Ứng dụng công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá tại các ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 95

TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
 TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI 1: ỨNG DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG PHÒNG
NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Trần Huy Hoàng
Lớp : Ngân Hàng K21 - Ngày 2
Nhóm thực hiện : 08
1. Tăng Thị Vân
2. Đỗ Thị Mai Hoa
3. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
4. Nguyễn Hữu Trường
5. Nguyễn Hoa Hà
6. Trần Đăng Ninh
7. Phan Thị Hồng Anh
8. Phan Thị Hoàng Anh
9. Bùi Minh Đức
10. Trần Ngọc Thanh
11. Nguyễn Thị Thanh Thủy
12. Lương Minh Hưng


- Hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn, các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong hoạt
động kinh doanh ngoại hối của các Ngân hàng thương mại.

3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nói đến biến động tỷ giá trong thời gian qua, đồng thời cho thấy tác động
và nguy cơ của rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt đông kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng.
Đề tài này hướng tới khảo sát nhận thức và nhu cầu sử dụng các công cụ phòng ngừa
rủi ro tỷ giá của nhóm đối tượng là Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này nhằm hoàn thiện các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và đưa ra
hướng dẫn có tính cụ thể đối với các nhóm đối tượng là các Ngân hàng thương mại cổ phần
tại Việt Nam, trong điều kiện các công cụ đó vẫn chưa phổ biến ở nước ta. Vì vậy phương
pháp nghiên cứu ở đây vừa mang tính lý thuyết, vừa mang tính thực tiễn. Các phương pháp
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
chủ yếu được sử dụng là phương pháp mô tả, phương pháp điều tra chọn mẫu và khảo sát ý
kiến chuyên gia. Số liệu được thu thập qua sách báo vá tạp chi, báo cáo tổng kết ngành nói
chung và một số ngân hàng nói riêng.
5. Kết cấu đề tài
Chương I: Hoạt động của các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tỷ giá ở một
số thị trường tài chính trên thế giới.
Chương II: Diễn biến tỷ giá USD/VND trên thị trường ngoại hối Việt Nam trong
những năm qua và nguy cơ cho các doanh nghiệp.
Chương III: Một số đề xuất triển khai công cụ tài chính phái sinh phòng ngừa rùi ro tỷ
giá tại Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam


xuống theo mức giá đã ký kết trong hợp đồng. Khi đó, một trong hai bên mua và bán sẽ bị
thiệt hại do đã cam kết một mức giá thấp hơn (bên bán) hoặc cao hơn (bên mua) theo giá thị
trường.
Như vậy bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được
rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình.Và chỉ có hai bên tham gia
vào hợp đồng, cho nên mỗi bên đều phụ thuộc duy nhất vào bên kia trong việc thực hiện hợp
đồng. Khi có thay đổi giá cả trên thị trường giao ngay, rủi ro thanh toán sẽ tăng lên khi một
trong hai bên không thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, với mức giá đặt ra mang tính cá nhân và
chủ quan nên rất có thể không chính xác.
1.2.2. Hợp đồng hoán đổi
Hợp đồng hoán đổi là một thỏa thuận giữa các bên dùng để hoán đổi một hoặc nhiều
loại hàng hóa thông qua một hợp đồng và cam kết sẽ mua hoặc bán lại bằng một hợp đồng kỳ
hạn một hoặc nhiều loại hàng hóa khác (hàng hóa hoán đổi không nhất thiết phải khác nhau).
Hợp đồng hoán đổi được ký kết tại thời điểm hiện tại. Giá trị của các sản phẩm hoán
đổi là tương đương nhau. Ngày thực hiện việc mua vào hay bán ra là khác nhau, tạo ra sự
không cân xứng về thời gian. Loại hợp đồng này thường được giao dịch trên thị trường phi
tập trung.
Loại hợp đồng này có thể giúp bên mua sử dụng nguồn hàng hóa ngay lập tức mà
chưa phải thanh toán ngay cho bên bán, tuy nhiên phải trả lại sau những loại hàng hóa đã ký
kết trong hợp đồng theo kỳ hạn đặt ra. Giúp các doanh nghiệp XNK quản lý dòng tiền hiệu
quả, phòng ngừa biến động tỷ giá ảnh hưởng xấu tới thu nhập và chi phí trong tương lai.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
1.2.3. Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận mau bán hàng hóa với số lượng, mức giá theo
ngày đáo hạn đã được xác định; chủ hợp đồng có thể giao dịch bất cứ lúc nào trong chuỗi
ngày giá trị của hợp đồng.
Hợp đồng tương lai, nhờ đặc tính linh hoạt của nó, đã khắc phục được những nhược
điểm của hợp đồng kỳ hạn, và thường được xem là một cách thức tốt hơn để phòng ngừa rủi

www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với giá trị nội tại (trong trường hợp
quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội giá trị theo thời gian.

Người mua sẵn sàng trả phần phụ trội cho các quyền lựa chọn và họ nhận được nhiều
lợi ích từ một quyền lựa chọn.Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức
trên vốn đầu tư cao nhất.
1.1.5 Ý nghĩa của việc phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bằng các công cụ phái
sinh
1. Đối với Ngân hàng:
- Kiểm soát nguồn vốn khả dụng: Các ngân hàng thương mại có thể thực hiện các giao
dịch hoán đổi ngoại tệ với Ngân hàng Nhà nước để điều tiết lượng ngoại tệ khả dụng tại
Ngân hàng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra, các Ngân hàng thương
mại còn có thể ký kết các hợp đồng hoán đổi ngoại tệ với nhau nhằm sử dụng ngồn ngoại tệ
hiện có một cách hiệu quả.
- Tạo liên kết với khách hàng: Nhờ đáp ứng được nhu cầu cần thiết của khách hàng nên
các giao dịch hôi đoái phái sinh trở thành một cầu nối quan trọng giữa Ngân hàng và khách
hàng. Cầu nối đó lại càng chắc chắn hơn khi thông qua các giao dịch này Ngân hàng thực
hiện việc ban chéo sản phẩm, dịch vụ của mình cho khách hàng. Khách hàng sẽ rất hài lòng
khi được phục vụ một gói các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao.
- Tăng thu nhập cho Ngân hàng: Các giao dịch ngoại hối phái sinh mang lại cho các
Ngân hàng thương mại nguồn thu thông qua phí và chênh lệch tỷ giá hối đoái. Ngoài ra, việc
bán chéo sản phẩm cũng đem lại nguồn thu không nhỏ cho các ngân hàng.
1.2. Thị trường công cụ phái sinh tiền tệ trên thế giới
Kể từ những năm 80 của thế kỉ 20, các giao dịch tài chính phái sinh đã được sử dụng
ngày càng rộng rãi ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển. Tuy
nhiên, ý thức phòng ngừa rủi ro tỷ giá thông qua các công cụ phái sinh tiền tệ của các NHTM
cũng như các chủ thể khác trong nền kinh tế vẫn còn rất hạn chế. Theo số liệu về doanh số
của các công cụ tài chính phái sinh toàn cầu tháng 6/2007, các giao dịch phái sinh tiền tệ chỉ

www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
1.2.2. Thực trạng sử dụng công cụ phái sinh ở thị trường tài chính Úc:
Hoạt động của thị trường ngoại hối và phái sinh ở Úc vẫn tiếp tục gia tăng ở nhịp độ phát
triển nhanh. Theo báo cáo nghiên cứu về thị trường ngoại hối và phái sinh của Úc được thực hiện
3 năm một lần bởi Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS: the bank for International Settlement) đã
chỉ ra rằng tổng doanh thu trên thị trường ngoại hối Úc năm 2007 cao hơn doanh thu năm 2004 là
65%. Doanh thu được tính dựa trên tất cả các công cụ, các chủ thể tham gia và các loại ngoại tệ
trên thị trường. Trên thị trường ngoại hối và phái sinh toàn thế
Bảng: Doanh thu các hợp đồng phái sinh trên các Sở giao dich toàn cầu

giới, cặp đồng tiền được giao dịch nhiều thứ tư và đồng Đô la Úc là đồng tiền được giao dịch
nhiều thứ 6 so với các đồng tiền mạnh được sử dung trong giao dịch ngoại hối. Với quy mô và
khối lượng giao dịch thị trường ngoại hối Úc được xem là thị trường lớn thứ 7 trên thế giới.
Doanh thu trên thị trường ngoại hối Úc trung bình đạt 170 tỷ Đô la Mỹ trong một ngày vào
tháng 04/2007, một sự tăng trưởng doanh thu trên thị trường thế giới ở cùng một giai đoạn tương
tự như ở thị trường Úc vào khoảng 71%. Năm 2007, doanh thu trên thị trường ngoại hối Úc
chiếm 4.3% trong tổng doanh thu toàn thị trường, chính điều này làm cho nó trở thành thị trường
ngoại hối lớn thứ 7 trên thế giới.

Doanh thu
Thời gian
2010
2011
Quý
4/2011
Quý
1/2012
Quý2/2012
Quý

2396.80
2711.00
686.00
575.10
670.70
566.20
Options
All markets
5812.30
6776.00
1485.30
1357.90
1401.10
923.40
Interest rate
653.00
665.60
135.70
151.30
156.40
133.40
Currency
56.40
293.60

ngày tháng 04/2007 tăng khoảng 68% từ 2004 đến 2007. Trong khi đó, sự phát triển của thị
trường phái sinh toàn cầu là 66%.
Bảng: Hoạt động giao dịch phái sinh trên thị trường OTC của Úc
Doanh thu trung bình ngày tháng 4/2007 (đơn vị: tỷ Đô la Mỹ)
Thời gian
1995
1998
2001
2004
2007
Giao dịch phái sinh lãi suất Hợp đồng lãi suất kỳ hạn
2.0
1.5
5.5
5.6
3.6
Hoán đổi
0.5
1.3
4.0
6.7
17.8
Hợp đồng quyền chọn
0.3

1.7
2.1
4.8
6.8
Nguồn: BIS, RBA.
Trên thị trường tự do Úc, lượng giao dịch phái sinh lãi suất chiếm một khối lương lớn với
doanh thu trung bình ngày đạt gần 23 tỷ USD, tăng 77% so với năm 2004. Trong các hợp đồng
phái sinh lãi suất thì doanh thu hợp đồng kỳ hạn lãi suất giảm 36% xuống còn 3.6 tỷ USD năm
2007 nhưng doanh thu hợp đồng quyền chọn tăng 166%. Nếu xét trên toàn thị trường phái sinh
Úc, doanh thu hợp đồng kỳ hạn lãi suất chiếm tỷ trọng 16% so với 78% hợp đồng hoán đổi lãi
suất và 6% hợp đồng quyền chọn lãi suất.
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TRONG PHÒNG
NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ Ở MỘT SỐ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Diễn biến tỷ giá VND/USD trên thị trường ngoại hối Việt Nam trong những năm
qua và nguy cơ cho các ngân hàng.
2.1.1. Diễn biến tỷ giá VND/USD trên thị trường ngoại hối Việt Nam trong những
năm qua:
Năm 2009, tỉ giá USD/VND tiếp tục đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt sau khi
NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỉ giá lên ±5% khiến cho tỉ giá ngoại tệ liên Ngân hàng đã
có đợt tăng đột biến.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
Năm 2010, giá USD đã tăng khá mạnh trong năm 2009, sang đến tháng 01/2010 lại
giảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18.479 đồng/USD cho đến giữa tháng 02/2010.
Nguyên nhân là do: Nguồn cung USD có thể tăng từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp; từ vốn hỗ
trợ phát triển chính thức; từ vốn đầu tư gián tiếp; từ nguồn kiều hối; từ Việt kiều và từ lao
động làm việc ở nước ngoài gia tăng; nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam gia tăng trở
lại; kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm (-) sang tăng trưởng dương (+)… Bên
cạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng, sức ép

TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
284 triệu USD; cán cân vãng lai thặng dư sau khi đã thâm hụt trong năm 2010 - 2011, góp
phần quan trọng tạo nên thặng dư của cán cân tổng thể nửa đầu năm 2012. Dự trữ ngoại tệ từ
mức 9 tỉ USD hồi cuối năm 2011 đến nay đã tăng trên 25 tỉ USD, đủ để trang trải hơn 2.4
tháng nhập khẩu. Dự trữ ngoại tệ đã quay trở lại sau đợt sụt giảm mạnh kể từ 2008. Tất cả
những điều này đã giúp diễn biến tỷ giá USD/VND duy trì xu thế ổn định trong suốt năm
2012. Tỷ giá NHTM chỉ thay đổi khoảng 0.75%. Tỷ giá giao dịch của NHTM sau một thời
gian được duy trì ở mức kịch trần biên độ đã được các ngân hàng điều chỉnh giảm dừng ở
mức 20,860 (Mua vào) - 20,920 (Bán ra) vào thời điểm cuối tháng 6/2012 và tiếp tục điều
chỉnh giảm trong 6 tháng cuối năm, chốt phiên giao dịch cuối năm giá mua vào chỉ còn
20,820 và giá bán ra là 20,860. Diễn biến tỷ giá trên thị trường chợ đen bám sát diễn biến tỷ
giá giao dịch của NHTM. 2.1.2. Rủi ro của các Ngân hàng:
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
Tỷ giá VND/USD biến động thường xuyên qua các năm theo chiều hướng đồng Việt
Nam có giá trị sụt giảm so với các đồng tiền nước ngoài. Trong suốt một quãng thời gian khá
dài, tỷ giá VND/USD chỉ biến động tăng một chiều với một biên độ hẹp, thêm vào đó thị
trường ngoại hối Việt Nam luôn rơi vào tình trạng khan hiếm ngoại tệ. Các doanh nghiệp
nhập khẩu chỉ muốn tìm mọi cách kí hợp đồng kì hạn mua ngoại tệ để đảm bảo thanh toán
hợp đồng xuất nhập khẩu. Những biến động này đã gây rủi ro cho các NHTM Việt Nam.
Rủi ro ở đây phụ thuộc vào trạng thái ngoại tệ mà Ngân hàng đang duy trì. Rủi ro tỷ
giá là rủi ro tiềm tàng đối với các NHTM Việt Nam. Vị thế của các Ngân hàng không hề
giống nhau, một số Ngân hàng có vị thế trường về ngoại tệ và một số Ngân hàng có vị thế
đoản về ngoại tệ. Điều đó có nghĩa là dù tỷ giá có biến động theo chiều hướng nào đều gây

quốc tế đến Việt Nam có thể tăng, nhưng không có ý nghĩa quyết định.
- Tốc độ tăng CPI tuy đã chậm lại, nhưng vẫn còn cao, nên yếu tố lạm phát vẫn hiện
hữu. Người có vốn có thể vẫn chưa hết kỳ vọng vào các nơi “trú ẩn” an toàn, trong đó có
ngoại tệ.
- Các chính sách như thắt chặt tiền tệ, dẹp bỏ thị trường chợ đen, giảm mức trần lãi
suất huy động USD,… chỉ tác động ngắn hạn đến tỉ giá. Sự biến động tỉ giá trong dài hạn tùy
thuộc vào mức độ nhập siêu và chỉ số lạm phát của Việt Nam trong tương lai. Và về lâu dài,
để giải quyết tốt bài toán tỉ giá ở Việt Nam, cần phải giải quyết một cách căn bản bài toán
nhập siêu và lạm phát nhằm tạo dựng lòng tin vững chắc vào tiền đồng.
- Tác động của giá vàng (chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới) dẫn đến
tình trạng nhập lậu vàng và đổ xô đi mua USD, làm ảnh hưởng đến cung cầu và tỷ giá trên
thị trường;
- Yếu tố tâm lý;
- Tin đồn thất thiệt nhằm đầu cơ trục lợi của một số cá nhân, tổ chức (điển hình là vụ
tung tin đồn liên quan đến lãnh đạo BIDV bị bắt mới đây).

2.3 Thực trạng sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro tỷ giá trên thị
trường Việt Nam hiện nay:
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách ngoại hối đóng vai trò rất quan
trọng, làm sao để vừa tranh thủ được các nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy hoạt động thương mại,
đầu tư, du lịch, kiều hối, nhưng lại phải đảm bảo được chủ quyền của đồng Việt Nam, thực
hiện được mục tiêu của chính sách tiền tệ. Trong thời gian qua, chính sách ngoại hối đã có
những thay đổi quan trọng, một số quy định đã thông thoáng hơn, mở ra nhiều nghiệp vụ
mới, đặc biệt là các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối.
Tuy nhiên cho đến nay, ở Việt Nam các nghiệp vụ phái sinh vẫn còn sơ khai, kém
phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp, thậm chí ở một số NHTM mặc dù đã triển khai
nghiệp vụ option nhưng không có giao dịch. Mặc dù trên thế giới các nghiệp vụ phái sinh để
bảo hiểm rủi ro tỷ giá như: hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, hợp đồng ngoại hối tương lai,
hợp đồng ngoại hối hoán đổi, hợp đồng ngoại hối quyền chọn đã được sử dụng phổ biến
từ rất lâu với doanh số hàng ngày lên tới hàng trăm tỷ USD. Chính vì vậy, việc ứng dụng các

Vietcombank
NH Công
Thương
NH Đầu Tư Và
Phát Triển
1995
7.600
2.372
741
1996
9.200
3.568
1.301
1997
8.094
2.677
1.142
1998
4.545
1.465
1.262
1999
6.121
2.489
3.152
2000
7.405
3.203
3.800
2001

lãi suất huy động cao, với mức trần NHNN cho phép cao nhất là 14% năm. Chi phí huy động
vốn cao khiến lãi suất đi vay dành cho các doanh nghiệp cũng tăng lên gây khó khăn cho
hoạt động kinh doanh. Trước tình hình đó, để gỡ rối cho doanh nghiệp đồng thời cũng là một
giải pháp tăng doanh thu cho ngân hàng, các ngân hàng thương mại đã áp dụng hình thức cho
vay hoán đổi lãi suất. Nghĩa là các doanh nghiêp sẽ giải ngân bằng tiền VNĐ tuy nhiên sẽ trả
lãi và trả tiền vay bằng USD. Nhờ đó doanh nghiệp phải trả lãi với lãi suất thấp hơn, ngân
hàng hưởng chênh lệch tỉ giá mua và bán trong hoạt động này. Hợp đồng hoán đổi tiền tệ
chéo này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có nguồn USD về ổn định và hệ số xếp hạng tín
dụng nội bộ từ A trở lên. Điển hình các ngân hàng áp dụng như BIDV, Viettinbank,
Agribank….
2.3.2. Nguyên nhân của thực trạng trên
Một là, Thị trường ngoại hối chưa phát triển: Thị trường ngoại hối mới ra đời chính
thức ở Việt Nam vào năm 1994, còn kém phát triển hơn so với các nước khu vực và thế giới,
quy mô nhỏ, hàng hóa tài chính nghèo nàn, đơn giản và tính chuyên nghiệp không cao, chưa
liên kết chặt chẽ với thị trường tiền tệ, thị trường mở. Bên cạnh đó thị trường tự do vẫn hoạt
động mãnh mẽ ngoài dự kiểm soát của ngân hàng nhà nước; thành viên tham gia thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng còn ít và nhỏ; nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối còn đơn điệu.
Hai là, Vai trò điều hành và can thiệp thị trường của Ngân Hàng Nhà Nước còn hạn
chế, cụ thể: Cơ chế điều hành tỷ giá giao ngay, kỳ hạn chưa linh hoạt, các quy định còn chưa
đồng bộ và có nhiều thay đổi, dự trữ ngoại hối còn quá thấp để Ngân Hàng Nhà Nước có thể
can thiệp rõ nét vào thì trường.
Ba là, thiếu nhu cầu thực sự từ phía khách hàng. Đây là vấn đề cốt lõi, vì trước đây tỷ
giá USD/VND thường xuyên ổn định tại mức trần so với giá NHNN công bố, khách hàng
không quan tâm tới vấn đề bảo hiểm rủi ro tỷ giá. Tuy nhiên, sang năm 2007 và đầu năm
2008, thị trường chứng kiến sự biến động và đảo chiều mạnh mẽ của VND so với đồng Đôla
Mỹ, tỷ giá USD/VND giảm xuống giao dịch tại mức sàn. Nguyên nhân là do lượng lớn ngoại
tệ từ các hoạt động đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước ngoài, kiều hối đổ vào các NHTM làm
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học

nhà nước và khách hàng theo hướng thị trường hơn, giảm bớt sự kiểm soát chặc
chẽ của NHNN. Cho phép các NHTM hoán đổi hai chiều với NHNN, đa dạng
hóa các loại tiền hoán đổi.
 Đối với giao dịch quyền chọn: Cho phép Ngân hàng và khách hàng được quyền
giao dịch hai chiều, vừa có thể mua vừa có thể bán hợp đồng quyền chọn. Đồng
thởi, ban hành những quy định cụ thể về hạch toán phí quyền chọn.
3.1.2. Hoàn thiện và phát triển hoạt động của thị trường ngoại tệ Liên ngân hàng
 NHNN phải có Quỹ dự trữ ngoại hối đủ mạnh và ổn định để có thể can thiệp kịp
thời và đủ lượng vào thị trường.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học
 Các NHTM cần tích cực tham gia giao dịch với nhau trên thị trường ngoại tệ
Liên NH.
 Thiết lập thị trường ngoại tệ theo mô hình tổ chức kép bao gồm thị trường ngoại
tệ Liên NH và thông qua môi giới.
3.1.3. Nâng cao tính linh hoạt trong cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam
 Thứ nhất, đẩy mạnh hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, xóa bỏ tỷ
giá mang tính chỉ đạo để hình thành tỷ giá thực phản ánh đúng quan hệ cung cầu
trên thị trường.
 Thứ hai, xóa bỏ giới hạn về biên độ giao động của tỷ giá.
 Thứ ba, tăng nguồn cung ngoại tệ cho thị trường nhằm giảm sức ép tăng một
chiều của tỷ giá.
3.1.4. Hoàn thiện và phát triển hoạt động của thị trường nội tệ Liên ngân hàng
3.1.5. Tập cho người dân có thói quen giao dịch trên thị trường ngoại hối chính thức,
hạn chế hoạt động của thị trường không chính thức.
3.1.6. Hạn chế tình trạng Đô la hóa tại Việt Nam
 Đẩy lùi lạm phát cao và duy trì ở mức vừa phải.
 Khuyến khích sử dụng đồng Việt Nam trong mọi giao dịch.
 Đổi mới cơ chế điều hành lãi suất, gắn lãi suất đồng nội tệ với lãi suất đồng

- Đa dạng hóa các loại ngoại tệ trong kinh doanh nhằm giảm rủi ro do lợi nhuận từ bên
này có thể bù đáp được cho bên kia, đảm bảo luôn trong một giới hạn rủi ro vừa phải.
3.2.1.4. Kích thích nhu cầu sử dụng các công cụ ngoại hối phái sinh của khách hàng.
- Nâng cao nhận thức của khách hàng về sự cần thiết của việc sử dụng các công cụ
ngoại hối phài sinh
- Hỗ trợ khách hàng về mặt nghiệp vụ và tạo mọi điều kiện thuận lởi để khách hàng sử
dụng sản phẩm phài sinh của Ngân hàng khi có nhu cầu (giảm hóa thủ tục)
- Đẩy mạnh hoạt động marketing sản phẩm phái sinh, khuyến khích khách hàng cá
nhân sử dụng các giao dịch phái sinh để đầu cơ nhằm tăng tính thanh toản cho thị trường này.
3.2.2. Nhóm đề xuất với từng công cụ
 Đối với giao dịch kỳ hạn
Cân bằng donah số mua kỳ hạn và bán kỳ hạn trên thị trường bán lẽ. các NHTM nên
khuyến khích khách hàng bán ngoại tệ cho Ngân hàng khi có những khoản phải thu bằng
ngoại tệ trong tương lai và có những chính sách khuyến khích bằng những ưu đãi đối với
khách hàng này.
 Đối với các giao dịch hoán đổi tiền tệ
Hiện nay, giao dịch hoán đổi tiền tệ rất ít được sử dụng. Ngân hàng cần chủ động hơn
trong việc giới thiệu với khách hàng về giao dịch phái sinh này và những ứng dụng dặc biệt
của nó với vấn đề thanh toán trễ trong giao dịch thương mại quốc tế.
 Đối với giao dịch quyền chọn tiền tệ (hiện nay không được áp dụng)
Trong quá khứ, các Ngân hàng trong nước chỉ được phép bán quyền chọn nên vô hình
chung đã trở thành đại lý bán hợp đồng quyền chọn cho các Ngân hàng nước ngoài. Để khắc
phục hạn chế này, cần phải có nhiều Ngân hàng cùng tham gia để tạo ra khối lượng giao dịch
đủ lớn đề Ngân hàng có thể trao đổi các hợp đồng với nhau.
TRUNG TÂM LUYỆN THI CAO HỌC Thầy TUẤN NGỌC – 0974.777.008
www.CaoHocKinhTeBachKhoa.vn [email protected]
o0o Có Thầy Tuấn Ngọc – Tự Tin Đậu Cao Học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status