LỜI NÓI ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, với việc gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO và các tổ chức hợp tác khu vực khác, thị
trường tài chính Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng Việt Nam
nói riêng đã có những bước tiến vượt bậc. Tuy nhiên qua những năm đầu
tiên của hội nhập, cùng với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
năm 2009, hệ thống ngân hàng nước ta đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém,
đặc biệt là trong công tác quản trị rủi ro.Trong khi đó, rủi ro, sự cạnh
tranh khốc liệt, sự nhạy cảm của yếu tố thị trường là đặc điểm không thể
tách rời của hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đối với hệ thống ngân hàng nói chung
và Ngân hàng TMCP Quân Đội nói riêng phải đối mặt, nâng cao hoạt
động quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro lãi suất – một loại rủi ro thường
trực không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Chính
vì vậy, em chọn đề tài : “ Thực trạng và giải pháp của hoạt động quản
trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Quân Đội” làm nội dung
nghiên cứu, với mong muốn vận dụng kiến thức đã học để xem xét, giải
quyết vấn đề thực tiễn và có thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
quản trị lãi suất tại Ngân hàng TMCP Quân Đội.
2.
Mục đích nghiên cứu
3.
-
Chương 1 : Các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro lãi suất trong ngân
hàng.
Chương 2 : Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng TMCP
Quân Đội giai đoạn 2010 – 2012
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro lãi
suất tại Ngân hàng TMCP Quân Đội.
CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT
1.1.
RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1.1.1.
NGÂN HÀNG
Khái niệm rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh
chiu khi lãi suất thị trường biến động. Khi lãi suất thị trường thay đổi,
nguồn thu chính của ngân hàng từ danh mục cho vay và đầu tư chứng
khoán, cũng như chi phí đối với tiền gửi và các nguồn vay khác đều bị
tác động. Sự thay đổi lãi suất cũng ảnh hưởng đến giá trị thị trường của
tài sản và nợ, làm tay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng, từ đó có
thể tác động đến toàn bộ Bảng cân đối kê toán và Báo cáo thu nhập của
ngân hàng.
ta gọi là rủi ro tái tài trợ. Ngược lại, rủi ro tái đầu tư xuất hiện khi lãi
suất thị trường hạ, khiến ngân hàng phài chấp nhận đầu tư các nguồn
vốn của minh vào những tài sản có mức sinh lợi thấp hơn, hạ thấp thu
-
nhập kỳ vọng trong tương lai của ngân hàng.
Rủi ro cơ bản: là rủi ro do có sự biến động không giống nhau ở lãi suất
giữa khoản mục tài sản và nợ. Ví dụ : lãi suất huy động tăng nhiều hơn
lãi suất cho vay, ngân hàng phải chi cho nguồn vốn nhiều hơn so với thu
lãi thu về từ sử dụng vốn, khiến lợi nhuận giảm. Điều này là do mỗi
khoản mục ở tài sản ( cho vay, đầu tư chứng khoán, tiền gửi ở ngân hàng
khác, ...) hay nợ ( tiền gửi của khách hàng, vay Chính phủ và ngân hàng
khác, phát hành giấy tờ có giá, ...) bị tác động bởi nhứng nhân tố khác
nhau, do đó lãi suất của chúng biến động theo chiều hướng và mưc độ
-
khác nhau.
Rủi ro lựa chọn : liên quan đến những quyết định của khách hàng khiến
thay đổi các khoản mục tài sản và nợ của ngân hàng, ví dụ khách hàng
rút trước hạn hoặc trì hoãn trả nợ không đúng thời gian theo quy định.
Rủi ro giảm giá trị tài sản : là khả năng suy giảm giá trị ròng của
ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động. Rủi ro giảm giá trị tài sản
-
bao gồm các loại rủi ro sau :
Rủi ro kỳ hạn : xảy ra khi tồn tại sự không cân xứng về kỳ hạn của tài
sản và nợ
Lạm phát
dự tính
Cung
tín
Dụng
Lạm phát
dự tính
LS
Cầu
tín dụng
Thâm hụt
NSNN
Chu kỳ
kinh
doanh
RR của CC nợ
Nguồn: Giáo trình Quản trị Ngân hàng, Học viện ngân hàng
Chính sách điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước
Ngoài ra, do tính chất đặc biệt của loại hàng hóa- quyền sử dụng
vốn tiền tệ - lãi suất có một vai trò quan trọng là đối tượng giám sát,
quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Thông qua việc ban hành các chính
sách, công cụ để điều chỉnh lãi suất tại các ngân hàng thương mại, cụ thể
là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, NHNN có thể đạt được các
mục tiêu kinh tế vĩ mô của mình.
vi phạm thỏa thuận về thời hạn của các khoản tiền sẽ diễn ra thường
xuyên nhưng không cân xứng, khiến kỳ hạn giữa tài sản và nợ của ngân
hàng luôn thay đổi và chênh lệch nhau. Chính vì thế, rủi ro lãi suất đối
với ngân hàng là một loại rủi ro thường trực, điển hình và không thể
tránh khỏi.
1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG KINH DOANH
NGÂN HÀNG
1.2.1. Sự cần thiết phải quản trị rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro cơ bản nhất trong hoạt
động kinh doanh của các NHTM. Rủi ro lãi suất rồn tại trong hầu hết các
nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng : huy động vốn, tín dụng, kinh doanh
ngoại tệ... Do đó, để hoạt động kinh doanh ngân hàng có hiệu quả, quản
trị rủi ro lãi suất cần được quan tâm thích đáng.
Quản trị rủi ro lãi suất giúp ngân hàng có sự nhìn nhận chính xác
hơn về triển vọng kinh doanh trong tương lai, từ đó giúp ngân hàng chủ
động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn phù hợp, tạo ra lợi
thế trong cạnh tranh giữa các NHTM.
Bên cạnh đó, quản trị rủi ro lãi suất tạo cơ sở xác định mức dự trữ
cần thiết nhằm duy trì khả năng thanh toán cho ngân hàng. Khả năng
thanh toán của ngân hàng bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự biến động lãi suất
thị trường. Lãi suất thị trường biến động bất thường, khó dợ đoán thì dự
trữ của ngân hàng đòi hỏi phải nhiều hơn và ngược lại. Vì thế, ngân
hàng cần xác định mức rủi ro tối đa và mức dự trữ cần thiết để đảm bảo
khả năng thanh toán mà vẫn đạt lợi nhuận lớn nhất cớ thể, tránh dự trữ
quá nhiều gây lãng phí vốn.
Một điều tất yếu trong nên kinh tế thị trường, đó là nếu không chấp
nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư và kinh doanh mới. Do
đó, quản trị rủi ro lãi suất là một yêu cầu không thể thiếu đặt ra trong
rủi ro lãi suất, tránh nguy cơ xung đột lợi ích. Ngân hàng cần có các bộ
phận đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro với nhiệm vụ rõ ràng và độc
lập với các bộ phận kinh doanh của ngân hàng và báo cáo rủi ro trực tiếp
cho ban ( tổng) giám đốc và HĐQT. Các ngân hàng lớn hay phức tạp
hơn phải có các đơn vị độc lập chuyên trách trong việc thiết kế và quản
lý các bộ phận đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro lãi suất.
Có đầy đủ các chính sách và thủ tục quản lý rủi ro
Nguyên tắc 4: Các chính sách và thủ tục về rủi ro lãi suất của ngân
hàng cần được quy định rõ và thống nhất với bản chấ và mức độ phức
tạp của các hoạt động. Những chính sách này cần được áp dụng trong
toàn hệ thống và trong từng chi nhánh, đặc biệt khi có những khác biệt
về pháp lý và trở ngại đối với luồng chu chuyển vốn giữa các chi nhánh.
Nguyên tắc 5: Ngân hàng cần xác định các rủi ro trong các sản
phẩm và hoạt động mới, và bảo đảm rằng những rủi ro này nằm trong
phạm vi các thủ tục và kiểm soát đầy đủ trước khi được sử dụng hay
thực hiện. Việc hạn chế rủi ro hay các sáng kiến quản lý rủi ro cần được
HĐQT hay ủy ban trực thuộc phê duyệt trước.
Các bộ phận đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro
Nguyên tắc 6: Ngân hàng cần có hệ thống đo lường rủi ro lãi suất,
nắm bắt được mọi nguồn gốc phát sinh rủi ro lãi suất và đánh giá được
ảnh hưpngr của những thay đổi lãi suất theo cách thống nhất với phạm vi
hoạt động.
Nguyên tắc 7: Ngân hàng cần thiết lập và áp dụng các giới hạn,
cũng như các thông lệ khác để duy trì rủi ro trong các mức thống nhất
với các chính sách nội bộ.
Nguyên tắc 8 : Ngân hàng cần đo lường khả năng tổn thất trong
diều kiện thị trường cực đoan – bao gồm cả việc phá vỡ một số giả định
chính – và xem xét những kết quả này khi thiết lập và đánh giá các chính
Nguyên tắc 14 : Các cơ quan giám sát phải đánh giá liệu hệ thống
đo lường nội bộ của ngân hàng có cập nhât đầy đủ rui ro lãi suất trong sổ
sách kế toán ngân hàng hay không. Nếu hệ thống nội bộ của ngân hàng
không cập nhật đày đủ rủi ro lãi suất , ngân hàng phải nâng cấp hệ thống
này để đạt được tiêu chuẩn yêu cầu. Để tạo điều kiện cho các cơ quan
giám sát theo dõi rủi ro lãi suất ở các tổ chức, ngân hàng phải cung cấp
kết quả của hệ thống đo lường nội bộ, giải thích theo mối đe dọa với giá
trị kinh tế, sử dụng một cú sốc lãi suất chuẩn.
Nguyên tắc 15: Nếu các cơ quan giám sát xác định được một ngân
hàng không có đủ vốn so với mức độ rủi ro lãi suất trong sổ sách kế toán
ngân hàng, họ cần cân nhắc các biện pháp khắc phục, yêu cầu ngân hàng
giảm bớt rủi ro, hay bổ sung thêm vốn hoặc kết hợp cả hai biện pháp.
1.2.3. Quy trình quản trị rủi ro lãi suất
1.2.3.1 Tổ chức quản lý rủi ro lãi suất
Việc thiết lập mô hình tổ chức quản lý rủi ro đơn giản hay phức tạp
phụ thuộc quy mô từng ngân hàng. Với những ngân hàng nhỏ, giám đốc
điều hành có thể chịu trách nhiệm được toàn bộ hoạt động của ngân
hàng thì không cần thiết phải lập các phòng ban chức năng chuyên trách
về quản trị rủi ro lãi suất. Còn những ngân hàn lớn, cơ cấu tổ chức phức
tạp thì cần phải hình thành khối chuyên trách quản trị rủi ro với nhiều
cấp độ khác nhau, chia ra từng loại rủi ro khác nhau. Khi đó sẽ đảm bảo
được sự phân định trách nhiệm rõ ràng ở từng cấp quản lý trong ngân
hàng, và quản lý rủi ro sẽ là một quá trình được thực hiện từ trên xuống
dưới và dưới lên trên: nghĩa là mục tiêu chung của ngân hàng được cụ
thể hóa bằng những chỉ dẫn cho các bộ phận chức năng, còn việc lập báo
cáo rủi ro được định hướng từ dưới lên, bắt đầu từ các giao dịch và kết
thúc với những rủi ro đã được tổng hợp.
1.2.3.2 Nhận biết rủi ro và dự báo lãi suất
giữa danh mục Tài sản – Nợ của ngân hàng, cụ thể là :
-
Mức độ chênh lệch MA - ML
MA - ML là lớn hơn, nhỏ hơn hay bằng 0
Lãi suất thị trường biến động là tăng hay giảm
Nhược điểm của mô hình : Mô hình được xây dựng dựa trên
những giả định ( hay điều kiện để áp dụng được mô hình ):
-
Một sự tăng ( giảm ) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm
-
( tăng) của danh mục giá trị tài sản
Khi lãi suất thi trường tăng ( giảm) thì danh mục tài sản kỳ hạn càng
dài sẽ giảm ( tăng) càng lớn và có tốc độ giảm ( tăng ) thấp hơn so với
kỳ hạn ngắn hơn. Trên thực tế, tốc độ và mức độ thay đổi của khoản
mục còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lãi suất a[s dụng cho khoản
mục là cố định hay thả nổi, độ nhạy của khoản mục với lãi suất cao hay
thấp, giá trị khoản mục lớn hay nhỏ,... chứ không phải chỉ liên quan đến
kỳ hạn của khoản mục đó.
b. Mô hình định giá lại
Mục đích của mô hình này là nhằm đo lường mức độ biến động
của thu nhập lãi ròng ( net interest income) của ngân hàng trước sự thay
đổi của lãi suất thị trường. Nội dung của mô hình là việc phân tích các
luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị kế toán nhằm xác định chênh lệch
giữa tiền lãi thu được từ tài sản có và lãi phải thanh toán cho tài sản nợ
chiến lược quản lý:
Chiến lược quản lý mang tính bảo vệ : Ngân hàng thiết lập khe hở nhạy
cảm lãi suất bằng 0 tới mức tối đa có thể để giảm thiểu sự bất ổn định
trong thu nhập lãi ròng. Chiến lược này đảm bảo an toàn cho ngân hàng
trước rủi ro, nhưng thụ động, kìm hãm khả năng kinh doanh và phát
triển, tạo ra lợi nhuận của ngân hàng.
Chiến lược quản lý năng động: Ngân hàng sẽ thường xuyên thay đổi
chên lẹch Tài sản – Nợ nhạy cảm dựa trên mức độ tin cậy với các dự báo
về lãi suất của ngân hàng. Nội dung cụ thể của chiến lược.
Dự đoán biến động lãi Giá trị GAP tối Phản ứng của nhà quản trị
suất
ưu
Lãi suất thị trường GAP >0
tăng
-
Lãi suất thị trường GAP
ban đầu. Thực tế rõ ràng phong phú và phức tạp hơn nhiều so với
những giả định này. Hơn nữa, sự biến động của lãi suất tài sản nhạy
cảm và nợ nhạy cảm là không giống nhau, do đó cong thức tính tổn
thất thu nhập lãi ròng không còn chính xác.
+Cuối cùng, mô hình định lượng này không đánh giá những tác
động gay ra bởi sự thay đổi lãi suất tới những người chủ ngân hàng
( cổ đông), được thể hiện qua giá trị vốn cổ phần. Việc sử dụng chiến
lược quản lý khe hở nhạy cảm năng động có thể làm tăng thi nhập lãi
ròng nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến thu nhập, làm giảm giá trị các
khoản đầu tư của cổ đông.
c. Mô hình thời lượng
Mô hình thời lượng là phương pháp do lường sự nhạy cảm của giá
( giá trị của vốn) của khoản đầu tư có thu nhập cố định đối với sự thay
đổi của lãi suất thị trường. Đây là mô hình có tính chính xác hơn nhiều
so với hai mô hình trên, vì có đề cập đén yếu tố thời lượng của tất cả các
luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của Tài sản và Nợ.
Khái niệm thời lượng ( Duration): là thước đo thời gian tồn tại
trung bình của một tài sản, được tính trên cơ sở giá trị hiện tại của nó,
hay nói cách khác là khoàng thời gian trung bình để mộ tài sản tạo ra thu
nhập cho ngân hàng ( theo giá trị hiện tại) đúng bằng giá mua tài sản đó.
Công thức tính thời lượng một tài sản:
Trong đó : N : là tổng số luồng tiền phái sinh từ tài sản
PVt: giá trị hiện tại của luồng tiền nhận được cuối kỳ t
Ý nghĩa kinh tế của thời lượng thể hiện ở chỗ: đây là phép đo trực
tiếp độ nhạy cảm của giá trị tài sản đối với lãi suất. Thời lượng càng dài,
tài sản càng nhạy cảm. Cụ thể, sự ảnh hưởng của lãi suất tới giá trị tài
sản thê hiện qua công thức:
= -P.D*
trì thời lượng tài sản và nợ chênh lệch gần 0 nhất để giảm thiểu tác động
của lãi suất tới giá trị ròng ngân hàng), hoặc thực hiện chiến lược quản
lý năng động dựa vào mức độ tin cậy đối với các dự báo xu hướng lãi
suất nhằm tối đa hóa được giá trị ròng.
Tuy nhiên, mô hình được xây dựng dựa trên các giả định nhất
định, do đó sẽ trở nên không chính xác trong điều kiện thực tế, khi cac
-
giả định này không được đáp ứng:
Thứ nhất, về tính lồi của mô hình: Mô hình giả định mối quan hệ giữa
lãi suất và giá tài sản là tuyến tính, nhưng thực chất mối quan hệ này là
phi tuyến ( dạng đường cong). Vì vậy khi lãi suất thi trường thay đổi ở
-
mức lớn, mô hình trở nên kém tin cậy
Thứ hai, về vấn đề trì hoãn thanh toán: trên thực tế khách hàng có thể
thanh toán trước hạn hoặc không hoàn trả được nợ đúng hạn, dẫn đến sự
sai lệch trong tính toán thời lượng tài sản và nguồn vốn. Hơn nữa, đối
với một số loại tài khoản như tài khoản tiền gửi giao dịch, tiền gửi tiết
kiệm, ngân hàng không thể xác định được chính các luồng tiền vào ra do
phụ thuộc nhu cầu của khách hàng, nên việc tính toán thời lượng cũng
trở nên khó khăn.
-
Thứ ba, vấn đề lãi suất nằm ngang: tác động của lãi suát đến giá trị các
-
tuyến tính giữa các biến chuẩn, do đó nó tuân theo phân phối chuẩn với
hàm mật độ phân phối theo hình tháp chuông. Tuy nhiên, cũng chính vì
giả định mối quan hệ giữa VAR và các biến và tuyến tính, do đó phương
pháp này trở nên kém chính các hơn so với 2 phương pháp tiếp theo.
Phương pháp mô phỏng lịch sử
Phương pháp này có ưu điểm hơn phương pháp trên ở chỗ là
không đưa ra các giả định đã nêu. Tuy nhiên phương pháp này lại dựa
trên giả định lớn khác là những gì diễn ra trong quá khứ sẽ lặp lại trong
tương lai. Bên cạnh đó, phương pháp này yêu cầu khá nhiều số liệu.
Cách tính toán của phương pháp này như sau:
+ Đầu tiên các nhà quản trị phải thu nhập cá lợi tức của
danh mục các trái phiếu trong t ngày và sắp xếp chúng vào n khoảng đều
nhau ( các khoảng này được lựa chon tùy theo cách nhận biết của nhà
quản trị)
+ Trong trường hợp độ tin cậy là 95% thì nhà quản trị sẽ
tính VẢ chính bằng giá trị khoảng thấp nhất thứ { n*0.05} ( nếu { n*
0.05} không là số nguyên nhà quản trị sẽ lấy trung bình cộng của 2 giá
trị thấp nhất nằm hai bên giá trị này).
Phương pháp mô phỏng Monte Carlo
Phương pháp này tương tự phương pháp mô phỏng lịch sử, ngoại
trừ việc thay đổi trong các tác nhân rủi ro được tào ra từ các quy luât
phân phối khác. Phương pháp này sẽ chọn các biến ngẫu nhiên và thông
qua một mô hình đã được xay dựng bởi chính ngân hàng sẽ cho ra các
giá trị đầu ra tương ứng. Càng nhiều cách lần ngẫu nhiên được thực hiện
thì giá trị VAR càng sát với thực tế. Sau đó, các nhà quản trị sẽ sử dụng
cách làm của phương pháp mô phỏng lịch sử để tính giá trị VAR cần
tính. Tuy phương pháp này khá chính xác nhưng chỉ được ơngx dụng
cho các ngân hàng đầu tư và các tập đoàn kinh tế lớn – nơi có hệ thống
xứng giữa kỳ hạn của Tài sản và Nợ, ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro
mộ cách trực tiếp bằng việc điều chỉnh kỳ hạn các khoản mục để có khe
hở nhạy cảm lãi suất và khe hở thời lượng phù hợp với tình hình thị
trường. Các biện pháp cụ thể là: tăng/ giảm tỷ trọng cac khoản cho vay,
huy động ngắn/ trung/ dài hạn, tăng/giảm tỷ trọng cac khoản cho vay,
huy động với lãi suất cố định/thả nổi, hoặc thực hiện mua/bán giấy tờ có
-
giá.
Sử dụng công cụ hạn mức
Về lý thuyết, ngân hàng có thể triệt tiêu rủi ro lãi suất bằng cách áp
dụng chiến lược quản lý mang tính bảo vệ, nghĩa là duy trì cân bằng
tuyệt đối giữa Tài sản va Nợ. Tuy nhiên trên thực tế sẽ rất ít,hoặc không
ngân hàng nào thực hiện chiến lược này, vì việc có gắng tạo sự cân bằng
kỳ hạn như vậy sẽ khiến ngân hàng vừa phải gánh chịu một khoản chi
phí lớn, vừa giảm hiệu quả kinh doanh và khả năng tạo ra lợi nhuận của
ngân hàng. Vì vậy, để kiểm soát ảnh hưởng của rủi ro lãi suất trong khi
vẫn duy trì trạng thái chênh lệch giữa Tài sản – Nợ, ngân hàng sẽ chấp
nhận rủi ro tới một hạn mức nhất định. Hạn mức này do ban quản trị phê
duyệt dựa trên khẩu vị rủi ro, mức độ chấp nhận tổn thất,v.v... cho phù
-
hợp với quy mô hoạt động, mục tiêu và chiến lược của ngân hàng.
Sử dụng chính sách lãi suất thả nổi, linh hoạt
Như đã phân tích, một trong những loại rủi ro lãi suất ngân hàng
thường gặp là rủi ro lãi suất phát sinh từ những chênh lệch về kỳ hạn
( đối với lãi suất cố định) và định giá lại ( đối với lãi suất thả nổi ) giữa