tiểu luận tổng quan về các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro ngân hàng quốc tế - Pdf 13

1 TIỂU LUẬN Tổng quan về các công cụ phái sinh trong
quản trị rủi ro Ngân hàng Quốc tế

2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến đổi không ngừng, ngày càng có nhiểu rủi ro xảy
ra không thể lường trước. Do đó, việc đưa ra các chiến lược, kế hoạch quản trị để phòng
ngừa rủi ro là một xu hướng tất yếu của tất cả các lĩnh vực, ngành nghề trên thế giới. Trong
thế giới tài chính, vấn đề này lại càng nóng hổi hơn khi những rủi ro này có thể ảnh hưởng
đến sự sống còn của một định chế tài chính mà lĩnh vực ngân hàng là một điển hình. Việc
quản trị rủi ro của một ngân hàng thương mại cổ phần trong nước đã khó thì vấn đề này đối
với một Ngân hàng quốc tế lại khó khăn hơn. Là một lĩnh vực ngân hàng có hoạt động phát
triển liên quan trực tiếp đến ngoại tệ, việc quản trị rủi ro được thực hiện với rất nhiều dạng
thức khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay, với thế giới tài chính ngày một phát triển, một các thức
quản trị rủi ro mới đang được biết đến và được ưa chuộng bởi các ngân hàng quốc tế. Đó là
sử dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro. Vậy các ngân hàng quốc tế đã sử dụng

luôn được xem xét trong sự độc lập. Trong trường hợp của các ngân hàng quốc tế,
các loại rủi ro có liên quan và do đó không nên xem xét trong sự độc lập. Ví dụ, trong
việc cho vay Eurocurrency, tỷ lệ nợ xấu bị ảnh hưởng bởi sự biến động tỷ giá hối
đoái. Do đó việc kiểm định rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng trong sự độc lập sẽ
đánh giá thấp mức độ thực sự của những rủi ro mà một ngân hàng quốc tế đối mặt.

1.1.1 Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường là rủi ro thiệt hại theo thời gian do một số yếu tố rủi ro như
thay đổi lãi suất, tiền tệ và chứng khoán. Rủi ro thị trường có thể được cấu thành bởi
nhiều loại rủi ro nhưng quan trọng nhất là rủi ro về lãi suất. Thông thường nhất, rủi
ro thị trường có thể được hiểu như là một dạng của rủi ro kinh doanh. Nguồn gốc của
loại rủi ro này là những thay đổi trong giá cả thị trường (chẳng hạn như lãi suất
4

và tỷ giá hối đoái). Ngay cả các ngân hàng được hoàn toàn tập trung vào hoạt động
cho vay có thể đối mặt với rủi ro thị trường. Nếu một ngân hàng đã cho vay rất nhiều
cho một công ty đã đầu tư vào một loạt các công cụ thị trường (một quỹ đầu tư bảo
hiểm rủi ro chẳng hạn) thì ngân hàng cho vay đã gián tiếp đối mặt với rủi ro thị
trường.

Rủi ro thị trường đã trở nên quan trọng trong hai thập kỷ qua. Điều này là hiển
nhiên cho sự tăng trưởng trong thu nhập ngoài lãi (có nghĩa là thu nhập mà không bắt
nguồn từhoạt động cho vay) khoảng thời gian này. Bảng 4.1 cho thấy xu hướng
ngày càng tăng giữa các ngân hàng thương mại của EU hướng tới một thị phần lớn
hơn thu nhập ngoài lãi. Trong năm 2006, gần một nửa thu nhập tất cả bắt nguồn từ
hoạt động phi tín dụng. Các hoạt động phi lãi suất ngày càng gia tăng, các ngân hàng
ngày càng gia tăng rủi ro thị trường. Tầm quan trọng ngày càng tăng của rủi ro thị
trường bắt nguồn từ hai lý do chính:
■ Thu nhập từ phí (như môi giới, tư vấn) và các hoạt động kinh doanh, có nguy cơ rủi
ro cao nhưng lại là một nguồn thu nhập béo bở.

kiện tương tự cho năm thứ hai. Giả sử, tỷ lệ mà tại đó các ngân hàng có thể huy động
vốn từ thị trường liên ngân hàng đã tăng đến 9% trong năm thứ hai. Trong trường hợp
đó, một thặng dư lãi suất âm trong năm thứ hai (-1%) sẽ mang đi hết lợi nhuận đã
kiếm được trong năm đầu tiên.

Rủi ro tái đầu tư
Đây là loại rủi ro phát sinh trong các tình huống khi mà kỳ hạn của nợ dài hơn
kỳ hạn của tài sản. Từ quan điểm của một sự mất cân đối giữa tài sản và nợ phải trả,
rủi ro tái đầu tư là hình ảnh phản chiếu của rủi ro tái cấp vốn. Do đó, rủi ro tái đầu tư
có thể tăng lên trong tình huống mà lợi nhuận trên tài sản không đủ để trangtrải các
chi phí sử dụng vốn. Ví dụ, giả sử rằng lợi nhuận trên một danh mục đầu tưtrái phiếu
doanh nghiệp là 7% và danh mục đầu tư này sẽ được nắm giữ trong 2năm. Ngân
hàng vay vốn với lãi suất cố định trong hai năm là 6% mỗi năm và có 1% lợi nhuận
trong một năm. Trong năm thứ hai, lãi suất trêndanh mục đầu tư trái phiếu đã giảm
còn 5%. Hậu quả ngân hàng sẽ mất 1% trongnăm thứ hai.
Điều quan trọng là phải nhớ rằng không phải tất cả các tài sản ngân hàng và
cáckhoản nợ nhạy cảm với thay đổi lãi suất và, do đó cũng nhạy cảm với rủi ro lãi
suất. Ví dụ về các tài sản nhạy cảm lãi suất là các chứng khoán có thu nhập cố
địnhnhư trái phiếu (giá trị hiện tại của một trái phiếu doanh nghiệp giảm khi lãi
suấtđược sử dụng để chiết khấu cổ tức tương lai tăng lên) và một số hình thức chovay
doanh nghiệp. Ví dụ về tài sản ít nhạy cảm với lãi suất là tiền mặtđang nắm giữ.

1.1.1.2. Rủi ro ngoại hối
6

Rủi ro ngoại hối là rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập hoặc vốn phát sinh do có
sựbiến động của tỷ giá ngoại hối. Rủi ro ngoại hối phát sinh trong hoạt động ngân
hàng quốc tế bởi vì tài sản vànợ phải trả giống như 1 dòng lưu chuyển tiền tệ được
đặt trong nhiều tiền tệ khácnhau. Lấy ví dụ tại thị trường Eurocurrency nơi mà các
ngân hàng quốc tế rất năngđộng. Một ngân hàng quốc tế ở Anh có thể tạo ra được

Tùy thuộc vào các giao ước hợp đồng cho vay, các khoản vay có thể được thu
hồi lại, một số thậm chí trong một thông báo khá ngắn. Tuy nhiên, các khoản vay sẽ
7

vẫn có tính thanh khoản kém hơn so với tiền gửi của khách hàng, mặc dù nhiều trong
số đó có thể bị thu hồi mà không có bất kỳ thông báo trước. Do đó, một sự mất cân
đối khi đến hạn thanh toán giữa các tài sản và nợ phải trả của các ngân hàng có thể
đẩy ngân hàng vào trong tình huống không có dự trữ đầy đủ các tài sản có tính thanh
khoản cao, một số lượng lớn khách hàng rút tiền sẽ làm cho một ngân hàng có tính
thanh khoản kém. Điều quan trọng là phải nhớ rằng miễn là dự trữ bắt buộc không
phải là 100%, bất kỳ ngân hàng đều có thể phải chịu một cuộc khủng hoảng thanh
khoản chừng nào mà việc rút tiền gửi vượt quá dự trữ tài sản có tính thanh khoản.
Điều quan trọng là nhớ rằng nhiều ngân hàng quốc tế sẽ không đi theo mô
hình đơn giản của nguồn vốn huy động trên. Các tổ chức này sẽ sử dụng ít nhất một
phần nguồn là chứng từ thương mại và thị trường liên ngân hàng để gia tăng tài
chính và thị trường Eurocurrency, nơi mà hoạt động cho vay được thực hiện bằng
ngoại tệ. Tuy nhiên, các nguyên tắc cơ bản của rủi ro thanh khoản thì vẫn giốngnhau.
Vốn huy động thì có kỳ hạn ngắn hơn đáng kể so với kỳ hạn của các khoảnvay mà nó
tài trợ. Điển hình các khoản vay liên ngân hàng có kỳ hạn ba tháng sovới kỳ hạn một
vài năm đối với các khoản vay doanh nghiệp và hộ gia đình. Khi một sốlượng lớn các
khoản nợ mang tính thanh khoản được thu hồi trongmột nỗ lực phối hợp của chủ nợ,
điều này được gọi là một cuộc tháo chạy vốn(bank runs).
1.1.3. Rủi ro tín dụng
Đối với hầu hết các ngân hàng, phần lớn rủi ro tín dụng bắt nguồn từ hoạt
động cho vay. Đối với các ngân hàng quốc tế, điều này cũng xảy ra đối với hoạt động
cho vay trong thị trường Eurocurrency. Bên cạnh rủi ro về nghĩa vụ của khách hàng,
rủi ro tín dụng còn đến từ phía đối tác.
Ví dụ: Nếu một trong những ngân hàng đã ký kết thỏa thuận mặc định, thỏa
thuận hoán đổi sẽ không còn cung cấp một phương tiện thay đổi độ nhạy cảm của lợi
nhuận với những thay đổi về lãi suất. Do đó, mặc định của một trong các đối tác sẽ để

sự yếu kém trong hệ thống công nghệ, thông tin; sự sơ hở, thiếu các quy định của các
NHTM. Định nghĩa này bao gồm cả rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro chiến
lược và rủi ro danh tiếng. Trong thực tế, rủi ro tác nghiệp xảy ra do: gian lận của nhân
viên, các vụ trộm, lỗi hệ thống, mất điện, lũ lụt, hoặc các lý do khác dẫn đến các sai
sót ở một ngân hàng mà không thể phân loại vào các rủi ro khác.
Hình 4.2 cung cấp một cái nhìn tổng quan về các loại khác nhau của rủi ro hoạt
động. Một số các loại rủi ro (chẳng hạn như xuất phát từ các nguồn bên ngoài ngân
hàng) không thể ngăn chặn. Cụ thể là chủ nghĩa khủng bố cũng như các cá nhân bên
ngoài ngân hàng tìm cách lừa gạt nó. Những rủi ro sự kiện khác có thể được ngăn
chặn bằng cách thiết lập quy trình và hệ thống kiểm soát các hoạt động.
9 Hình 4.2: Rủi ro hoạt động

1.1.5. Rủi ro khác
Ngân hàng quốc tế cũng phải đối mặt với một số yếu tố nguy cơ khác, tiêu
biểu là rủi ro quốc gia và rủi ro pháp lý…
 Rủi ro quốc gia: Là xác suất chính trị, xã hội và kinh tế điều kiện ở nước ngoài ảnh
hưởng đến hoạt động thương mại của các ngân hàng nước ngoài. Một sự thay đổi
trong chính phủ, đặc biệt đánh một mức thuế cao vào các hoạt động nước ngoài của
các ngân hàng, tình trạng bất ổn chính trị và gia tăng tham nhũng là tất cả các ví dụ
của các sự kiện mà có thể được phân loại như gây rủi ro quốc gia. Rủi ro quốc gia
không xuất phát từ những rủi ro vốn có và các thuộc tính trở lại của một hoạt động cụ
thể. Thay vào đó, nó xuất phát từ vị trí của hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng có
đầu tư đáng kể ở nước ngoài (trong các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài) hoặc
các ngân hàng có lợi nhuận lớn cổ phần xuất phát từ một nước ngoài cụ thể phải đối
mặt lớn nhất mức độ rủi ro quốc gia.
 Rủi ro pháp lý: Đây là một loại rủi ro riêng biệt, nó mô tả các nguy cơ của một sự
thay đổi trong các luật và quy định về lợi nhuận của một khoản đầu tư.

của hợp đồng kỳ hạn. Vì vậy, hợp đồng kỳ hạn cung cấp một cách phòng ngừa rủi ro hoàn
hảo.
+ Thứ 2, rủi ro tín dụng hay rủi ro không có khả năng chi trả của hợp đồng. Rủi ro này có hai
chiều, người sở hữu hợp đồng hoặc là người nhận được hoặc là người chi trả, phụ thuộc vào
biến động giá cả thực tế của tài sản cơ sở.
+ Thứ 3, giá trị của hợp đồng kỳ hạn chỉ được giao nhận vào ngày nào đáo hạn của hợp
đồng, không có khoản chi trả nào được thực hiện vào ngày ký kết hoặc trong thời hạn của
hợp đồng. Vậy nên, bản thân những hợp đồng kỳ hạn có chứa nhiều rủi ro nhất trong các
công cụ phái sinh.
Hợp đồng giao sau cũng là một hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, để
mua bán tài sản vào một ngày trong tương lai với giá đã thoả thuận ngày hôm nay. Hợp đồng
giao sau tiến triển từ hợp đồng kỳ hạn nên có những điểm giống với hợp đồng kỳ hạn. Về
11

bản chất, chúng giống tính thanh khoản của hợp đồng kỳ hạn. Tuy vậy, khác với hợp đồng
kỳ hạn, hợp đồng giao sau được giao dịch trên thị trường có tổ chức, được gọi là sàn giao
dịch giao sau. Người mua hợp đồng giao sau là người có nghĩa vụ mua hàng vào một ngày
trong tương lai, có thể mua lại hợp đồng giao sau trên thị trường giao sau. Điều này làm cho
họ thoát khỏi nghĩa vụ mua hàng. Và tương tự đối với người bán hợp đồng giao sau, là người
có nghĩa vụ bán hàng vào một ngày trong tương lai, có thể mua lại hợp đồng trên thị trường
giao sau, và điều này cũng làm cho họ thoát khỏi nghĩa vụ bán hàng. Đặc trưng này giúp
những người tham gia mua bán công cụ tài chính phái sinh tránh được những thiệt hại kinh tế
đáng kể nếu trong thời hạn hợp đồng giá cả của tài sản cơ sở có sự biến động không có lợi
cho mỗi bên.
Giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau cũng có rủi ro hai chiều, rủi ro tín
dụng, tức người sở hữu hợp đồng hoặc là người được nhận hoặc là người phải chi trả. Nhưng
khác biệt rõ nhất với thị trường kỳ hạn là thị trường giao sau sử dụng 2 công cụ để loại bỏ rủi
ro này.
Thứ nhất, thay vì giao nhận giá trị hợp đồng vào 1 ngày thông qua mua bán đơn thuần
vào ngày đáo hạn, thay đổi trong giá trị hợp đồng giao sau được thực hiện thanh toán vào

tài sản công ty. Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nhưng quyền
chọn không bắt buộc phải thực hiện giao dịch còn người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt buộc
phải thực hiện giao dịch. Hai bên trong hợp đồng kỳ hạn có nghĩa vụ phải mua và bán hàng
hoá, nhưng người nắm giữ quyền chọn có thể quyết định mua hoặc bán tài sản với giá cố
định nếu giá tri của nó thay đổi.
Hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền, một giao
dịch mà cả hai bên đồng ý thanh toán cho bên còn lại một chuỗi các dòng tiền trong một
khoảng thời gian xác định. Ví dụ, một bên đối tác đang nhận được một dòng tiền từ một
khoản đầu tư, nhưng lại thích một loại đầu tư khác với dòng tiền mà mình đang thị hưởng.
Bên đối tác này sẽ liên lạc với một dealer hoán đổi, thường là một công ty hoạt động trên
OTC, và họ sẽ thực hiện vị thế đối nghịch trong giao dịch. Tuỳ thuộc vào lãi suất hay giá sau
đó thay đổi như thế nào mà 1 bên sẽ thu được lợi nhuận hay là bị lỗ. Lãi của bên này chính là
lỗ của bên kia. Có 4 loại hoán đôỉ là hoán đổi tiền tệ, hoán đổi lãi suất, hoán đổi chứng khoán
và hoán đổi hàng hoá. Và cũng giống như hợp đồng kỳ hạn, các hoán đổi cũng gánh chịu
những rủi ro nếu một bên bị vỡ nợ. Hoán đổi được xem như là kết hợp giữa các hợp đồng kỳ
hạn. Nó là cải tiến tài chính mới nhất nhưng về thực chất không phức tạp hơn một danh mục
các hợp đồng kỳ hạn và rủi ro tín dụng hiện diện trong hoán đổi cũng có phần thấp hơn so
với rủi ro tín dụng của hợp đồng kỳ hạn có cùng kỳ hạn.
II. QUẢN TRỊ RỦI RO NGÂN HÀNG QUỐC TẾ

2.1 Vai trò của các công cụ tài chính phái sinh trong quản trị rủi ro NHQT
Theo các tiêu chuẩn quốc tế của Hiệp hội Kiểm toán nộ bộ quốc tế (IIA) định nghĩa
Rủi ro là khả năng một sự kiện có thể xảy ra và sẽ có ảnh hướng đến việc đạt được các
mục tiêu. Rủi ro được đánh giá dựa trên sự tác động và khả năng xảy ra.
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm
nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh
hưởng bất lợi của rủi ro.
13

Thị trường sản phẩm phái sinh cho phép những người muốn làm giảm rủi ro của mình

chênh lệch lãi suất đầu ra - đầu vào giảm hoặc giá trị ròng của NH giảm.
- Nguyên nhân của rủi ro lãi suất: Sự không phù hợp về kỳ hạn, tính thanh khoản và qui
mô của tài sản so với kỳ hạn, tính thanh khoản và qui mô của nợ.
14

Rủi ro lãi suất xuất hiện có thể làm tăng chi phí vay nợ của ngân hàng, giảm giá trị thị
trường của tài sản có cũng như vốn chủ sở hữu của ngân hàng, làm giảm thu nhập của
ngân hàng.
Các dạng rủi ro lãi suất:
- Rủi ro định giá lại: là rủi ro lãi suất phát sinh từ những chênh lệch về kỳ hạn (đối với lãi
suất cố định) & định giá lại (đối với lãi suất thả nổi) đối với tài sản có, tài sản nợ & các
trạng thái ngoại bảng của ngân hàng
- Rủi ro cơ sở: là rủi ro lãi suất phát sinh từ tương quan không hoàn hảo trong sự điều
chỉnh các lãi suất thu được & phải trả đối với các công cụ khác nhau có những đặc điểm
định giá tương tự
- Rủi ro tính tùy chọn: Một nguồn rủi ro lãi suất ngày càng trở nên quan trọng phát sinh
từ các tùy chọn trong nhiều tài sản có, tài sản nợ & danh mục đầu tư ngoại bảng của ngân
hàng.
Các công cụ phái sinh hạn chế rủi ro lãi suất:
Hợp đồng kỳ hạn lãi suất (FRA)
FRA là một hợp đồng kỳ hạn mà theo đó các bên tham gia đồng ý thanh toán cho
nhau bằng tiền mặt khoản chênh lệch lãi suất (không có giao nhận khoản tiền gốc) của 1
khoản vay ngắn hạn. Cũng như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng FRA được giao dịch trên thị
trường phi tập trung OTC
Ví dụ:
Giả sử vào thời điểm hiện tại, ngân hàng X cho vay 100 triệu USD,lãi suất cố định
4,5%/năm, kỳ hạn 6 tháng & huy động được 100 triệu USD,lãi suất cố định 4,3%/năm với
kỳ hạn 3 tháng. Như vậy sau 3 tháng, ngân hàng phải trả lãi 4,3%/năm cho khoản vay cũ &
đi vay mới. Nếu như lãi suất trên thị trường tại thời điểm đó là 5,2%, ngân hàng sẽ phải
chịu chi phí lãi vay tăng lên khá cao. Đứng trước tình hình trên,để cố định lãi suất huy

Cụ thể, ngân hàng A sẽ ký hợp đồng với ngân hàng B xác định 1 mức lãi suất cụ thể cho dự
án (chẳng hạn 5% cho suốt thời gian vay). Nếu lãi suất thị trường xuống thấp hơn mức lãi
suất trên, ngân hàng B được lợi do cho vay ở mức lãi suất cao hơn thông thường, ngân
hàng A chiu thiệt do phải trả ngân hàng B ở mức lãi suất cao. Nhưng ngước lại, khi lãi suất
16

thị trường tăng lên cao hơn mức trên, ngân hàng A sẽ được lợi do vay lãi suất thấp, còn
ngân hàng B chịu thiệt do cho vay rẻ.
Bản chất của nghiệp vụ hoán đổi lãi suất là cố định chi phí lãi suất ngay từ khi đi vay
vốn, loại bò những biến động thị trường. Như phân tích trên, cho dù ngân hàng A có thể bị
thiệt khi cố định lãi suất nhưng sẽ loại bỏ rủi ro khi lãi suất đột biến tăng lên. Hơn nữa, nếu
ngân hàng Acó chịu lỗ khi lãi suất giảm thì việc cố định lãi suất như vậy cũng giúp ngân
hàng A xác định được rõ cho phí đi vay cho dự án đầu tư của mình. Về nội dung thì hợp
đồng hoán đổi lãi suất khá tương đồng với FRA do cùng bản chất như hợp đồng kỳ hạn.
Hình thức phòng ngửa rủi ro lãi suất bằng IRS hiện đang rất phổ biến ở các quốc gia phát
triển trên thế giới. Tại Việt Nam, T1/2007, ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành
quyết định cho phép các ngân hàng thương mại được thực hiện trao đổi lãi suất với doanh
nghiệp không phải ngân hàng
Hợp đồng quyền chọn
Sử dụng hợp đồng quyền chọn lãi suất có thể giúp cho ngân hàng chắc chắn được chi phí lãi
vay, tránh được rủi ro lãi suất. Để hiểu rõ hơn có thể xem trường hợp mua quyền chọn mua
dưới đây.
Khi tài sản nợ của ngân hàng có lãi suất thả nổi trongkhi tài sản có có lãi suất cố định
hay khi tài sản nợ có thời lượng ngắn hơn tài sản có. Dự kiến lãi suất trong thời gian tới sẽ
tăng để phòng ngừa rủi ro lãi suất ngân hàng mua quyền chọn mua và phải trả một khoản
phí cho ngân hàng bán.
Nếu lãi suất thị trường tăng cao hơn so với lãi suất trong hợp đồng, ngân hàng mua
quyền chọn sẽ nhận được một khoản bù đắp từ ngân hàng bán tại thời điểm nhất định đã
được thỏa thuận trong hợp đồng. Khoản bù đắp này bằng giá trị hợp đồng nhân với chênh
lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất của hợp đồng. Khoản tiền này dùng để bù đắp cho

ro do tỷ giá biến động tại thời điểm cuối năm và do đó, đảm bảo được mức lợi tức dự tính
trong hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ. Nghiệp vụ kỳ hạn được giao dịch phổ biến trên thị
trường OTC (over the counter), do đó thỏa mãn được hầu hết các đối tác có nhu cầu bảo
hiểm rủi ro, mà chủ yếu là các ngân hàng và các công ty xuất nhập khẩu.
Hợp đồng tương lai
‘Thay vì sử dụng nghiệp vụ kỳ hạn, ngân hàng có thể sử dụng các hợp đồng tương lai
để bảo hiểm rủi ro ngoại hối. Các hợp đồng tương lai được giao dịch trên cơ sở có tổ cức.
Hợp đồng tương lai khác biệt so với kỳ hạn ở chỗ hợp đồng tương lại được chuẩn hóa từ loại
ngoại tệ, khối lượng giao dịch, ngày thanh toán. Ví dụ như, ngân hàng A sau 2 tháng nữa sẽ
phải thanh toán 1.000.000 USD cho ngân hàng B. Để phòng ngừa rủi ro ngoại hối từ việc
USD lên giá so với VND, ngân hàng quyết định bán hợp đồng tương lai với tỷ giá xác định
trước. Vậy ngân hàng có thể chốt được tỷ giá sau 2 tháng tới và không cần phải để ý tới tỷ
giá giao ngay trên thị trường. Để làm được việc này thì ngân hàng phải đặt ký quỹ khoản tiền
và sở giao dịch hợp đồng tương lai sẽ tất toán các dòng tiền mỗi ngày, ngân hàng sẽ phải đặt
cọc thêm mức ký quỹ nhỏ hơn một giới hạn nào đó.
2.2.3 Rủi ro tín dụng
18

Theo cách hiểu thông thường, rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi con nợ không có khả
năng thanh toán cả gốc và lãi vay. Sự kiện này còn gọi là “default”. Tuy nhiên trong thực tế
trước khi xảy ra “default”, một chủ thể phát hành chứng khoán nợ phải trải qua các giai đoạn
khác nhau. Về cơ bản, chúng ta có thể phân ra làm 4 giai đoạn mà trong tiếng anh người ta sử
dụng 4 thuật ngữ bắt đầu bằng 4 chữ “D”.
- Khả năng trả nợ suy giảm (deterioration): thể hiện thông qua việc các chỉ số tài chính
xấu đi, các nguồn thu nhập giảm sút. Doah nghiệp có thể mất thị phần do cạnh tranh
khốc liệt hoặc sản phẩm không còn được thị trường ưa chuộng. hệ quả của việc này
có thể là việc xuống hạn mức tín nhiệm, lãi suất huy động vốn tăng lên.
- Tình trạng hết sức khó khăn (distressed): doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn
về tài chính do tình hình kinh doanh kém, các nguồn thu nhập giảm sút nghiêm trọng,
bắt đầu có các khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp chưa nhìn thấy nguồn. hệ quả của

là lãi suất cố định hoặc có thể chuyển từ LIBOR sang lãi suất cố định với một hoán
đổi vanilla thuần nhất. Cuối cùng chúng ta có thể tóm lại: hoán đổi tổng tỉ suất sinh
lời giống với hoán đổi thông thường nhưng thanh toán lãi tương ứng với một trái
phiếu đặc trưng và khoản lãi, lỗ vốn chưa được thực hiện cũng lại được thanh toán.
+ Hoán đổi tổng tỉ suất sinh lời chỉ thiết thực đối với trái phiếu có tính thanh khoản
hợp lý và không thích hợp đối với các khoản vay thông thường. Điều này là bởi vì các
bên phải có khả năng nhận diện tổng tỷ suất sinh lời trên kỳ thanh toán để xác định
một bên nợ bên kia bao nhiêu. Do đó phải có một thước đo xác thực giá trị thị trường
trái phiếu.
- Hoán đổi rủi ro tín dụng
+ Mặc dù là một loại hoán đổi, nhưng hoán đổi tín dụng thực sự lại giống với một
chính sách bảo hiểm hơn. Một bên nắm giữ một trái phiếu hoặc một khoản vay tiến
hành thực hiện một chuỗi các khoản thanh toán định kì với bên kia
+ Sử dụng hoán đổi tín dụng: Nếu bên nắm giữ một trái phiếu hoặc một khoản vay kí
một hợp đồng hoán đổi tín dụng với một tổ chức bảo hiểm. Trong trường hợp trái
phiếu hoặc khoản vay trên bị vỡ nợ hoặc bị đánh giá thấp về tín dụng, bên bảo hiểm
trả cho bên đối tác (bên được bảo hiểm) một số tiền bù trừ khoản lỗ. Các hoán đổi tín
dụng đều được sử dụng hiệu quả đối với các trái phiếu và khoản vay nhưng chúng lại
đòi hỏi một định nghĩa cẩn thận về sự cố tín dụng là gì.
Hoán đổi tín dụng đòi hỏi một định nghĩa rất cẩn thận các sự cố mà công ty
bảo hiểm có thể đền bù. Có nhiều loại sự cố tín dụng có thể xảy ra và được xác định
cụ thể trong hợp đồng. Các biến cố này bao gồm việc không thực hiện chi trả lãi hoặc
thanh toán tiền vốn theo định kì trong thời gian ân hạn, việc tuyên bố phá sản, quyết
định khước từ khoản nợ, có nghĩa là người đi vay khẳng định không mắc nợ trên
phương diện pháp lý. Ngoài ra, các sự cố này cũng bao gồm quá trình tái cấu trúc
khoản nợ của người đi vay và việc tăng tốc thanh toán của một khoản nợ nào đó.
Khoản thanh toán này được tạo ra bởi một khoản nợ trước kỳ hạn. Các khả năng này
phải được giải thích rõ ràng trong hợp đồng.
20


Giao dịch quyền chọn tiền tệ được thực hiện theo Quyết định số 1452/2004/QĐ-
NHNN của Thống đốc NHNN, chỉ bao gồm giao dịch giữa các ngoại tệ (không liên quan đến
VND). Đối tượng được tham gia giao dịch hối đoái bao gồm TCTD được phép, tổ chức kinh
tế, tổ chức khác, cá nhân và NHNN Việt Nam. TCTD được duy trì tổng giá trị hợp đồng
quyền chọn không có giao dịch đối ứng tối đa là 10% so với vốn tự có. Cũng trong Quyết
định này, các TCTD không được mua quyền chọn của tổ chức kinh tế, tổ chức khác và cá
nhân mà họ chỉ được phép bán quyền chọn cho các đối tượng này mà thôi.
Về tỷ giá giao dịch, Quyết định số 648/2004 do Thống đốc NHNN ban hành ngày
28/5/2004 quy định kì hạn của giao dịch kỳ hạn (Forward) và giao dịch hoán đổi (Swap) có
thời hạn từ 3 ngày đến 365 ngày với tỷ giá kì hạn được xác định trên cơ sở: (i) Tỷ giá giao
ngay của ngày kí hợp đồng kì hạn, hoán đổi; (ii) chênh lệch giữa 2 mức lãi suất hiện hành là
lãi suất cơ bản của VND (tính theo năm) do NHNN công bố và lãi suất mục tiêu do Cục dự
trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố; và (iii) kì hạn của hợp đồng.
Quy định về cách thức tính tỷ giá kì hạn này đã tiến gần với thông lệ quốc tế và là tiền đề
pháp lý quan trọng cho sự phát triển của thị trường ngoại hối Việt Nam nói chung và giao
dịch ngoại hối kì hạn nói riêng.
22

Các giao dịch mua bán ngoại tệ của NHTM làm chuyển giao quyền sở hữu về ngoại
tệ, từ đó, làm phát sinh trạng thái ngoại tệ trường (dương) hoặc đoản (âm). NHTM sẽ có khả
năng rủi ro khi duy trì trạng thái ngoại tệ mở và tỷ giá trên thị trường biến động. Nói cách
khác, nếu NHTM duy trì trạng thái ngoại tệ trường sẽ gặp rủi ro hối đoái nếu như tỷ giá
ngoại tệ trong tương lai giảm giá; và ngược lại, NH sẽ gặp rủi ro khi ngoại tệ tăng giá trong
trường hợp NHTM đó duy trì trạng thái ngoại tệ đoản. Để kiểm soát và giới hạn rủi ro cho
NHTM, Quyết định số 1081/2002/QĐ-NHNN ban hành ngày 7/10/2002 và Quyết định
1168/2003/QĐ-NHNN ban hành ngày 2/10/2003 quy định giới hạn trạng thái ngoại tệ đối
với các NHTM Việt Nam, ngân hàng liên doanh và công ty tài chính. Theo đó, các ngân
hàng phải thực hiện tổng trạng thái ngoại tệ dương hoặc âm cuối ngày không được vượt quá
30% vốn tự có của mình.
Trên nền tảng các cơ sở pháp lý trên, các NHTM Việt Nam đã triển khai hoạt động

vay trên bị vỡ nợ, bên bảo hiểm ở đây là HSBC sẽ trả cho bên đối tác, khách hàng các khoản
bù trừ lỗ.
Sản phẩm hoán đổi rủi ro tín dụng của HSBC Việt Nam chỉ gắn với rủi ro tín dụng
của các loại trái phiếu do chính phủ hoặc các DN Việt Nam phát hành trái phiếu ra thị trường
quốc tế, các khoản vay dài hạn của DN Việt nam tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt
Nam. Khách hàng chuyển nhượng rủi ro tín dụng cho HSBC là các tổ chức tín dụng hoạt
động tại Việt Nam và bên nhận chuyển nhượng là các chi nhánh HSBC ở nước ngoài. Thời
hạn của giao dịch không quá 5 năm. Khách hàng mua loại công cụ này cũng giống như thực
hiện một khoản đầu tư gián tiếp. Việc tiếp cận với các công cụ này cho phép nhà đầu tư có
cơ hội tìm kiếm những mức lợi nhuận cao hơn so với hoạt động tín dụng tiền gửi bình
thường, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của các TCTD. Hơn nữa, việc sử dụng các
công cụ mới này còn góp phần nâng cao mức độ tín nhiệm của chính phủ và các DN Việt
Nam khi phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế.
Quyền chọn ngoại tệ, lãi suất và vàng dường như là những công cụ phái sinh được thị
trường hoan nghênh và đón nhận nhiều nhất do những ưu điểm vốn có của nó trong bối cảnh
lãi suất và tỷ giá và giá vàng luôn ở trạng thái tăng liên tục. Ngân hàng đầu tư và phát triển
Việt Nam (BIDV) là ngân hàng đầu tiên được phép thực hiện giao dịch quyền chọn lãi suất.
Các giao dịch quyền chọn lãi suất được phép thực hiện đối với những khoản cho vay và đi
vay trung hạn (dưới 5 năm) bằng USD hoặc bằng EURO và chỉ được thực hiện đối với các
DN hoạt động tại VN, các NHTM hoạt động ở VN được NHNN cho phép và các NH ở nước
ngoài. Sau BIDV là hàng loạt các NHTM khác, bao gồm cả NHTM cổ phần cũng được cho
phép thực hiện nghiệp vụ này.
Bên cạnh quyền chọn lãi suất, quyền chọn ngoại tệ cũng được nhiều ngân hàng cung
cấp, điển hình là BIDV, Eximbank, ACB, Techcombank, Agribank, Citibank, Vietcombank,
ICB, và ngân hàng Hồng Kông bank chi nhánh thành phố HCM. Nguyên tắc chính của loại
quyền chọn này là các DN và cá nhân được quyền đặt mua hay đặt bán USD với VNĐ thông
qua một tỷ giá do khách hàng tự chọn, được gọi là tỷ giá thực hiện. Đặc biệt, quyền chọn
USD và VNĐ đáp ứng cho cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu trong đó quyền chọn mua áp
dụng cho nhà nhập khẩu và quyền chọn bán áp dụng cho nhà xuất khẩu. Sau khi NHNN cho
phép ACB, Sacombank và Agribank thực hiện quyền chọn mua bán vàng, ngày 10/12/2004

thể hiểu được khi mà dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 vẫn còn ảnh hưởng nặng
25

nề đến sự ổn định của thị trường tài chính trong nước và trên thế giới dẫn đên mặt bằng tỷ
giá cũng như lãi suất thay đổi liên tục.
Điểm lại những mốc chính xuất hiện của các công cụ phái sinh ở VN, dễ nhận thấy
rằng nó chưa được thị trường đón nhận như là công cụ không thể thiếu trong phòng ngừa rủi
ro.
III. ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH TẠI VIỆT
NAM
Bên cạnh một số kết quả nhất định và nổi bật thì sau hơn 10 năm quy định và triển
khai các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ vẫn còn không ít những trở ngại, bất cập, cản trở
sự phát triển các công cụ này tại Việt Nam. Một số hạn chế về sự phát triển các công cụ tài
chính phái sinh tiền tệ tại NHTM Việt Nam trong thời gian qua như:
- Các giao dịch mua bán ngoại tệ tại NHTM Việt Nam chủ yếu là giao dịch giao ngay
với tỷ trọng giao dịch lên đến hơn 85% trong tổng số các giao dịch ngoại tệ.
- Số lượng NHTM Việt Nam triển khai công cụ tài chính phái sinh tiền tệ còn quá ít
chủ yếu là các ngân hàng lớn với vốn điều lệ mạnh, công nghệ ngân hàng hiện đại, có uy tín
trên thị trường quốc tế dẫn đến doanh số thực hiện công cụ tài chính phái sinh tiền tệ chiếm
tỷ trọng thấp, chưa đến 10%.
- Các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ đã triển khai tại một số NHTM Việt Nam
chưa phong phú, chưa đa dạng, chưa tạo nhiều tiện ích nên chưa hấp dẫn đối với khách hàng,
vì vậy số lượng khách hàng tham gia còn khá khiêm tốn.
- Hoạt động mua bán ngoại tệ nói chung và thực hiện công cụ tài chính phái sinh chủ
yếu tập trung tại hội sở chính của từng hệ thống NHTM Việt Nam và một số chi nhánh lớn
của NH.
- Phần lớn các NHTM chưa thật sự quan tâm và đầu tư đúng mức để triển khai có
hiệu quả các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ.
- Phần lớn các NHTM chưa chuẩn bị nguồn lực, hệ thống công nghệ để triển khai
công cụ tài chính phái sinh tiền tệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status