Sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho các doanh nghiệp dệt may việt nam - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – 2008”
Tên công trình :
SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH
ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ CHO CÁC
DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
GVHD : TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
Nhóm sinh viên: Nguyễn Thị Kim Liên -TCDN9-K30
Đỗ Vũ Hồng Hạnh - TCDN9-K30
Nguyễn Thị Kim Tuyến - TCDN9-K30
Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm rủi ro tỷ giá và các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá
1.1.1 Khái niệm rủi ro tỷ giá 3
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá 3
1.1.2.1 Tỷ lệ lạm phát tương đối 3
1.1.2.2 Lãi suất 3
1.1.2.3 Thu nhập tương đối 4
1.1.2.4 Kiểm soát của chính phủ 4
1.2 Các loại nhạy cảm với rủi ro tỷ giá
4
1.2.1 Độ nhạy cảm giao dịch 4
1.2.2 Độ nhạy cảm kinh tế 5
1.2.3 Độ nhạy cảm chuyển đổi 6
1.3 Tác động của rủi ro tỷ giá tới giá trị doanh nghiệp, cụ thể là tác động

20
2.1.1.5 Tình hình tiêu thụ hàng dệt may
21
2.1.1.6 Nhận xét chung về tình hình xuất nhập lhẩu của ngành dệt
may
22
2.1.2 Các rủi ro trong ngành dệt may VN và đánh giá rủi ro
26
2.1.2.1 Rủi ro từ môi trường bên ngoài
26
2.1.2.3 Rủi ro từ bản thân doanh nghiệp
29
2.1.3 Phân tích SWOT ngành dệt may VN
33
2.1.3.1 Điểm mạnh
34
2.1.3.2 Điểm yếu
35
2.1.3.3 Cơ hội
35
2.1.3.4 Thách thức
36
2.1.4 Dự báo tăng trưởng và chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm
2010
36
2.1.4.1 Mục tiêu
36
2.1.4.2 Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010

35

gian qua
45
2.4.2 Vấn đề ứng dụng các công cụ phái sinh của các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam, hiệu quả
52
PHẦN 3: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ:
3.1 Xây dựng sàn giao dịch quyền chọn ở Việt Nam
53
3.1.1 Khái niệm thị trường sàn giao dịch quyền chọn
54
3.1.2 Những quy định trên sàn giao dịch quyền chọn tiền tệ
55
3.1.3 Cơ chế điều hành và giám sát thị trường sàn giao dịch quyền chọn
57
3.1.4 Các thành phần tham gia thị trường
57
3.1.5 Nguyên tắc hoạt động
58
3.2 Một số giải pháp vĩ mô phát triển thị trường các công cụ tài chính phái
sinh và phòng ngừa rủi ro tỷ giá
59
3.2.1 Tạo những cơ sở, điều kiện tiền đề, và điều kiện pháp lý cho việc phát
triển và mở rộng giao dịch các công cụ phái sinh
59
3.2.1.1 Quy định về giới hạn và giá mua
59
3.2.1.2Yêu cầu về vốn và thế chấp trong giao dịch công cụ tài chính
phái sinh 60
3.2.1.3Yêu cầu bắt buộc về tái phòng ngừa rủi ro trên các thị trường
quốc tế 60

3 3.2 Chuyển đổi sản xuất dệt may theo dạng FOB, xây dựng trung tâm
nguyên phụ liệu tránh rủi ro tỷ giá
72
3.3.3 Sừ dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá
73
3.3.3.1 Tạo văn hóa quản trị rủi ro cho doanh nghiệp
73
3.3.3.2 Nâng cao trình độ quản trị rủi ro cho doanh nghiệp
74
3.3.3.3 Đẩy mạnh công tác dự báo
75
3.3.3.4 Ða dạng hóa nguồn thu bằng ngoại tệ
75
3.3.3.5 Cần có cơ cấu thanh toán ngoại tệ hợp lý khi USD giảm giá,
chuyển dịch cơ cấu mặt hàng
76
Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài
Ngành dệt may đang là ngành có kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam.
Với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 7,7 tỉ USD năm 2007, tăng 32% so với 2006, dệt
may đã qua mặt "anh cả” dầu thô, trở thành mặt hàng công nghiệp có kim ngạch
xuất khẩu ấn tượng nhất trong năm. Các DN cũng đã chủ động hơn trong việc tự
mình mở rộng tìm kiếm thị trường mới. Xuất khẩu sang thị trường Mỹ mang về
4,4-4,5 tỉ USD, chiếm 56% tổng kim ngạch xuất khẩu. EU đạt 1,4-1,5 tỉ USD,
chiếm 18%. Nhật dù chỉ chiếm 9% nhưng cũng mang về hơn 700 triệu USD.
Mục tiêu xuất khẩu của ngành năm 2008 phải đạt 9,5 tỉ USD, tăng gần 22% so với
năm 2007.
Nhưng cũng là ngành nhập khẩu nguyên vật liệu rất lớn. Để có thể xuất được số
hàng dệt may trị giá 7,7 tỉ USD trong năm 2007, VN phải chi tới 5,2-5,3 tỉ USD để
nhập nguyên phụ liệu sản xuất. Vì vậy các doanh nghiệp dệt may gặp phải rủi ro tỷ

Thái Lan, Malaysia, Philipine đang là những quốc gia có hệ thống chống rủi ro tài
chính phát triển mạnh trong khu vực. Việc ứng dụng các công cụ chống rủi ro tài
chính tại Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn và vướng phải sự ngập ngừng e
ngại của DN. Chủ yếu do DN chần chừ, không hiểu và không biết, còn ngân hàng
thì phải ra sức thuyết phục.
Dệt may là ngành bị cạnh tranh gay gắt khi nước ta là thành viên của tổ chức
thương mại thế giới WTO. Vào WTO đồng nghĩa với việc các nước trong khối
phải thực hiện nghĩa vụ bãi bỏ hạn ngạch dệt may, thực thi tự do hóa thương mại
toàn cầu. Và nó dẫn tới sự thay đổi quan trọng trong bức tranh toàn cầu, sự thay
đổi thị phần
Nội dung nghiên cứu của đề tài
Phân tích ngành dệt may Việt Nam: Dệt may là ngành đang có kim ngạch xuất
khẩu cao nhất của Việt Nam nhưng lại chịu nhiều rủi ro về cạnh tranh, tỷ giá ,
hàng rào mậu dịch,đối tác …nhất là rủi ro tỷ giá do chúng ta xuất khẩu nhiều
nhưng cũng nhập khẩu rất nhiều nguyên vật liệu, Việt Nam đã là thành viên của
WTO, vì vậy cơ hội mở ra rất lớn nhưng cũng nhiều thách thức cho các doanh
nghiệp trong nước nói chung và các doanh nghiệp dệt may nói riêng. Chúng ta sẽ
đi phân tích các cơ hội cũng như thách thức này, và để tìm ra đâu là điểm mạnh
của dệt may VN để từ đó phát huy và đâu là điểm yếu để khắc phục giúp ngành
dệt may hội nhập sâu rộng hơn và mở rộng được nhiều thị phần hơn
Rủi ro tỷ giá đang là nỗi lo của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong thởi kỳ
hội nhập. Các sản phẩm phái sinh như: SWAP, OPTION, FUTURE, FORWARD
sẽ là các công cụ hữu ích cho các doanh nghiệp sử dụng để chống lại rủi ro tỷ giá
và gia tăng giá trị cho doanh nghiệp dệt may Việt Nam
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm rủi ro tỷ giá và các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá
Việt Nam chúng ta đã và đang hội nhập sâu rộng với thế giới, chúng ta đã là thành
viên của tổ chức thương mại thế giới cái điều mà Việt Nam đa tha thiết phải làm
được trong vòng hàng chục năm qua đã thành hiện thực.Các doan nghiệp trong
nước có cơ hội mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình. Nhưng chúng ta càng

vì thế ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.
Nếu một nước có lãi suất tăng tương đối so với lãi suất của Mỹ thì dòng vốn của
Mỹ dùng để mua chứng khoán của nước này sẽ tăng ( cầu của Mỹ đối với tiền
nước này tăng) dòng vốn chảy ra để mua chứng khoán Mỹ giảm ( cung tiền đổi
sang đô la Mỹ giảm ) và có sức ép tăng giá lên giá trị cân bằng của tiền.
Để đánh giá những biến động của tỷ giá hối đoái ta thường so sánh lãi suất thực
giữa các quốc gia. Bởi lẽ nó kết hợp giữa lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát, mà
cả hai nhân tố này đều ảnh hưởng tới tỷ giá. Khi các nhân tố khác không đổi, sẽ có
mối tương quan cao giữa chênh lệch lãi suất thực của hai quốc gia với tỷ giá đồng
tiền của hai nước đó.
Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
1.1.2.3 Thu nhập tương đối
Thu nhập tương đối của một nước cũng tác động đến tỷ giá hối đoái. Giả dụ khi
thu nhập tương đối của một nước tăng trong khi thu nhập của các nước khác
không đổi. Mức cầu về hàng hóa nước ngoài của người dân nước này tăng, nhu
cầu về ngoại tệ của của nước này tăng trong khi cung ngoại tệ không đổi tạo sức
ép tăng tỷ giá.
1.1.2.4 Kiểm soát của chính phủ
Trong hệ thống tỷ giá hối đoái có quản lý chính phủ có thể can thiệp vào thị
trường ngoại hối để khống chế giá trị của một đồng tiền. Các ngân hàng trung
ương quản lý tỷ giá hối đoái nhằm: làm dịu bớt các biến động của tỷ giá và thiết
lập các biên độ tỷ giá hối đoái ẩn hoặc ứng phó với các xáo trộn tỷ giá tạm thời.
Chính phủ của một nước có thể tác động đến tỷ giá cân bằng qua nhiều cách khác
nhau.
Áp đặt hàng rào về ngoại thương: thí dụ nếu chính phủ Mỹ muốn tăng giá đồng đô
la, họ có thể đánh thuế trên hàng nhập khẩu cao nhằm giảm lượng hàng nhập khẩu,
hành động này sẽ làm giảm nhu cầu của Mỹ đối với ngoại tệ và tạo áp lực tăng giá
đồng đô la. Chính phủ cũng có thể áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu.
Áp đặt những hàng rào về ngoại hối
Can thiệp vào thị trường ngoại hối

1.2.2 Độ nhạy cảm kinh tế
Các hoạt động kinh tế ở nước ngoài của một công ty, doanh thu và chi phí được
thể hiện trong báo cáo tài chính của công ty luôn bị tác động bởi những giao động
trong tỷ giá hối đoái.
Mức độ mà hiện giá của dòng tiền trong tương lai của một công ty có thể chịu tác
động bởi những giao động trong tỷ giá được gọi là độ nhạy cảm kinh tế đối với rủi
ro tỷ giá.
Độ nhạy cảm kinh doanh đối với rủi ro tỷ giá: khái niệm này nói lên những giao
động trong tỷ giá sẽ làm thay đổi dòng tiền trong tương lai của một công ty như
thế nào, bao gồm doanh số và chi phí trong tương lai.
Cả hai thành phần độ nhạy cảm giao dịch và độ nhạy cảm kinh doanh đối với rủi
ro tỷ giá được gọi là độ nhạy cảm kinh tế đối với rủi ro tỷ giá.
Độ nhạy cảm kinh tế trong trường hợp đồng tiền tăng giá và giảm giá: khi đồng
nội tệ tăng giá, doanh số bán trong nước có khả năng sẽ giảm đi đáng kể do giá cả
hàng hóa tính bằng nội tệ từ các công ty cạnh tranh nước ngoài đang hoạt động tại
địa phương sẽ giảm đi. Kết quả là người tiêu dung trong nước sẽ chuyển sang sử
dụng hàng hóa thay thế nước ngoài có giá rẻ hơn tính bằng nội tệ. Khi nội tệ tăng
giá thì giá cả hàng hóa xuất khẩu tính bằng nội tệ sẽ tăng lên làm cho hàng hóa
xuất khẩu mất tính cạnh tranh, do đó doanh số xuất khẩu giảm.
Xem xét dòng tiền chi ra của công ty: đồng nột tệ tăng giá, chi phí nhập khẩu cho
một đơn vị hàng hóa tính bằng đồng nội tệ sẽ giảm đi. Bên cạnh đó nợ nước ngoài
cũng sẽ giảm. Các kết quả sẽ diễn ra ngược lại trong trường hợp đồng tiền trong
nước tăng giá.
Tác động của độ nhạy cảm kinh tế đối với công ty trong nước: không những các
công ty kinh doanh quốc tế mà ngay cả các công ty kinh doanh thuần túy nội địa
cũng chịu tác động của độ nhạy cảm kinh tế đối với rủi ro tỷ giá. Khi một công ty
chỉ hoạt động kinh doanh thuần túy trong nước, chẳng hạn nếu đồng ngoại tệ giảm
giá làm cho giá cả hàng hóa trong nước của các công ty nước ngoài tính bằng nội
tệ giảm đi, khi đó người tiêu dùng hàng trong nước sẽ chuyển sang tiêu dùng hàng
hóa thay thế của các công ty nước ngoài. Kết quả là doanh số của các công ty

càng lớn, thì các khoản mục trong các báo cáo tài chính bị tác động bởi độ
nhạy cảm chuyển đổi càng lớn.
▪ Địa phương hoạt động của các công ty con nước ngoài: các khoản mục
trong báo cáo tài chính của mỗi công ty con ( tài sản, các khoản nợ, thu
nhập ) được đo lường bởi đồng tiền của quốc gia đó. Nếu công ty con hoạt
động ở những quốc gia có đồng tiền ít biến động thì rủi ro chuyển đổi khi
chuyển về đồng tiền của công ty mẹ sẽ thấp.
▪ Các phương pháp kế toán đang sử dụng: mỗi quốc gia đều có những
nguyên tắc kế toán đặc thù mà các chi nhánh nước ngoài của mỗi công ty
phải tuân theo. Sự khác biệt trong phương pháp kế toán của mỗi quốc gia sẽ
tác động đến báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ và đến độ nhạy
cảm chuyển đổi.
Để đo lường độ nhạy cảm chuyển đổi, các công ty có thể dự báo thu nhập tính
bằng mỗi loại ngoại tệ và sau đó xác địn biến động tỷ giá tiềm ẩn của mỗi loại
ngoại tệ so với đồng bản tệ.
1.3 Tác động của rủi ro tỷ giá tới giá trị doanh nghiệp, cụ thể là
tác động tới dòng tiền của doanh nghiệp
1.3.1 Đối với các khoản chi phí đầu vào sẽ trả bằng ngoại tệ:
Tình huống phân tích: Một công ty Mỹ nhập hàng từ Châu Âu, giá trị lô hàng là 2
triệu EUR, sẽ trả vào 30 ngày sau. Hiện tại (giả sử là ngày 01/03), tỷ giá giao ngay
giữa USD và EUR là 1,2 USD/EUR.
Theo số liệu thống kê từ diễn biến tỷ giá (hàng tháng) trên thị trường ngoại hối
thời gian qua cho thấy, mức tăng cao nhất của EUR so với USD là 11% và mức
giảm nhiều nhất của EUR so với USD là 8,4%. Với thông tin này, công ty có thể
kỳ vọng vào tình huống tốt nhất xảy ra là 30 ngày sau, EUR giảm giá 8,4% so với
USD. Khi đó, chi chí để có được 2 triệu EUR trả tiền hàng sẽ chỉ còn 2.198.400
USD. Tương tự trường hợp xấu nhất cũng có thể xảy ra là EUR sẽ tăng 11% so
với USD vào 30 ngày sau. Lúc bấy giờ để có được 2 triệu EUR, công ty phải chi
đến 2.664.000USD.
Nếu 30 ngày sau, EUR giảm giá hơn so với USD thì điều đó càng tuyệt vời. tuy

là tỷ giá
công ty bán lại hợp đồng 30 ngày sau).
Thời điểm 30 ngày sau cũng là lúc công ty cần 2 triệu EUR để trả tiền hàng nên
công ty mua chúng trên thị trường giao ngay tại tỷ giá S
*
(với 1,2<S
*
<F
*
). Như
vậy, so với thời điểm 1/3 thì công ty đã bị lỗ ở thị trường giao ngay: 2.000.000 x
(S
*
- 1,2) (USD).
Nhờ vào việc sử dụng hợp đồng tương lai để bảo hiểm rủi ro tỷ giá nên khoản bị lỗ
trên thị trường giao ngay được bù đắp một phần bằng khoản tiền lời có được từ thị
trường tương lai. Như vậy tổng số tiền công ty phải chi là: (2.000.000 x S
*
) – [16 x
125.000 x( F
*
- 1,29)] (USD)
Tình huống 2: EUR giảm giá so với USD:
Ở thị trường tương lai công ty bị lỗ 16 x 125000 x (1,29 – S*) (USD).
30 ngày sau, công ty mua trên thị trường giao ngay tại tỷ giá S
*
, công ty lời:
2.000.000 x (1,2 – S
*
) (USD).

= 2. 000.000 x (S
*
+ 0,017) (USD)
Như vậy, công ty đã chắc chắn một điều là để có được 2 triệu EUR vào 30 ngày
sau thì 2.514.000USD là chi phí tối đa mà công ty sẽ chi ra.
Trên đây là các cách sử dụng 3 công cụ phái sinh trong việc bảo hiểm rủi ro tỷ giá
cho các khoản phải trả bằng ngoại tệ. Công ty có thể lựa chọn phương án phù hợp
nhất với tình hình tài chính và đặc thù riêng của mình trên cơ sở so sánh hiệu quả
dự tính của từng phương án, có sử dụng các công cụ hỗ tợ dự báo sự biến động tỷ
giá.
1.3.1.4 Sử dụng hợp đông hóan đổi ngoại hối:
Trong việc bảo hiểm rủi ro tỷ giá, hóan đổi thường được sử dụng khi người bảo
hiểm có các luồng tiền bằng ngoại tệ ngược chiều nhau nhưng lại mất cân đối về
mặt thời gian. Ta hãy xem tình huống sau:
Công ty ABC ( Việt Nam) hiện đang có 1 triệu USD nhưng cần sử dụng. Công ty
đã ký hợp đồng nhập khẩu nguyên liệu (trị giá 1 triệu USD) với 1 đối tác ở Mỹ,
theo đó 1 tháng sau công ty sẽ trả tiền hàng. Lúc nay công ty cũng cần tiền để
trang trải các khỏan phải trả trong nước. như vậy, công ty đang ở vị thế bất cân đối
về thời gian giữa các luồng tiền. Một vài giải pháp mà công ty ABC có thể xem
xét:
(1) Cứ giữ 1 triệu USD (gửi tiết kiệm) để 1 tháng sau trả riền hàng nhập
khẩu.Số tiền VND đang cần có thể vay ngân hàng. Làm như vật công ty
không phải lo ngại về rủi ro tỷ giá giữa USD và VND nhưng lại cân nhắc
lãi vay VND,và những khó khăn gặp phải khi đi vay ngân hàng.
(2) Công ty bán giao ngay 1 triệu USD để lấy VND sử dụng trong 1 tháng rồi 1
tháng sau sẽ mua lại 1 triệu USD theo tỷ giá giao ngay lúc đó. Lúc này
công ty phải đối mặt với rủi ro tỷ giá.
(3)Nếu sử dụng giao dịch hoán đổi, công ty sẽ ký kết một hợp đồng hoán đổi
với ngân hàng, trong đó công ty bán giao ngay 1 triệu USD tại tỷ giá S và
mua kỳ hạ 1 tháng 1 triệu USD tại tỷ gái F (với S và F được xác định ngay

30 ngày sau. Nếu 30 ngày sau tỷ giá giao ngay trên thị thấp hơn tỷ gái thực hiện
quền chọn thì công ty sẽ thực hiện quyền chọn của mình, nghĩa là bán 2 triệu
EUR cho ngân hàng. Còn nếu tỷ gái giao ngay cao hơn tỷ gái quyền chọn đã thỏa
thuận thì công ty sẽ không thực hiện quyền chọn của mình mà sẽ tiến hành bá 2
triệu EUR trên thị trường giao ngay.
1.3.3 Rủi ro kiệt giá tài chính
Độ nhạy cảm từ các nhân tố giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá , giá cả hàng hoá
và chứng khoán thị trường tác động đến thu nhập của doanh nghiệp được gọi là rủi
ro kiệt giá tài chính.
Các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với những nhạy cảm từ các nhân tố
thị trường như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa và chứng khoán. Những rủi ro kinh
doanh phát sinh do những quyết định của doanh nghiệp như doanh nghiệp nên
mua hàng ở đâu, nên sử dụng đồng tiền nào trong giao dịch thương mại quốc tế,
đây là những rủi ro có thể phòng ngừa được.
Những bất ổn trong tỷ giá, lãi suất hay giá cả hàng hóa chắc chắn sẽ làm thay đổi
dòng tiền thực sự của công ty. Những bất ổn trong tỷ giá ngày càng trở nên rõ ràng
hơn từ thập kỷ 1970 đến nay đã làm cho ngày càng có nhiều hơn các công ty nhận
ra tầm quan trọng độ nhạy cảm với rủi ro tài chính. Tính dễ bị tổn thương với rủi
ro tài chính khiến một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi
không có sự tương thích giữa doanh thu và chi phí của một doanh nghiệp.
Và nhận thấy mối lo ngại từ rủi ro tỷ giá mang lại là vấn đề rất quan trọng trong
thế giới mở ngày nay.Thị trường tài chính đã phát triển ra các công cụ để phòng
ngừa và hạn chế rủi ro mà tỷ giá mang lại bẳng một loại sản phẩm áo tính ưu việt
rất cao đó là các sản phẩm phái sinh.
1.4 Các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Các sản phẩm phái sinh cho phép chuyển giao rủi ro từ những người muốn loại trừ
hay giảm thiểu rủi ro sang những người muốn chấp nhận hay gia tăng rủi ro. Thị t
rường này đòi hỏi phải tồn tại các nhà đầu cơ sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Các công cụ phái sinh chủ yếu được áp dụng trên thị trường tài chính thế giới hiện
nay bao gồm: kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi:

Giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau cũng có rủi ro hai chiều. Nhưng
khác biệt rõ rệt nhất với thị trường kỳ hạn, thị trường giao sau sử dụng hai công cụ
để loại bỏ rủi ro tín dụng: Thứ nhất thay vì giao nhận giá trị hợp đồng thông qua
viêc thanh toán đơn nhất vào ngày đáo hạn, thay đổi trong giá trị của hợp đồng
giao sau được thực hiện vào cuối ngày chúng được giao dịch. Đặc tính thứ hai của
hợp đồng giao sau giúp làm giảm rủi ro không thanh toán là yêu cầu tất cả thành
viên tham gia thị trường, người bán và người mua đều như nhau- thực hiện một
khoản ký gửi được gọi là ‘khoản ký quỹ’. Nếu hợp đồng giao sau của bạn tăng giá
trị trong ngày trong ngày giao dịch, mức tăng này sẽ được cộng vào tài khoản ký
quỹ của bạn vào cuối ngày. Ngược lại, nếu hợp đồng của bạn giảm giá trị, khoản
lỗ sẽ được trừ ra và số dư tài khoản ký quỹ của bạn giảm xuống dưới mức tối thiểu
đã được thỏa thuận, bạn sẽ bị yêu cầu nộp khoản ký quỹ bổ sung.
1.4.3 Hợp đồng quyền chọn ( option)
Quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên người mua và người bán, trong
đó cho người mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ để mua hoặc bán một tài sản
vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Người mua trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn. Người bán
quyền chọn sẵn sàng bán hoặc nắm giữ tài sản nếu người mua từ bỏ quyền mua.
Một quyền chọn để mua tài sản gọi là quyền chọn mua (call). Một quyền chọn để
bán một tài sản gọi là quyền chọn bán (put). Hợp đồng quyền chọn chỉ qui định
quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình.
Quyền chọn mua (CALL): cho phép người mua option có quyền mua hay
không mua tài sản theo giá hợp đồng.
Quyền chọn bán (PUT): cho phép người mua option có quyền bán hay không
bán tài sản theo giá hợp đồng.
Giá thực hiện option (Strike): là tỷ giá mà người mua Option được quyền ấn
định trước với người bán Option và được chốt trong suốt thời hiệu hợp đồng.
Dựa vào sự chênh lệch giữa giá Strike và giá Spot, có 3 kiểu giá Strike:
• In – The –Money (ITM)
• At – The Money (ATM)

mất quyền phí.
.
Diễn biến giá trị option
Yếu tố thị trường Giá trị của CALL option Giá trị của PUT option
Giá spot tăng Tăng Giảm
Giá spot giảm Giảm Tăng
Độ biến động tăng Tăng Tăng
Độ biến động giảm Giảm Giảm
Thời hạn dài Tăng Tăng
Thời hạn ngắn Giảm Giảm
So sánh option với giao dịch spot
Giao dịch option Giao dịch spot
Vốn ít, lời nhiều Phải bỏ nhiều vốn
Tỷ suất lợi nhuận cao Tỷ suất lợi nhuận thấp
Ít chi phí vay mượn vốn Chi phí vay mượn vốn cao
Tổng chi phí đã xác định Mức lỗ chưa xác định
Tóm tắt các đồ thị lợi nhuận đối với các vị thế được giữ đến khi đáo
hạn
- Giao dịch quyền chọn mua
Mua quyền chọn mua
Bán quyền chọn mua
- giao dịch quyền chọn bán
1.4.4 Công cụ hoán đổi (Swap)
Là việc mua và bán đồng thời tài sản gốc tương tự hoặc nghĩa vụ tương đương với
số tiền vốn mà việc hoán đổi các giao dịch tài chính cho phép cả hai bên tham gia
các điều kiện thuận lợi hơn mong muốn. Thực chất của hợp đồng này là hai bên
thoả thuận trao đổi dòng tiền trong tương lai. Đặc điểm của hợp đồng hoán đổi là
giao dịch trên thị trường OTC và không có qui định chuẩn. Cụ thể, ở thị trường
hoán đổi Mỹ, hầu như chưa có qui định nào ràng buộc. Hiện nay, hiệp hội hoán
đổi và phái sinh quốc tế mới chỉ đưa ra tài liệu chuẩn về quy trình giao dịch và thủ

bị deẹt sợi từ tTrung Quốc, Liên Xô cũ, các nước Đông Âu, còn các doanh nghiệp
ở miền Nam nhập từ các nước phương tây để đẩy mạnh sản xuất hàng dệt- may.
Năm 1975, sau khi Việt Nam thống nhất, các doanh nghiệp dệt – may quy mô lớn
của miền Nam được quốc hữu hóa và được đưa vào hệ thống kinh tế bao cấp. Ủy
ban Kế hoạch Nhà Nước giao chỉ tiêu cho các doanh nghiệp may về kế hoạch sản
xuất, số lượng, giá. Các doanh nghiệp may căn cứ vào đó tính số lượng nguyên
liệu đầu vào trình lên Ủy ban Kế hoạch về các doanh nghiệp nhuoọm có thể đáp
ứng yêu cầu. Sau đó, căn cứ vào những đề nghị này, Ủy ban Kế hoạch lại giao chỉ
tiêu sản luọng cho các doanh nghiệp nhuộm, ấn định về giá và ngày giao hàng, các
doanh nghiệp nhuộm lại tính lượng sợi cần thiết rồi trình Ủy ban Lế hoạch Nhà
nước về nhà sản xuất sợi theo yêu cầu. Cuối cùng, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
giao chỉ thị cho doanh nghiệp sợi sản xuất lượng sợi cần thết như kế hoạch được
trình bày ở trên.
Trong nền kinh tế kế hoạch, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt, nhuộm và
may rất mật thiết. Các doanh nghiệp may tiến hành sản xuất theo thiết kế, số lượng
và giá đã được Ủy ban Kế hoạch Nhà nước quy định. Các doanh nghiệp này
thường xuyên nắm bắt những thông tin như loại vải nào thì có thể sản xuất ở
doanh nghiệp nào và giữ mối quan hệ mật thiết với các doanh nghiệp nhuộm. Đơn
giá, mẫu mã… của vải sử dụng ở các doanh nghiệp may do Ủy ban Kế hoạch Nhà
nước quy định, nhưng nhà cung cấp vải lại do các doanh nghiệp may đệ trình lên
Ủy ban Kế hoạch Nhà nước nhưng thực chất quyết định cuối cùng vẫn do các
doanh nghiệp này đưa ra. Đồng thời, các doanh nghiệp nhuộm cũng giữ mối quan
hệ khăng khít với casc doanh nghiệp dệt. Xét trên toàn ngành, mối quan hệ trực
tiếp, laau dài giữa các doanh nghiệp đã được duy trì khá tốt. Tuy nhiên, mối quan
hệ khăng khít cùng việc chia xẻ thông tin giữa các doanh nghiệp khác ngành đã có
sự thay đổi lớn từ sau khi có Hiệp định thương mại gia công ủy thác (Hiệp định
ngày 19 tháng 5) được ký kết giữa chính phủ Liên Xô cũ và Chính phủ Việt Nam
vào naem 1986. Theo Hiệp định này, Chính phủ Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu
tơ sợi từ Liên Xô để tiến hành sản xuất hàng may mặc tại các doanh nghiệp Nhà
nước, sau đó, xuất khẩu trở lại Liên Xô. Hiệp định này đã làm giảm hẳn nhu cầu

vào năm 2007 trong 10 mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất đất nước, vượt qua
mặt dầu khí.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status