TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ
CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Hải Hồng
Lớp : Nhật 2
Khóa : 45B
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Phan Trần Trung Dũng
Hà Nội - 05/2010
3.1.2.4. Hợp đồng hoán đổi ( swap ) 17
3.2.Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ phái sinh. . 18 3.2.1.Khái niệm. 18
3.2.2.Các nghiệp vụ. 19
3.2.2.1.Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng kì hạn. 19
3.2.2.2. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng tương lai. 22
3.2.2.3. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng quyền chọn. 25
3.2.2.4. Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng hoán đổi lãi suất. 29
3.3.Phân tích ưu, nhược điểm của việc phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các
công cụ chứng khoán phái sinh. 32
3.3.1.Ƣu điểm. 32
3.3.2.Nhƣợc điểm. 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO LÃI SUẤT TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM HIỆN NAY 35
1.Thực trạng kinh doanh của khối ngân hàng thƣơng mại Việt Nam. 35
1.1.Thực trạng chung của nền kinh tế vĩ mô. 35
1.2.Thực trạng kinh doanh của khối ngân hàng. 37
2.Vấn đề về rủi ro lãi suất tại các NHTM Việt Nam hiện nay. 38
2.1. Vấn đề rủi ro lãi suất trong hoạt động của các NHTM Việt Nam. 38
2.2.Thực trạng phòng ngừa rủi ro lãi suất tại các NHTM VN 40
3.Thực trạng phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ chứng khoán phái
sinh tại các NHTM Việt Nam hiện nay. 42
3.1.Nguồn luật trong nước điều chỉnh giao dịch phòng ngừa rủi ro lãi suất
bằng các công cụ chứng khoán phái sinh. 42
3.2.Thực trạng sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh để phòng ngừa
rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 45
3.2.1. Thực trạng chung. 45
NHTM Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. 74
2.1.Quá trình tự do hoá tài chính và tác động đến hệ thống NHTM Việt Nam.
74
2.2.Tiềm năng của thị trường tài chính Việt Nam cho việc phát triển những
công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro lãi suất 76
2.3.Những thách thức đối với các Ngân hàng thương mại trong nước 79 2.3.1.Về cơ chế quản lí. 79
2.3.2.Về trình độ công nghệ và năng lực tài chính 79
2.3.3.Về hiệu quả và chất lƣợng hoạt động. 81
3. Một số giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm phái sinh nhằm quản trị
RR LS tại các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 82
3.1.Giải pháp vĩ mô. 82
3.1.1.Hoàn thiện môi trƣờng pháp lí và môi trƣờng chính sách. 82
3.1.2.Thành lập Sở giao dịch cho các hợp đồng phái sinh. 85
3.1.3.Hiện đại hoá hạ tầng thanh toán liên ngân hàng. 86
3.2.Giải pháp vi mô 87
3.2.1. Chủ động giới thiệu quảng bá thông tin về các SPPS đến khách
hàng. 87
3.2.3.Kí kết thoả thuận khung với các ngân hàng nƣớc ngoài. 88
3.2.4. Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng về kinh doanh sản phẩm phái
sinh. 88
3.2.5.Tăng cƣờng cơ chế kiểm soát nội bộ. 89
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 1. Các chỉ tiêu kinh tế của Việt Nam từ năm 2005-2009. 36
Bảng 2 : Diễn biến các loại lãi suất do NHNN VN công bố từ năm 2004- 2008 39
Bảng 3 : Tỉ trọng doanh thu và lợi nhuận từ các hợp đồng phái sinh trong tổng
doanh thu và lợi nhuận của các NHTM VN 46
Bảng 4.Các giao dịch hoán đổi lãi suất được thực hiện ở Việt Nam. 53
Bảng 5 : Số tiền hoán đổi và chênh lệch lãi từ các hợp đồng hoán đổi tiền tệ chéo tại
BIDV 55
Bảng 6: Kiểm định thống kê sự khác biệt về mức độ quan tâm giữa nhóm DN có sử
dụng SPPS và nhóm không có sử dụng SPPS. 61
Bảng 7: Độ sâu tài chính ( M2/ GDP ) tại một số quốc gia trong khu vực 65
Bảng 8: Quy mô vốn tự có của các NHTM Việt Nam so với một số ngân hàng khác
trong khu vực. 81
Biểu đồ
Biểu đồ 1 : Các nguyên nhân cản trở việc sử dụng sản phẩm phái sinh 59
Biểu đồ 2: Mức độ quan tâm đến sản phẩm phái sinh trong tương lai – So sánh giữa
nhóm sử dụng và nhóm không sử dụng 61
Biểu đồ 3. Doanh thu từ các hợp đồng phái sinh lãi suất 71
1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, vai trò của lãi suất ngân hàng rất
mờ nhạt, luôn được quyết định bởi yếu tố chủ quan.Từ khi nước ta chuyển sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
Ngân hàng Nhà nước đã điều hành công cụ lãi suất hết sức phù hợp với các mục
tiêu ngắn, trung và dài hạn và theo lộ trình can thiệp bằng quy định mang tính chất
để phòng ngừa rủi ro lãi suất và từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần đẩy
mạnh việc ứng dụng các sản phẩm phái sinh tại các ngân hàng thương mại trong
nước , góp phần hoàn thiện thị trường tài chính phái sinh nói chung ở Việt Nam
nên em quyết định chọn đề tài : “ Thực trạng và giải pháp sử dụng các công cụ
chứng khoán phái sinh trong quản trị rủi ro lãi suất tại các ngân hàng thƣơng
mại ” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
3
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI
RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.1.Một số khái niệm.
Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành mọi lĩnh vực.Nó là một yếu tố khách
quan nên con người không thể loại trừ hết được mà chỉ có thể cố gắng hạn chế
những thiệt hại do chúng gây ra.Có rất nhiều định nghĩa về rủi ro nhưng nhìn chung
có thể chia chúng làm 2 loại:
- Theo quan điểm truyền thống: rủi ro là những thiệt hại , mất mát , nguy
hiểm hoặc những yếu tố liên quan đến khó khăn nguy hiểm hoặc điều không chắc
hệ thống ngân hàng. Từ đó có thể làm cho nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức
mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trong và ngoài
nước, ảnh hưởng đến kinh tế thế giới trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá nền
kinh tế như hiện nay.
2.Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng
2.1.Một số khái niệm liên quan đến lãi suất.
2.1.1.Khái niệm lãi suất.
Lãi suất là một công cụ nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ của
NHTW, là mối quan tâm của mọi người, mọi DN thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau.Lãi suất ảnh hưởng đến các quyết định của cá nhân cũng như quyết định của
DN và hộ gia đình như liệu nên tiêu dùng hay tiết kiệm, nên mua một căn nhà, mua
cổ phiếu hay gửi tiết kiệm tại ngân hàng.Như vậy lãi suất là một biến số được theo
dõi chặt chẽ nhất bởi vì mỗi một sự biến động của nó, dù nhỏ cũng gây ảnh hưởng
lớn đến hoạt động của cả nền kinh tế.
Vậy lãi suất là gì?
Lãi suất là chi phí bỏ ra cho việc vay tiền, là giá cả của quyền được sử dụng
tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người
sở hữu nó
2
.Nói cách khác, lãi suất chính là cái giá phải trả do việc không có sẵn
tiền mặt gây ra, là chi phí cơ hội cho việc nhận lại tiền muộn hơn và trì hoãn tiêu
dùng trước mắt.
2
Theo The Economics of Money, Banking and Financial Markets - Frederic S. Mishkin, Columbia
University- Seventh Edition, p 61)
5
) trừ đi
lạm phát ( Π ),( i
r
= i
n
- Π ), lãi suất thực tế phản ánh đúng chi phí thật của việc
vay tiền và điều chỉnh cho đúng những thay đổi dự tính về mức.
+ Căn cứ theo phương pháp tính lãi :
- Lãi suất đơn : là tỷ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền
vay ban đầu, không gộp vào số tiền vay ban đầu để tính lãi kì hạn kế tiếp.
6
- Lãi suất ghép : là tỉ lệ theo năm, tháng, ngày của số tiền lãi so với số tiền
vay, số tiền vay này có tăng lên do có gộp lãi qua từng thời kì cho vay để tính lãi kì
hạn kế tiếp.
+ Căn cứ theo đồng tiền :
- Lãi suất nội tệ : là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng nội tệ.
- Lãi suất ngoại tệ : là loại lãi suất áp dụng để tính toán cho đồng ngoại tệ.
+ Căn cứ theo độ dài thời gian:
Theo cách phân loại này, đối với cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay, thời hạn
càng dài thì lãi suất càng cao.
- Lãi suất ngắn hạn : là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và
khoản vay dưới một năm.
- Lãi suất trung hạn : là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và
khoản vay từ một đến năm năm.
- Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và khoản
vay trên năm năm.
2.2.Rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng.
lãi suất đã được tính đến, người ta có thể ước lượng được sự thay đổi về giá trị kinh
tế của ngân hàng . Ngược lại với giá trị sổ sách ,khía cạnh giá trị thị trường tập
trung vào rủi ro bắt nguồn từ việc định giá lại hay sự không cân xứng về kì hạn các
loại tài sản trong dài hạn.
2.2.2. Các loại rủi ro lãi suất.
2.2.2.1. Rủi ro kì hạn bất cân xứng
Rủi ro kì hạn bất cân xứng hay còn gọi là rủi ro định giá lại.Rủi ro này bắt
nguồn từ sự khác nhau về thời hạn lãi suất thay đổi và thời hạn của dòng tiền, xảy ra
khi các tài sản có, tài sản nợ, các công cụ ngoại bảng của ngân hàng được định giá
3
Theo Interest rate risk - Comptroller’s handbook ( Narrative - June 1997, procedures- March 1998 ) , Office
for comptroller of the Currency ( OCC ) , USA.
8
hoặc đáo hạn.Đây là loại rủi ro lãi suất thường thấy nhất trong kinh doanh ngân
hàng.Một số ngân hàng vẫn chấp nhận loại rủi ro này để cải thiện thu nhập, tuy
nhiên , những nguồn thu nhập này thường bị ảnh hưởng trước sự tăng lên của tỉ lệ
lãi suất kéo theo sự tăng lên của chi phí vay tiền.Người ta gọi những ngân hàng mà
kì hạn của các tài sản có được định giá lại dài hơn kì hạn của các tài sản nợ được
định giá lại là : “ nhạy cảm với tài sản nợ”, bởi vì tài sản nợ của các ngân hàng này
sẽ được định giá lại nhanh hơn.Thu nhập của các ngân hàng nhạy cảm với các tài
sản nợ thường tăng khi tỉ lệ lãi suất giảm và giảm khi tỉ lệ lãi suất tăng. Ngược lại,
các ngân hàng nhạy cảm với tài sản có sẽ hưởng lợi từ sự gia tăng tỷ lệ lãi suất và bị
thiệt khi tỉ lệ lãi suất giảm. Ví dụ như, ngân hàng huy động vốn có kì hạn 1 năm với
mức lãi suất 11%/ năm, và đầu tư kì hạn 2 năm với mức lãi suất 12%/ năm .Năm
đầu tiên ,ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1%.Năm thứ 2 ,do
lãi suất thị trường tăng lên, ngân hàng chỉ có thể huy động vốn ở mức 13%/ năm, do
động với lãi suất LIBOR ( London Interbank offered Rate - là lãi suất mà các ngân
hàng vay mượn tiền lẫn nhau trên thị trường tiền tệ lớn London.Đó là một chỉ số tài
chính chuẩn được sử dụng tại các thị trường vốn ở Hoa Kì.Libor thường thấp hơn
lãi suất cơ sở ).Như vậy ngân hàng sẽ đứng trước rủi ro là biên độ giữa lãi suất cơ
bản và Libor có thể thu hẹp.Trường hợp khác khi biên độ dao động giữa lãi suất trái
phiếu kho bạc kì hạn 3 tháng và lãi suất libor kì hạn 3 tháng thay đổi , nó sẽ ảnh
hưởng đến lãi ròng của ngân hàng thông qua sự thay đổi giữa biên độ lãi kiếm được
và phải trả của các công cụ tài chính được định giá lại.Nó cũng ảnh hưởng đến dòng
tiền trong tương lai được dự đoán của các công cụ trên và do đó ảnh hưởng đến giá
trị kinh tế ròng cơ sở của ngân hàng.
2.2.2.4.Rủi ro đường cong lãi suất thay đổi.
Đường cong lãi suất biểu thị mối quan hệ giữa lãi suất thị trường cho những
chứng khoán có thu nhập cố định và thời gian đáo hạn của chứng khoán đó, trên
một đồng tiền nhất định, của một khách hàng nhất định.
Đường cong lãi suất (Yield Curve): Là đồ thị biểu diễn mối liên hệ giữa
những mức lợi suất được quan sát tại một thời điểm của các loại trái phiếu có nhiều
kỳ hạn khác nhau. Đường cong lãi suất đi lên khi trái phiếu dài hạn có lợi suất cao
hơn trái phiếu ngắn hạn (bình thường). Đường cong sẽ biến thành đường thẳng nếu
10
tất cả các mức lợi suất đều xấp xỉ ngang nhau (dấu hiệu kinh tế bất ổn). Đường
cong đi xuống nếu lợi suất của trái phiếu ngắn hạn cao hơn trái phiếu dài hạn (dấu
hiệu kinh tế trì trệ).
Trong điều kiện thị trường bình thường, các chứng khoán có kì hạn càng dài
thì sẽ có lãi suất càng cao nhưng tốc độ tăng lãi suất không tăng tương ứng mà giảm
dần, và các chứng khoán này sẽ nhạy cảm hơn với lạm phát cũng như những sự biến
động trên thị trường, khi đó đường cong lãi suất sẽ dốc dần.
Rủi ro đường cong lãi suất là rủi ro bắt nguồn từ sự khác nhau giữa lãi suất
ngắn hạn và dài hạn.Thông thường, lãi suất ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất dài
hạn và các ngân hàng thường thu lợi nhuận từ việc cho vay các khoản ngắn hạn và
cơ, ăn chênh lệch giá. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần
giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, để đảm bảo rằng nếu giá
của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các CCPS vẫn sẽ được duy
trì ở mức ban đầu. Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và
mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp
đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn
chung có bốn công cụ chính là .Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai
(futures), Quyền chọn (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps).
3.1.2.Các loại hợp đồng phái sinh cơ bản.
3.1.2.1 Hợp đồng tương lai (Futures)
Là việc thoả thuận giữa các bên về những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện
theo mức giá đã xác định cho tương lai mà không phụ thuộc vào giá thị trường tại
thời điểm đó.
Trong đó:
- Ngày trong tương lai là ngày giao hàng hay ngày thanh toán cuối cùng.
- Giá được xác định ngay tại thời điểm kí kết hợp đồng được gọi là giá tương lai.
- Còn giá hàng hoá đó vào ngày giao hàng là giá quyết toán.
- Người tham gia hợp đồng với tư cách là người bán hàng có vị trí đoản ( short
position), người tham gia hợp đồng với tư cách là người mua có vị trí trường ( long
position). từ người bán sang người mua theo giá đã thoả thuận trong hợp đồng nếu
12
đó là hợp đồng giao hàng, hoặc tiền sẽ được chuyển từ bên lỗ sang bên lãi nếu đó là
kiểu hợp đồng bù trừ tiền.
Ví dụ: Vào đầu năm 2005, công ty A ký hợp đồng tương lai với công ty B mua
100 tấn gạo với giá 2 USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2006. Như vậy vào
thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg và
công ty A phải mua 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị
trường vào cuối năm 2006 là bao nhiêu chăng nữa.
Lúc đầu, đối tượng của các future trên thị trường là các mặt hàng đơn giản như
ra, với mức giá đặt ra mang tính cá nhân và chủ quan nên rất có thể không chính xác.
-Trong hợp đồng kì hạn ,hai bên bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo đúng
hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợp đồng.
→ Điểm khác biệt của hợp đồng kỳ hạn với hợp đồng tương lai : Hợp đồng tương
lai là một loại hợp đồng kì hạn, song có những điểm khác biệt chủ yếu như sau:
( 1 ) Hợp đồng kì hạn.
( 2 ) Hợp đồng tương lai.
Địa
điểm
giao
dịch
1
Được giao dịch ở thị trường phi tập trung ( OTC- Over the
Counter ), hay chỉ đơn giản là một hợp đồng kí kết giữa hai bên. 2
Được giao dịch trên các sàn giao dịch tập trung ( Sở giao dịch ) nên
các giao dịch sẽ được diễn ra hợp lí và công khai.Trung tâm thanh
toán bù trừ ( clearing house) đóng vai trò như một bên trong tất cả
các hợp đồng, nó đặt ra những yêu cầu về kí quỹ , bảo lãnh thực
hiện hợp đồng đối với những người tham gia giao dịch.
Đồng
tiền
giao
dịch.
Đối
tác
giao
dịch
1
Các bên tham gia biết rõ đối tác của mình.
2
Trong các giao dịch hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao
dịch, cả hai bên bán và mua đều không bao giờ biết về đối tác giao
dịch của mình. Công ty thanh toán bù trừ sẽ phục vụ như một trung
gian trong tất cả các giao dịch. Người bán bán cho công ty thanh
toán bù trừ, và người mua cũng mua qua công ty thanh toán bù trừ.
Nếu một trong hai bên không thực hiện được hợp đồng thì vẫn
không ảnh hưởng đến bên kia. Tiêu
chuẩn
hoá
1
Các hợp đồng kỳ hạn có thể được thảo ra với một hàng hoá bất kỳ,
khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận
chung giữa hai bên bán, mua.
người thua đều trả tiền cho công ty thanh toán bù trừ, và công ty này
sẽ trả tiền cho những người thắng.
Thời
hạn tối
đa
1
Không hạn chế. Có hợp đồng kì hạn có kì hạn có thể lên tới 20 năm.
2
Tối đa là 12 tháng. Giờ
giao
dịch
1
24 giờ/ 1 ngày.
2
4 - 8 giờ/ 1 ngày.Các sở giao dịch được nối với nhau để tạo ra thị
trường toàn cầu.
3.1.2.3. Hợp đồng quyền chọn ( option)
Là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn
mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một
được gọi là giá trị nội tại (intrinsic value). Nếu quyền ở trạng thái bị mất tiền, giá trị
nội tại bằng 0. Giá thị trường của một quyền thường ít nhất là bằng giá trị nội tại.
Giá bán quyền được gọi là phần phụ trội, chênh lệch giữa giá bán quyền với giá trị
nội tại (trong trường hợp quyền đang được tiền) được gọi là phần phụ trội theo thời
gian.
Ứng dụng của quyền lựa chọn
- Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư
cao nhất.
- Quyền chọn được sử dụng để bảo vệ lợi nhuận.
Có hai loại quyền chọn là quyền chọn bán và quyền chọn mua.
Đối với option mua, người mua option sẽ trả cho người bán quyền chọn một
khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (option premium) và người
mua quyền chọn sẽ có quyền được mua (nhưng không bắt buộc phải mua) một
lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hoá…) theo một mức giá đã
được thoả thuận trước tại thời điểm đã xác định trong tương lai. Người bán quyền
chọn nhận được tiền từ người mua quyền chọn nên họ có trách nhiệm phải bán một
lượng chứng khoán nhất định theo một giá cả đã được thoả thuận trước vào một
17
ngày xác định trong tương lai (hoặc được thực hiện trước ngày đó) khi người mua
quyền chọn muốn thực hiện cái quyền được mua.
- Hợp đồng quyền chọn có thời hạn ngắn : 3,6,9 tháng.
- Người nắm giữ hợp đồng có thể thực hiện hoặc không.Khi xảy ra rủi ro, thị
trường không diễn biến đúng như dự đoán,người nắm giữ quyền chọn không thực
hiện hợp đồng và chịu một khoản lỗ đã được xác định trước đó chính là phí quyền
chọn.
3.1.2.4. Hợp đồng hoán đổi ( swap )
Là thoả thuận giữa các bên để đi đến việc trao đổi lãi suất hoặc tiền tệ, thông
thường là thanh toán tiền lãi dựa trên số vốn gốc ban đầu.Theo đó 2 bên sẽ tiến hành
trao đổi lãi suất ( lãi suất cố định hoặc thả nổi ) của một đồng tiền sang lãi ( cố định
mềm dẻo của nó so với các công cụ khác. Lợi nhuận của những công cụ này được
hình thành từ chính giá của những sản phẩm mà nó điều chỉnh. Điều này giúp cho
các ngân hàng, các nhà giao dịch hay nhà đầu tư có thể “đánh cược” vào sự biến
động về giá cả mà bỏ qua những tranh cãi về giá trị thực tế của tài sản.
Từ suy nghĩ như vậy, những ích lợi của các CCPS luôn được các nhà đầu tư
khai thác triệt để nhằm tránh những khoản thua lỗ do sự biến động của giá cả. Một
cách giản đơn, với việc mua các CCPS, các nhà đầu tư đang đánh cược rằng thị
trường sẽ biến động theo chiều hướng ngược lại mong muốn sinh lời của mình, từ
đó, với “một mũi tên trúng hai đích”, các nhà đầu từ vừa có được lợi nhuận nếu giá
cổ phiếu lên cao, vừa đảm bảo sẽ không thua lỗ trong trường hợp cổ phiếu mất giá.
3.2.Các nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng các công cụ phái sinh.
3.2.1.Khái niệm.
Chúng ta đều biết, ngân hàng luôn phải đối mặt với các loại rủi ro lãi suất
trong kinh doanh. Mặc dù ngày nay, các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại đã
phát triển rất mạnh mẽ, nhưng thu nhập từ lãi các hoạt động truyền thống của ngân
hàng là nhận gửi và cho vay vẫn chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng thu nhập của
ngân hàng.Bởi vậy sự biến động của lãi suất dù nhỏ nhưng cũng ảnh hưởng rất lớn
đến ngân hàng.Do đó các ngân hàng không thể xem nhẹ hoạt động phòng ngừa rủi
ro lãi suất của mình.