BÀI THẢO LUẬN
Đề Tài: Vai trò của các công cụ phái sinh trong hoạt động
quản trị rủi ro tín dụng.
I/ Rủi ro tín dụng và các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro tín dụng
1/ Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi con nợ không có khả năng thnah toán gốc và lãi
vay đúng hạn. Trải qua bốn giai đoạn:
- Khả năng trả nợ suy giảm: thể hiện thông qua các chỉ số tài chính xấu đi, các nguồn
thu nhập giảm sút. Doanh nghiệp có thể mất đi thị phần do cạnh tranh khốc liệt hoặc
sản phẩm không còn được thị trường ưa chuộng. Hệ quả của việc này có thể là việc
xuống hạng định mức tín nhiệm, lãi suất huy động vốn tăng lên.
- Tình trạng hết sức khó khăn: doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính
do tình hìh kinh doanh kém, các nguồn thu nhập giảm sút nghiêm trọng, bắt đầu các
khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp chưa nhìn thấy nguồn. Hệ quả của việc này có
thể là việc xuống hạng định mức tín nhiệm, lãi suất huy động vốn tăng lên, sự tiếp
cận với các nguồn tín dụng trở nên khó khăn với các điều khoản tín dụng hết sức ngặt
nghèo.
- Khả năng trả nợ: đây là giai đoạn doanh nghiệp không thể thanh toán các khoản nợ
khi đến hạn. Các chủ nợ phải áp dụng biện pháp siết nợ và phong tỏa tài sản. Việc
giải quyết thanh toán nợ sẽ được thực hiện qua tòa án.
- Phá sản: doanh nghiệp phá sản hoàn toàn.
Như vậy rủi ro tín dụng khá đa dạng và trong thực tế không
phải đợi đến giai đoạn mất khả năng trả nợ thì mới thành rủi ro. Việc có thể lượng
hóa được suy giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp theo thời gian sẽ giúp hình
thành các sự kiện tín dụng, cơ sở hình thành các gốc phái sinh của rủi ro tín dụng.
Các loại sự kiện rủi ro tín dụng theo ISDA:
- Phá sản.
- Không có khả năng thanh toán một công nợ khi đến hạn phải trả. Sự kiện này
thường xác định khi số tiền phải thanh toán tăng đến hạn mức nào đó sau giai đoạn ân
hạn nhất định.
- Tình huống khi một sự kiện phát sinh làm một khoản công nợ phải trả trước thời
2.1/ Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng.
- Cơ chế hoạt động: trong hợp đồng hoán đỏi rủi ro tín dụng bên mua bảo vệ ( bên B)
sẽ thanh toán cho bên bán bảo vệ ( bên A) một khoản phí bảo hiểm cố đinh hoặc định
kì trên cơ sở hàng tháng hoặc hàng quy. Hoặc ngược lại bên A sẽ thanh toán cho bên
B một khoản bồi thường rủi ro tín dụng nhất định khi sự kiện tín dụng xảy ra đối với
tài sản tham chiếu mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Khi sự kiện tín dụng xảy
ra, hợp đồng hoán đổi tín dụng coi như chấm dứt và các khoản phí bảo hiểm thanh
toán định kì cũng ngừng thanh toán.
Khoản bồi thường mà bên A thanh toán cho bên B có tính chất tiềm ẩn vì nó phụ
thuộc vào sự kiện tín dụng có xảy ra không đối với tài sản tham chiếu.
. Nếu không xảy ra sự kiện tín dụng, số tiền thanh toán là 0.
. Nếu xảy ra sự kiện tín dụng :
Số tiền thanh toán = Gía trị gốc - giá trị thu hồi.
Bên mua bán rủi ro tín dụng ( bán bảo vệ rủi ro) trong hợp đồng hoán đổi rủi ro tín
dụng sẽ có trạng thái tín dụng “ trường”. Muốn cân bằng trạng thái rủi ro tín dụng,
bên mua rủi ro có thể thực hiện một số cách thức sau:
. Thương lượng với bên bán rủi ro thanh lí hợp đồng bằng cách thanh toán cho nhau 1
khoản tương đương giá trị định giá lại của hợp đồng.
. Chuyển nhượng hợp đồng sang cho 1 bên thứ 3 với việc thanh toán cho bên kia 1
khoản tương đương giá trị định giá lại của hợp đồng.
. Tiến hành mua bảo vệ từ 1 bên thứ 3 cho khoản thời hạn còn lại của hợp đồng để
cấn trừ rủi ro từ hợp đồng mua rủi ro đã kí kết. Nếu rủi ro tín dụng của tài sản tham
chiếu tăng lên so với ban đầu, mức phí bảo hiểm phải trả cho bên thứ 3 sẽ tăng theo.
Với phương pháp này, nhà đầu tư sẽ duy trì 2 trạng thái tín dụng đối ngược nhau từ
hai đối tác khác nhau. Nhà đầu tư sẽ nhận phí bảo hiểm từ bên bán rủi ro và thanh
toán cho bên mua rủi ro.
- Phương thức tất toán hợp đồng.
Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng phải quy định rõ phương thức tất toán hợp đồng.
Cụ thể, khi xảy ra sự kiện tín dụng, bên B và bên A có 2 phương thức tất toán hợp
đồng, đó là phương thức thanh toán bằng tiền mặt và phương thức trao đổi tài sản
chọn hình thức trao đổi tài sản để tránh việc giải quyết các thủ tục thu hồi. Trong khi
đó, bên bán bảo vệ cũng có thể sẵn sàng chọn lựa hình thức trao đổi tài sản nếu họ tin
rằng việc giải quyết thu hồi tài sản mang lại giá trị cao hơn so với việc thanh toán tiền
mặt.
2.2/ Các sản phẩm phái sinh tín dụng khác
- Chứng khoán hóa tổng hợp
- Trái phiếu liên kết phái sinh rủi ro tín dụng
- Hợp đồng hoán đổi toàn bộ lợi ích
- Quyền chọn biên độ tín dụng
2.3/ Các đối tượng sử dụng phái sinh rủi ro tín dụng
- Ngân hàng
- Công ty chứng khoán
- Công ty bảo hiểm
- Doanh nghiệp
- Qũy đầu cơ
- Qũy tương hỗ
- Qũy hưu trí
- Chính phủ
Ngân hàng thương mại là đối tượng sử dụng chính với cả vai trò người bán người
mua và trung gian mua bán rủi ro tín dụng. Điều này bắt nguồn từ nhu cầu quản trị
rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng như các tỷ lệ an toàn
vốn . Tuy nhiên các cuộc khảo sát trong những năm gần đây các chủ thể khác trên thị
trường đã bắt đầu tích cực tham gia vào sản phẩm này, đặc biệt là các công ty bảo
hiểm, quỹ đầu cơ với vai trò là những người bán bảo vệ rủi ro tín dụng cho thị
trường. Phái sinh rủi ro tín dụng đã thoát khỏi mục đích nguyên thủy của chúng và
trở thành một hàng hóa mang tính chất trao đổi, đầu cơ kiếm lời.
II/ Tình hình tài chính kinh tế , tín dụng, rủi ro tín dụng, trong nước
1- Tình hình hoạt đông ngân hàng 6 tháng đầu năm 2010
1.1.Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngoại hối:
Thực hiện mục tiêu mở rộng tín dụng ở mức hợp lý, giảm dần mặt bằng lãi suất,
khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp tục kiểm
soát chặt chẽ vốn cho vay lĩnh vực phi sản xuất.
- Theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ diễn biến lãi suất huy động và cho vay trên
thị trường, tình hình tăng trưởng huy động và dư nợ tín dụng của các tổ chức tín
dụng, nhất là huy động và cho vay bằng ngoại tệ; xem xét các biện pháp điều chỉnh
phù hợp đối với cho vay bằng ngoại tệ để không tạo sức ép lên tỷ giá và cung cầu
ngoại tệ trên thị trường.
- Ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP
ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn.
- Triển khai nhiều giải pháp về điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối nhằm bình ổn
thị trường ngoại tệ, thị trường vàng và cải thiện lòng tin của thị trường vào tính nhất
quán của chính sách tiền tệ và tỷ giá:
+ Quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín
dụng là 1%/năm. Điều chỉnh tăng 3,36% tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa
USD/VND kể từ ngày 11/2/2010 và duy trì ổn định cho đến nay.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực mua lại ngoại tệ của một số tập đoàn, tổng
công ty nhà nước. Bán ngoại tệ can thiệp ở mức hợp lý để hỗ trợ ngoại tệ nhập khẩu
các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung ngoại tệ cho vay nhập khẩu những mặt
hàng thiết yếu phục vụ sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được, hạn chế và
kiểm soát chặt chẽ việc cho vay bằng ngoại tệ và VND để mua ngoại tệ nhập khẩu
những mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu; Kiểm soát chặt việc sử dụng ngoại
tệ, chuyển tiền ra nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân theo đúng quy
định của pháp luật.
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về
quản lý ngoại hối của các tổ chức tín dụng; chấn chỉnh hoạt động của các đại lý đổi
ngoại tệ.
+ Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các biện pháp quản lý hoạt động
kinh doanh vàng và chấm dứt hoạt động của các sàn giao dịch vàng; chỉ đạo việc tất
USD/VND trên thị trường tự do xoay quanh tỷ giá giao dịch của các ngân hàng
thương mại. Giá vàng trong nước diễn biến phù hợp với giá vàng thế giới, có thời
điểm giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới.
- Về huy động vốn, cho vay:
Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn và dư nợ tín dụng tăng
dần, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. So với cuối
năm 2009, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước tăng 10,82%, dư nợ
tín dụng ước tăng 10,52%.
1.2. Bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng:
Để đảm bảo an toàn và phát triển hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam, góp phần ổn
định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung chỉ đạo triển khai các nội
dung:
- Rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành một số quy định mới phù hợp với diễn biến của
hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và thông lệ, chuẩn mực quốc tế, như: Quy định
về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; hướng dẫn tổ chức, quản trị, điều
hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của
ngân hàng thương mại; quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín
dụng; quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại
cổ phần. Trong đó, quy định mới về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của
tổ chức tín dụng đã điều chỉnh tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% và bổ
sung quy định về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (80% đối với ngân
hàng và 85% đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng).
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng chú trọng phát triển mạng lưới chi nhánh ở địa bàn
nông nghiệp, nông thôn, gắn mục tiêu và hoạt động kinh doanh của chi nhánh với
việc phục vụ phát triển kinh tế địa phương nơi mở chi nhánh, tiếp tục nâng cao năng
lực tài chính, quản trị, điều hành, kiểm soát rủi ro đáp ứng yêu cầu hội nhập.
- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng cổ phần rà soát vốn cổ phần của cổ đông, nhóm cổ
đông có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của tổ chức tín dụng, đảm bảo việc quản lý
đầu tư phù hợp với các quy định của pháp luật.
- Theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng. Áp dụng các biện
ADB lần thứ 43 tại Tashkent – Uzbekistan (ngày 03-05/5). Tại Hội nghị, Hội đồng
Thống đốc ADB đã thông qua Nghị quyết chọn Việt Nam là quốc gia đăng cai tổ
chức Hội nghị thường niên ADB lần thứ 44 (diễn ra từ ngày 3-6/5/2011 tại Hà Nội)
và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu được bầu giữ chức
Chủ tọa Hội nghị thường niên lần thứ 44 của ADB.
- Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22/3/2010, Ngân hàng Nhà
nước đã phối hợp với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tổ chức thành công hội thảo quốc
tế cấp cao của IMF tại Hà Nội với chủ đề “Tăng trưởng và giảm nghèo tại các nước
Châu Á đang phát triển giai đoạn hậu khủng hoảng”.
- Trong khuôn khổ hợp tác khu vực, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức thành công
Hội nghị Phó Thống Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACDM) lần thứ 18
và Hội nghị Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACGM) lần thứ
6 tại Nha Trang, Khánh Hòa trong 02 ngày 4/4 và 7/4/2010; Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước đã tham dự Hội nghị Thống đốc lần thứ 45 của Trung tâm Đào tạo các
Ngân hàng Trung ương khu vực Đông và Nam Á (SEACEN), Hội nghị Hội đồng
Thống đốc SEACEN lần thứ 29 tổ chức từ ngày 26-28/2/2010 tại Campuchia.
- Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện tốt vai trò đầu mối phối hợp với các bộ,
ngành chuẩn bị, đàm phán, ký kết các chương trình, dự án vay vốn của WB, ADB,
JBIC ; khai thác tối đa nguồn hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc
tế và các đối tác song phương, đa phương nhằm tăng cường năng lực quản lý, hoạt
động của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
1.5. Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công tác cải cách thủ tục hành
chính:
2 – Tín dụng ngoại tệ vượt mặt VND
Trái ngược với tốc độ tăng thấp của huy động ngoại tệ, tín dụng ngoại tệ nối tiếp đà
tăng mạnh trong nhiều tháng qua tiếp tục gây sức ép lên nguồn cung ngoại tệ của các
ngân hàng. Dấu hiệu tăng rõ lãi suất huy động USD ở một vài ngân hàng phần nào
cho thấy hiện tượng này.
2.1Chênh lệch vào - ra
Cho đến nay, NHNN vẫn chưa công bố các số liệu chi tiết về hoạt động tín dụng
chi nhánh TPHCM cho thấy, đến tháng 8.2010, huy động vốn VND của các ngân
hàng trên địa bàn tăng 16,3%, nhưng cho vay chỉ tăng 5,8%. So với 7 tháng đầu năm
2010, huy động vốn tăng thêm 0,3%, nhưng dư nợ tín dụng chỉ tăng thêm 0,1%.
Chênh lệch giữa huy động vốn và cho vay VND trong 8 tháng đầu năm 2010 của các
ngân hàng TPHCM hiện lên đến 11,3%
2.2 Tác động lên lãi suất
Nhu cầu vốn ngoại tệ cho tín dụng những tháng cuối năm tác động mạnh đến biểu lãi
suất huy động USD của một loạt NHTM và đưa lãi suất huy động USD lên mức cao
nhất 5,5%/năm. Sau Eximbank, SeABank và ABBank, ACB mới đây cũng thực hiện
tăng lãi suất huy động USD ở các kỳ hạn 1-9 tháng thêm 0,150-0,2%/năm và đưa lãi
suất huy động các kỳ hạn dao động trong khoảng 3,6%-4,4%/năm.
Những điều chỉnh này dù không gây “sốc” hay “choáng” như biểu lãi suất của một
vài NHTM khác, song càng làm cho mặt bằng lãi suất huy động USD thêm sôi động.
Khác với cách đây khoảng một tháng, mặt bằng lãi suất USD ít tuần gần đây chứng
kiến nhiều đợt bứt phá đưa lãi suất huy động dòng tiền này vượt ngưỡng 5%/năm.
Đáng lưu ý trên mặt bằng lãi suất huy động USD hiện nay, có ít nhất khoảng 10
NHTM đang áp dụng biểu suất với một số kỳ hạn có lãi suất vượt 5%/năm.
ABBank và NH Việt - Nga (VRB) hiện đang dẫn đầu thị trường với biểu lãi suất cao
nhất lần lượt là 5,45%/năm và 5,5%/năm. Cầu vốn ngoại tệ tăng mạnh nhằm đáp ứng
nhu cầu vay vốn cuối năm có thể sẽ còn tạo nên những cuộc bứt phá khác trong biểu
lãi suất huy động USD của các ngân hàng trong thời gian tới.
3.Rủi ro tín dụng
Nợ xấu là một tiêu chí để xem xét tầm quan trọng của rủi ro tín dụng ở hệ thống ngân
hàng đang ở mức độ nào. Đây là điểm mà các NHTM có thể đang vấp phải. Đặc biệt
là việc nhiều NHTM có công ty mẹ, cổ đông lớn, cổ đông chiến lược là các tập đoàn,
các tổng công ty lớn, các doanh nghiệp lớn. Điều này có thể tạo ra mối nghi ngờ về
việc một số ngân hàng có thể cố tình nới lỏng điều kiện cho vay đối với một số cá
nhân hoặc tổ chức vì một số lý do nào đó, điều này có thể dễ dẫn tới những rủi ro tín
dụng.
Từ rất lâu, các chuyên gia quốc tế đều cảnh báo nếu tăng trưởng tín dụng của ngân
Do tỷ lệ nợ xấu (từ nhóm 3 - 5) vượt 0,28% so với chỉ tiêu đề ra dẫn đến chi phí dự
phòng tăng lên, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong năm 2009, nên kế hoạch năm nay của
SCB là cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng đa dạng hóa đối tượng khách hàng. Đồng
thời, SCB sẽ ưu tiên hỗ trợ vốn cho các ngành kinh tế trọng điểm cũng như đẩy mạnh
tài trợ xuất, nhập khẩu. Tỷ lệ nợ xấu năm 2010, SCB cho biết, sẽ kiểm soát dưới mức
2%.
Tổng giám đốc Navibank, ông Lê Quang Trí cho biết, với mục tiêu tăng trưởng tín
dụng Ngân hàng đặt ra trong năm 2010 tăng 70% so với năm trước thì việc kiểm soát
chất lượng dư nợ sẽ được quan tâm nhiều hơn. Mặt khác, theo ông Trí, Navibank sẽ
thực hiện các biện pháp cứng rắn để đốc thúc thu hồi nợ, kết hợp với việc xử lý tài
sản đảm bảo của khoản nợ xấu khi cần thiết để đảm bảo nguồn thu gốc, lãi cho Ngân
hàng trong năm 2010.
Còn theo đại diện của Ngân hàng OCB, trong năm qua Ngân hàng đã từng bước rà
soát lại các khoản vay, giảm tỷ lệ nợ xấu và đến cuối năm tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3 - 5)
chiếm tỷ lệ 2,64% trên tổng dư nợ so với đầu năm 2009 là trên 3%. Vì thế, năm qua
khoản trích lập rủi ro dự phòng tín dụng của OCB chỉ trên 100 tỷ đồng. Với mục tiêu
tăng trưởng tín dụng bình quân năm 2010 cao hơn 30%, OCB sẽ cố gắng kiểm soát
nợ xấu ở mức thấp nhất.
Sở dĩ các ngân hàng kiểm soát chặt hơn chất lượng tín dụng là nhằm hạn chế tối đa
rủi ro nợ xấu cũng như giảm thiểu khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Trên thực
tế, trong 2 năm qua khoản trích lập dự phòng tín dụng đã ảnh hưởng đến lợi nhuận
của nhiều ngân hàng nên các nhà băng kỳ vọng sớm được hoàn nhập khi nợ xấu được
xử lý xuống mức thấp. Theo quy định hiện hành, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng chung là 0,75%
4- Cảnh báo rủi ro
theo các chuyên gia tài chính cho rằng, khu vực ngân hàng hiện nay và trong 6 tháng
tới vẫn có những rủi ro khá cố hữu và là khá cơ bản, do tình trạng no dồn tín dụng:
4.1- Rủi ro đồng tiền/tỷ giá:
Theo dõi diến biến thị trường cho thấy, tín dụng đã tăng dần qua các tháng đầu năm
2010. tổng dư nợ tín dụng tính đến tháng 7 năm 2010 đạt 610,8 ngàn tỷ, tăng 26,4%
4.3- Tín dụng chạy vào vùng rủi ro, đầu cơ, bong bóng :
Thời gian qua, Chính phủ đã có rất nhiều nỗ lực để nắn dòng vốn tín dụng NHTM
đi đến đúng địa chỉ của nó là khu vực sản xuất vật chất (DN sản xuất). Mặc dù vậy,
quá khứ cho thấy, khi tín dụng tăng mạnh, thì trào lưu luồng tiền chảy mạnh vào
chứng khoán, vàng, đầu cơ bất động sản là khá mạnh. Có nghiên cứu chỉ ra rằng,
có mối quan hệ thuận chiều giữa tăng trưởng tín dụng với giá chứng khoán trên sàn
chứng khoán HCM (HoSE). Điều đó gợi ý rằng, nếu tăng trưởng tín dụng quá mức
hấp thụ của khu vực sản xuất và thiếu kiểm soát phù hợp thì tín dụng sẽ chảy đến
không đúng địa chỉ cần đến. Khi tín dụng tăng trưởng quá mức (với điều kiện hạ
thấp hơn và kiểm soát lỏng lẻo hơn, ) thì sẽ có thể tạo nên hiệu ứng bong bóng
chứng khoán, bong bóng nhà đất Khi đó, nền kinh tế sẽ trở nên rủi ro hơn. Bài học
về bong bóng nhà đất do tăng trưởng tín dụng ở Mỹ năm 2007 và ở Trung Quốc thời
gian qua là bài học cho nhiều nước trên thế giới.
III/ Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng vietcombank
( PHAN THÙY DƯƠNG, BÙI THỊ DUYÊN)
1. Tình hình rủi ro tín dụng tại Vietcombank:
Sự tăng trưởng, mở rộng đầu tư tín dụng luôn đi kèm với những rủi ro tiềm ẩn
xảy ra trong tương lai. Kinh nghiệm và thực tế cho thấy, sự tăng trưởng nóng tín dụng
trong một giai đoạn nào đó, thường để lại hậu quả về tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trong
những năm tiếp theo. Để phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ngân hàng
Vietcombank trong những năm gần đây ta xem xét bảng phân loại nợ của ngân hàng
Vietcombank:
BẢNG PHÂN LOẠI NỢ
31/12/2008 31/12/2009 30/6/2010 30/9/2010
Giá trị
(triệu
đồng)
Tỉ
lệ
(%)
79,9
8
135.429.1
60
83,5
2
Nợ cần chú ý 3.061.32
0
2,71 8.033.74
2
5,67 24.271.4
87
15,8
7
21.803.4
10
13,4
5
Nợ dưới tiêu
chuẩn
921.191 0,82 440.649 0,31 3.522.74
1
2,3 2.348.31
7
1,45
Nợ nghi ngờ 813.087 0,72 394.977 0,28 581.478 0,38 469.558 0,29
Nợ có khả
năng mất
vốn
3.467.76
với năm 2008. Tỷ trọng dư nợ cho vay khách hàng trong tổng sử dụng vốn đạt
55,4%. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của Vietcombank thấp hơn nhiều so với tốc độ
tăng trưởng toàn ngành Ngân hàng (37,7%), nhưng đảm bảo được sự cân bằng giữa
an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng. Trong 6 tháng từ 1/1/2010 đến
31/6/2010 tốc độ tăng trưởng tín dụng của Vietcombank đạt 7,98%, và đạt 14,5%
trong 9 tháng đầu năm 2010.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng dần và kéo theo đó là tổng mức nợ xấu của
Vietcombank trong các năm gần đây cũng ở mức cao. Trong giai đoạn 2005-2007, tỷ
lệ nợ quá hạn, nợ xấu của ngân hàng Vietcombank luôn được duy trì ở mức thấp
khoảng trên dưới 2%/tổng dư nợ. Tuy nhiên năm 2008, khủng hoảng kinh tế thế giới
đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính
của các doanh nghiệp, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thực hiện
cam kết trả nợ với ngân hàng. Do đó, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank năm 2008 tăng
cao so với trước. Tại thời điểm 31/12/2008 tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ lên đến 4,6%.
Năm 2009, Vietcombank đã theo đuổi chính sách tăng trưởng tín dụng bền vững, coi
trọng việc nâng cao chất lượng tín dụng với các biện pháp: cơ cấu lại danh mục đầu
tư, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, quản trị rủi ro… Kết quả là chất lượng tín
dụng của Vietcombank trong năm 2009 được cải thiện đáng kể. Đến 31/12/2009 tỷ lệ
nợ xấu giảm xuống chỉ còn 2,47% thấp hơn nhiều so với 4,62% năm 2008 và mức
Đại hội đồng cho phép là 3,5%. Tuy vậy, trong nửa đầu năm 2010 tỷ lệ nợ xấu/tổng
mức dư nợ tăng mạnh lên đến 4,15%, tính chung trong 9 tháng đầu năm 2010 tỷ lệ
này giảm xuống nhưng vẫn khá cao 3,03%. Hôm 31/8, cơ quan xếp hạng tín nhiệm
danh tiếng thế giới Fitch đồng loạt hạ bậc tín nhiệm của hai ngân hàng hàng đầu Việt
Nam là Vietcombank và Ngân hàng Á Châu (ACB) từ D xuống D/E, tiệm cận mức
đánh giá dành cho các ngân hàng có vấn đề nghiêm trọng, cần đến sự trợ giúp từ bên
ngoài. Fitch cho rằng, hoạt động của Vietcombank trong 2009 và nửa đầu 2010 bộc
lộ sự mất cân đối khi tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng vọt đe dọa chất lượng tài sản,
trong khi đó hệ số an toàn vốn (CAR - vốn điều lệ trên tổng tài sản) không đạt yêu
cầu.
Trong đó Fitch tỏ ra quan ngại khi tốc độ tăng trưởng tín dụng của
Ngân hàng tiến hành phân loại nợ đối với các khoản vay và ứng trước cho
khách hàng và các tổ chức tín dụng khác dựa trên Quyết định 493 và quyết định 18
(Thuyết minh 2(f)), qua đó thường xuyên đánh giá rủi ro của các khoản nợ có vấn đề,
nợ xấu và đề xuất biện pháp xử lý phù hợp. Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng được
thực hiện thông qua các chính sách và thủ tục có liên quan, trong đó có chính sách
quản lý rủi ro tín dụng và hoạt động của Ủy ban Quản lý Rủi ro và Hội đồng Tín
dụng.
c, Bộ máy cấp tín dụng tại Vietcombank:
Tại Vietcombank, bộ máy hoạt động cấp tín dụng có các phòng nghiệp vụ tại
các Hội sở chính, tại các chi nhánh (Quan hệ khách hàng, Quản lý rủi ro tín dụng,
Quản lý nợ) và các phòng Giao dịch. Nhằm mục đích vừa tạo tính linh hoạt, vừa bảo
đảm mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng, Tổng Giám đốc ban hành quy định thẩm quyền
xét duyệt cho vay theo các cấp: Giám đốc chi nhánh, Tổng giám đốc… Hội đồng tín
dụng hỗ trợ cho Tổng Giám đốc và Giám đốc chi nhánh, có nhiệm vụ và quyền ra
quyết định các khoản cấp tín dụng có giá trị lớn, mức độ phức tạp để đảm bảo tính
khách quan. Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng của Vietcombank có
trình độ chuyên môn, được đào tạo bài bản, tốt nghiệp các chuyên ngành kinh tế- tài
chính- ngân hàng. Tuy nhiên đa số cán bộ còn trẻ, kinh nghiệm còn chưa nhiều, chỉ
có 40% là cán bộ có thâm niên công tác trong ngành trên 3 năm.
d, Chính sách tín dụng:
Từ những rủi ro đã gặp phải trong quá trình kinh doanh những năm qua, hiện
nay Vietcombank đang thực hiện “Tăng trưởng tín dụng trên cơ sở tập trung nâng cao
chất lượng và hướng tới các chuẩn mực quốc tế” với một số định hướng cơ bản:
- Tiếp tục tăng cường quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, mở
rộng tín dụng an toàn, tập trung vào các dự án thật sự khả thi và hiệu quả, đồng thời
giải quyết nợ xấu và kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn.
- Tăng cường các giải pháp marketing, phát triển thương hiệu. có chính
sách hợp lý để tiếp cận các dự án đầu tư, các khách hàng trong cụm công nghiệp và
khu công nghiệp tập trung. Chú trọng công tác thẩm định tín dụng, tỷ lệ cho vay có
đảm bảo để tăng trách nhiệm của khách hàng cũng như hạn chế thấp nhất khi rủi ro
nhập khẩu. Điều này đã phát huy tác dụng đáng kể khi thiên tai xảy ra, vốn rất thường
xuyên ở nước ta, vì có nguồn hỗ trợ để bù đắp các tổn thất.
f, Công tác xử lý nợ xấu:
Với quan điểm thận trọng, Vietcombank đã phân loại nợ khá chặt chẽ theo quy
định của ngân hàng nhà nước và đã trích đầy đủ dự phòng cho số nợ có nguy cơ tiềm
ẩn đối với các khoản vay của khách hàng như sau:
Dự phòng cụ thể cho các khoản cho vay khách hàng:
1/6 đến
1/12/2008
1/1 đến
31/12/2009
1/1 đến
30/9/2010
Số dư đầu kỳ 2.010.116 3.413.832 3.480.030
Trích lập trong kỳ 1.867.421 403.959 261.691
SD dự phòng xử lý nợ khó
thu hồi trong kỳ/năm
(463.705) (261.711) (205.849)
Chênh lệch đánh giá lại tỷ giá - 2.214 (60.069)
Biến động khác - (5.224) 165
Cuối kỳ 3.413.832 3.553.070 3.505.714
Để xử lý nợ xấu một cách hiệu quả, Ban giám sát xử lý nợ xấu của NHTMCP
ngoại thương yêu cầu các chi nhánh linh hoạt xây dựng các giải pháp xử lý nợ phù
hợp với tình hình thực tế.
Đánh giá công tác quản trị rủi ro tại Vietcombank:
Nhìn chung công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHTMCPNT đã có những thay
đổi rõ rệt so với trước đây, cụ thể là:
- Vietcombank đã đánh giá được tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng
và đã tích cực thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao khả năng phòng ngừa và phát
hiện rủi ro tín dụng. Ngân hàng đã xây dựng một chính sách quản trị rủi ro tín dụng
trường quốc tế, các khoản vay dài hạn của DN Việt nam tại các tổ chức tín dụng hoạt
động tại Việt Nam. Khách hàng chuyển nhượng rủi ro tín dụng cho HSBC là các tổ
chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam và bên nhận chuyển nhượng là các chi nhánh
HSBC ở nước ngoài. Thời hạn của giao dịch không quá 5 năm. Khách hàng mua loại
công cụ này cũng giống như thực hiện một khoản đầu tư gián tiếp. Việc tiếp cận với
các công cụ này cho phép nhà đầu tư có cơ hội tìm kiếm những mức lợi nhuận cao
hơn so với hoạt động tín dụng tiền gửi bình thường, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
vốn của các TCTD. Hơn nữa, việc sử dụng các công cụ mới này còn góp phần nâng
cao mức độ tín nhiệm của chính phủ và các DN Việt Nam khi phát hành trái phiếu ra
thị trường quốc tế.
Điểm lại nhưng mốc chính xuất hiện của các công cụ phái sinh ở VN, dễ nhận
thấy rằng nó chưa được thị trường đón nhận như là công cụ không thể thiếu trong
phòng ngừa rủi ro. Thực trạng đó đặt ra nhiều câu hỏi. Phải chăng các DN chưa thực
sự có nhu cầu phòng chống rủi ro? Phải chăng khoảng cách giữa mong muốn phòng
ngừa rủi ro của các DN và các công cụ phái sinh còn quá lớn? Phải chăng sự hiểu biết
của các DN đối với các Công cụ phái sinh, từ đó là những chính sách sử dụng nó còn
yếu kém? Phải chăng điều kiện kinh tế, đặc biệt là sự phát triển ở VN còn hạn chế?
Phải chăng là việc hạch toán những nghiệp vụ ngoại bảng này còn nhiều bất cập
khiến các ngân hàng còn nhiều lúng túng trong việc triển khai các dịch vụ phái sinh ?
Phải chăng những quy định pháp lý hiện nay còn hạn chế sự hoạt động của các công
cụ phái sinh?
2. vai trò của các công cụ phái sinh trong rủi ro tín dụng.
Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi ro của
mình chuyển giao rủi ro cho những người sẵn sàng chấp nhận nó, đó là những nhà
đầu cơ. Vì vậy, thị trường này rất có hiệu quả trong việc phân phối lại rủi ro giữa các
nhà đầu tư, không có ai cần phải chấp nhận một mức rủi ro không phù hợp với bản
thân mình. Và cũng vì thế mà họ sẵn sàng cung cấp nhiều vốn hơn cho thị trường tài
chính, điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển, phát huy khả năng huy động
vốn và giảm chi phí sử dụng vốn. Bên cạnh đó, thị trường các sản phẩm phái sinh
cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ. Bởi người muốn phòng ngừa rủi
đặt bên cạnh thị trường giao ngay, sự hiệu quả của thị trường phái sinh giúp nâng cao
tính lành mạnh cho thị trường đó.
Như vậy công cụ tài chính phái sinh là sản phẩm của nền kinh tế hiện đại. Kỹ thuật tài
chính này đòi hỏi một trình độ hiểu hiết và phát triển nhất đinh của bất kỳ nền kinh tế
nào. Việt Nam đã gia nhập WTO, hòa chung vào hơi thở chung của nền kinh tế toàn
cầu. Tuy nhiên, mức độ và điều kiện áp dụng ở Việt Nam còn có những hạn chế nhất
định. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần có một hệ thống giải pháp tích cực để triển khai
thành công kỹ thuật này trên thị trường tài chính.
3. Một số giải pháp vĩ mô
Nếu sử dụng sai mục đích và không được giám sát chặt chẽ, các công cụ phái sinh, từ
chỗ là công cụ phòng chống rủi ro sẽ mang đến những mầm hoạ khôn lường cho nền
kinh tế. Do vậy, để tránh điều đó, chúng ta cần xây dựng những trụ cột cơ bản đảm
bảo việc triển khai các công cụ tài chính phái sinh được bền vững.
Thứ nhất : Quy định về giới hạn và giá mua
Quy định này nhằm khống chế các nhà đầu tư đưa ra những mức giá quá cao hay quá
thấp làm cho thị trường bị xáo trộn hay bị bóp méo. Nói cách khác, đây là những quy
định nhằm kiểm soát (không ngăn cấm) các nhà đầu cơ tác động lên giá cả. Việc kết
hợp các chiến lược phòng ngừa rủi ro trong các quyền chọn tiền tệ là rất phong phú,
nó cho phép các DN Việt Nam kết hợp vừa phòng ngừa (tỷ giá) vừa tiến công khi có
cơ hội (đặc biệt đối với các định chế muốn tìm kiếm lợi nhuận). Dĩ nhiện là mặt trái
của quyền chọn là đầu cơ rất cao. Các nhà đầu cơ có thể đầu cơ giá lên hoặc đầu cơ
giá xuống bằng các quyền chọn mua và bán.
Việc đầu cơ giá trên hợp đồng quyền chọn tiền tệ có thể làm cho tỷ giá biến động
vượt ra khỏi biên độ dự kiến và do đó làm mất niềm tin của các DN và các nhà đầu tư
vào hệ thống tỷ giá mà chúng ta đã hoạch định. Mặc dù vậy, vẫn chưa có những
chứng cứ nào cho thấy việc đầu cơ vào các hợp đồng quyền chọn tiền tệ dẫn tới sự
sụp đổ hoặc khủng hoảng tỷ giá ở các nước trên thế giới. Chế độ tỷ giá phụ thuộc chủ
yếu vàọ sự ổn định vĩ mô của nền kinh tế quốc gia. Trong những năm qua, Việt Nam
được đánh giá rất cao về chỉ số ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, nỗi lo về tính bất ổn của
tỷ giá khi mở rộng biên độ sẽ giảm đi rất nhiều. Chính vì thế, chúng ta có thể triển
sau đó đem bán lại trên thị trường thế giới. Quy định này được áp dụng trong hầu hết
các nứơc phát triển, nhưng trong điều kiện Việt Nam chúng ta bắt buộc các ngân
hàng về các giao dịch này còn hạn chế nhiều, đó là chưa kể đến những yếu kém về
vốn trong hệ thống ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, Việt Nam cần xem xét và khẩn trương tham gia vào các thoả thuận giao
dịch hoán đổi theo quy định quốc tế thì mới có đủ điều kiện có thể tham gia ký các
hợp đồng tái bảo hiểm từ các giao dịch phái sinh trong nước.
Thứ tư : Yêu cầu mở cửa thị trường tự do cho tất cả các định chế triển khai các
hợp đồng phái sinh
Mở cửa thị trường các công cụ tài chính phái sinh, để tránh tình trạng phổ biến hiện
nay là chính phủ chỉ cho phép một số ngân hàng làm thí điểm. Có thể nói “thí điểm”
hiện nay là một căn bệnh của các cơ quan hoạch định chính sách. Trong những
trường hợp như thế, giá trị hợp lý của các hợp đồng phái sinh sẽ chỉ là độc quyền của
một số ngân hàng, và chắc chắn sẽ cao hơn trên thị trường thế giới. Tất cả những bóp
méo giá trị các hợp đồng phái sinh sẽ đẩy sang phía người mua gánh chịu. Tác dụng
ngược của các độc quyền là hoặc sẽ không tồn tại công cụ phòng ngừa rủi ro trên
thực tế, do giá phí quá cao làm nản lòng các nhà đầu tư, hoặc là các nhà đầu tư sẽ
càng chấp nhận mạo hiểm cùng tham gia canh bạc với cái giá phải trả rất cao với hy
vọng gỡ gặc lại bằng cách hy vọng đầu cơ trên những thị trường bất đầu cơ trên
không khí bất ổn của giá cả thị trường. Chính vì thế mà cần xem xét để tạo ra một thị
trường tự do, để các định chế tài chính có đủ các điều kiện có thể cung cấp các sản
phẩm phái sinh. Và dĩ nhiên đi liền với đó là thiết lập khung quản lý chung cho các
định chế này.
Thứ năm: Yêu cầu về đăng ký và lập các Báo cáo tài chính
Đây là một chuẩn mực bắt buộc nhằm làm tăng tính minh bạch cho tất cả thành viên
tham gia thị trường. Tất cả các thành viên tham gia thị trường phái sinh phải hiểu hết
về nhau trước khi tiến hành các giao dịch với nhau Chẳng hạn như một ngân hàng
Việt nam đồng ý thực hiện một hợp đồng tương lai 1000 lượng vàng với người mua
tương lai. Trong trường hợp này người mua tương lai cần phải có những thông tin
rằng hiện nay ngân hàng Việt Nam hiện đang ký quỹ là bao nhiêu tại một ngân hàng
đây là thời điểm chín muồi để triển khai Options chứng khoán vì tốc độ phát triển
thời gian qua khá nhanh, giá tăng – giảm đột biến, do đó nhu cầu về Options càng trở
nên cấp bách. Nếu có công cụ Options, nhà đầu tư không bị hoảng loạn vì gần như họ
đã mua “bảo hiểm” về giá cho các chứng khoán của mình.
Song song với việc triển khai các công cụ tài chính phái sinh thuần nhất, nên có
những tiếp cận đối với các sản phẩm lai tạp. Các sản phẩm quản trị rủi ro lãi suất, tỷ
giá, giá cả và cả rủi ro tín dụng đã xuất hiện trên thị trường Việt Nam. Thời gian tới
sẽ vẫn tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng của thị trường tài sản cơ cở . Từ đó, sẽ là
cơ sở có thể định giá các sản phẩm phái sinh hiệu quả nhất.
Trên đây là một số giải pháp mang tính vĩ mô,. Đó là những công việc mà nhà nước,
chính phủ và các cơ quan liên quan cần có kế hoạch triển khai. Tuy nhiên, để thị tr ư
ờng ngày càng phát triển bền vững, an toàn và hiệu quả thì cần những nỗ lực của tất
cả các chủ thể kinh tế, các DN, các tổ chức tín dụng ngân hàng, những chủ thể cung
cấp và sử dụng sản phẩm phái sinh. Và vấn đề cốt lõi chính là nhận thức của chính
các chủ thể tham gia trực tiếp chứ không phải là các chủ thể quản lý.