổ tín dựng cố hiệu quả cao: Với đặc tính là
trung gian

nền
kinh tế.
Các nhà
hoạch
định chính sách
sau khi
xác định
những
ngành
nghề
hay
lĩnh
vực cần đưỷc ưu tiên hay hạn
chế,
sẽ có
những
tác động đến hệ
thống
các ngân hàng về lãi
suất

9
những
điều
kiện
thuận
lợi
hay không
thuận
lợi

trong
nền
kinh
lố
hiện đại

nhiều
biến
động như ngày
nay,
ngân hàng
cũng
như
tất
cả các
thành
phần
khác đều
phải
chịu
rủi
ro
trong
quá trình
kinh
doanh.
Rủi ro
nói
chung
được định

hoạt
động.
1. Quan niệm về rủi ro ngân hàng
Có rất
nhiều
tài
liệu
nghiên cứu và đưa ra
nhiều
khái
niệm
khác
nhau
vồ
rủi
ro trong kinh
doanh
ngân hàng, hay còn
gọi

rủi
ro ngân hàng. Tuy

những
sự khác
nhau
trong
các khái
niệm,
song

2.
Những
rủi
ro
chính
của
ngân hàng
Như đã trình bày ở trên,
kinh
doanh
ngân hàng là
loại
hình
kinh
doanh
đặc
biệt.

thế
các
rủi
ro
trong
hoạt
động ngân hàng
cũng

những đặc
trưng
riêng,

phi
để
vay
hoặc
giá
phải
trả
để
thuê
vốn
trong
một
thời
gian nào
đó.
Như vậy
lãi
suất
cũng
là một
loại
giá
cử.
Trong

chế
thị
trường,
lãi
suất

lãi
suất
tiền
vay
giửm
trong
khi
lãi
suất
tiền
gửi
hoặc
trái
phiếu
phát
hành tăng hay
giữ
nguyên).
Những
thiệt
hại
do
rủi
ro lãi
suất
gây
ra
làm
chi
phí cho

không
thay
đổi
nhưng lãi
suất thực tế
giửm sút.
Vốn và
lãi
suất
ngân hàng
thu
về có
ù

trị
thực tế
không
bằng
số
vốn
bỏ
ra
ban đầu (còn
gọi

rủi
ro
do lạm
phái).
2.2. Rủi ro tín dụng (Rủi ro không thu hồi được các khoản cho vay):

lớn
nhất
và thường xuyên xảy
ra,
bởi
vì hơn 2/3 số
tài
sản có của ngân hàng là các
món cho vay và đáu tư
chứng
khoán, đem
lại
thu nhập
chủ yếu cho ngân
hàng.
Thêm vào đó, các hoạt đễng ngoài bảng quyết toán tài sản (rủi ro hoạt
đễng
ngoại
bảng)
như: các
giao
dịch
trên
thị
trường
hối
đoái,
các hợp
đồng
trao

vụ ngoại
bảng.
Lý do là
bởi
"tính
chất
của các
hoạt
đễng
ngoại
bảng

ngân hàng thu được phí
trong
khi
không
phải
sử
dụng
đến vốn
kinh
doanh"
("Đánh
giá và phòng
ngừa
rủi
ro
trong
kinh
doanh

dụng,
mễt
hoạt
đễng
ngoại
bảng
phổ
biến nhất hiện
nay;
ngân hàng có
thể
sẽ gặp
phải
rủi
ro
nếu công
ty
phát hành
chứng
khoán
hay
mễt
trong
hai
bên
trong
hợp đồng thương mại không có khả năng
thanh
toán cho
người

thành nguyên nhân chính
khiến
ngân hàng có
thế
đi đến
chỗ
phá
sản.
12
Như
vậy,
nếu các món cho vay
hoặc
đầu tư
chứng
khoán đến kỳ hạn mù
không được hoàn
trả,
ngân hàng sẽ mất cả vốn
lẫn
lãi.
Nếu giá
trị
số
thiệt
hại
quá
lớn,
vượt
quá số vốn tự có của ngân hàng, ngân hàng sẽ

lồ,
phá
sản,
hoặc
bị các
rủi
ro
thuần
tuy bất
khả kháng do hoa
hoạn,
bão
lụt,
tham
ô,
ăn
cắp, lỹa
đảo,
2.3. Rủi ro vê nguồn vốn, thể
hiện
trẽn
hai phương
diện:
2.3.1. .Rủi ro do bị đọng vốn (thừa vốn):
Trong trường hợp này, nguồn vốn huy động của ngân hàng bị ứ đọng
không
thể
cho vay ra được
hoặc
không

cái
đệm chóng đỡ sự
sụt
giá
của các
tài
sản có
(I).
Nguồn
vốn
hoạt
động chủ yếu của ngân hàng là vốn huy
động.
Nếu vì
một
lý do nào đó vốn ngân hàng không cho vay
ra
được
hoặc
không sử
dụng
hết,
nghĩa

tồn
tại
số
tiền
dự
trữ

này kéo
dài,
ngân hàng không
khắc phục được,
sẽ
phải
đóng
cửa.
Nguyên nhân chủ yếu của tình
trạng
này có
thể
do cơ cấu
13
lãi
suất
không phù hợp, do tình hình KT XH
trong
khu vực không ổn
định,
do sự
tín nhiệm của
khách hàng
đối với
ngân hàng là không
cao,
2.3.2. Rủi ro do thiếu vốn khả dụng (rủi ro thanh khoản):
Trường hợp này xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầu
thanh
toán cùa khách hàng. Rủi ro này

trong
khi
kỳ
hạn
sể
dụng
vốn vẫn là không
đổi.
Hoặc có
thế
do ngân hàng bị mất lòng
tin
đột
ngột từ
phía khách hàng vì một nguyên nhân nào
đó,
cùng một lúc
hàng
loạt
khách hàng ổ
ạt
đến rút
tiền
làm ngân hàng không
thể
cùng một
lúc có đủ
tiền
mặt để
thanh

trung
ương (lãi
suất
tái
chiết
khấu
này thường là
rất
cao)

vay
từ
các ngân hàng khác, có
thể
dẫn
tới
vỡ
nợ.
Như
vậy,
do sự
cạnh
tranh
giữa
các
thể
chế
tài
chính trên
thị


vậy,
trong
nền
kinh
tế thị
trường, tỷ
giá
cũng
luôn
biến
động.
Mà các
nghiệp
vụ của ngân hàng bao gồm cả
dịch
vụ
thanh
toán, luôn gắn
liền
chặt
chẽ
với
tỷ
giá.

vậy,
việc
ngân hàng nắm
giữ

các
nguồn
ngoừi tệ.
2.5. Rủi ro công nghệ và hoạt động:
Trong
những
năm gần đây, đổi mới công
nghệ
trong
hệ
thống hoừt
động
đã được các ngân hàng đặc
biệt
quan
tâm
tới
với
mục tiêu nhằm
giảm
chi
phí bình quân trên một đơn
vị
sản phẩm. Ví dụ như ở
Việt
Nam, các ngán
hàng
hiện
đã và đang
thiết

thanh
toán bù trừ tự động ÁCH
(Automated
Clearing
House)
hay
mừng
lưới
điện
tín
thanh
toán và chuyên
tiền
như hệ
thống
CHIPS của Mỹ
(Clearing
House
Interbank
Payment
System),
hay hệ
thống
vệ
tinh
độc
quyền
của công
ty
dịch

giảm
không đù bù đắp
nguồn
vốn bỏ
ra
cho
việc
đổi
mới
công
nghệ;
hay
khoản
đầu tư này là quá
lớn,
dẫn đến công
nghệ
quá
15
cao
nhưng chưa sử
dụng
tới,
từ
đó
giảm
khả năng
cạnh
tranh
của ngân

Là những rủi ro do thiên nhiên gây ra như thiên tai, động đất, hoa hoạn,
hoặc
các
rủi
ro
như
lừa
đảo,
trộm
cờp,
tham nhũng
làm
thiệt
hại
hay phá
huy
các tài sản của ngân hàng. Những
rủi
ro này hầu như không lường
trước
được và gây mất
mát,
thiệt
hại to lớn
cho ngân hàng.
2.7. Rủi ro do mất khả năng thanh toán:
Rủi ro do mất khả năng
thanh
toán là
loại

ngân hàng sẽ bị vỡ nợ hay phá
sàn.
Sự
phá sản hay đổ vỡ của một ngân hàng, đặc
biệt
của một ngán hàng
lớn

nguy
cơ kéo
theo
sự phá sản của hàng
loạt
các ngân hàng khác, gây nên
những cuộc hoảng
loạn
ngân hàng như ở Mỹ sau năm 1930 hay
trong
những
năm 1980
hoặc
sự đố vỡ của hàng
loạt
quỹ tín
dụng
nhân dân của
nước
ta
vào
cuối

hiện
nay.
Các
rủi
ro
này có
thể
được
thể
hiện
tóm lược
bới

đổ
dưới
đây:
Sơ đổ Ọ Ị: Các rủi ro chủ yêu trong kinh doanh ngân hàng
RỷI
RO NGÂN HÀNG
Rủi
ro
lãi
suất
Rủi
ro
tín
dụng
Rủi
ro
nguồn

Rủi
ro
ngân hàng là một
loại
hình
rủi
ro
đạc trưng
trong kinh
doanh
ngân
hàng.

vậy,
những
nguyên nhân gây
ra
rủi
ro
ngân hàng
cũng
mang tính
đặc
thù
riêng,
đó là:
3.1. Thông tin không cân xứng, sự chọn lựa đôi nghịch và rủi ro đạo
đức
trên
thị

tồn
tại
giữa
những
người
tham gia
những
giao
dịch
này là: một bên không
biết
được hết
tụt
cả
những
gì cần
biết
từ
phía bên
kia.
Sự không cân bằng về
thóììíỊ
tin
mà mỗi
bên có được như
vậy,
được gọi là "Thông
tin
không cân xứng
"

tin
trong
các
giao
dịch
tài chính sẽ nảy
sinh
ra hai
vụn
đề,
đó là Sự
chọn
lựa
đối nghịch
trước
khi
cuộc
giao
dịch
xảy
ra

Rủi ro
đạo đức sau
khi
cuộc
giao
dịch
xảy
ra.

khả năng đế
18
người
cho vay
lựa
chọn
để cho
vay.
Sự
chọn
lựa đối
nghịch
này mang
tới
rủi
ro

cấc
trường hợp cho vay được
những
trường hợp
bị từ
chối,
không
cho
vay
lại

những
trường hợp có khả năng

kết trong
hợp
đổng.
Nhũng
hoạt
động này
cũng
tạo
ra
rủi
ro đối
với
người
cho vay về
việc
được hoàn
trả
từ
phía
người
đi
vay khi
người
đi vay không có trách
nhiệm đối
với
khoản
vốn
vay,
đáu lư

hai
nghiệp
vụ
này,
ngân hàng đều phái
đối
mặt
với rủi
ro
khi
thông
tin
không cân
xứng
xảy
ra.
a/ Khi thực hiện nghiệp vụ Nợ: Ngân hàng huy động nguồn vốn
cho
mình
bằng
cách
thu
hút các
nguồn
tiền
gửi,
đi vay
mượn,
của cá
nhãn và các tổ

tiền tại
ngân hàng) hay không. Nếu
tình hình
hoạt
động của ngân hàng là khả
quan, người
cho vay sẽ không
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status