1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Thò Ngọc Dung
THỰC TRẠNG HỌAT ĐỘNG
QUẢN LÝ VIỆC DẠY NGHỀ CHO HỌC VIÊN
CÁC TRƯỜNG CAI NGHIỆN MA TÚY
CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÀ CÁC GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: QLGD
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI NGỌC OÁNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2006 2
1. 2. Những vấn đề lý luận liên quan tới đề tài…………………….……………… 19
Chương 2. Thực trạng hoạt động quản lý việc dạy nghề cho học viên
các trường cai nghiện ma túy của TP. Hồ Chí Minh
2. 1. Khái quát về các trường cai nghiện ma túy của TP. HCM…………………………… 46
2. 2. Thực trạng về quản lý việc dạy nghề cho học viên tại các trường
cai nghiện ma túy của TP. HCM …………………………………………… 48
2. 2. 1. Thực trạng việc xác đònh mục tiêu dạy nghề cho học viên……………………… 48
2. 2. 2. Thực trạng việc tổ chức thực hiện nội dung chương trình dạy nghề……… 54
2. 2. 3. Thực trạng quản lý học viên………………………………… 64
2. 2. 4. Thực trạng việc quản lý giáo viên…………………………………… 70
2. 2. 5. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất dạy nghề………………………………… 72
2. 2. 6. Hiệu quả hoạt động dạy nghề………………………………………………………………….. 75
2. 2. 7. Kết luận về thực trạng quản lý việc dạy nghề………………………………………………… 79
2. 3. Phân tích nguyên nhân của tồn tại…………………………………………………….………….. 83
5
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý việc dạy nghề
cho học viên các trường cai nghiện của Thành phố Hồ Chí Minh
3. 1. Cơ sở đề xuất giải pháp……………………………….…………………………………………... 87
3. 2. Một số giải pháp……………………………………………………….………………………….. 88
3. 3. Tính cấp thiết và khả thi của giải pháp……………………………………………….…………… 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận về thực trạng quản lý việc dạy nghề cho học viên…………………….……………………. 97
2. Kiến nghò……………………………………………………………………………………………… 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….…………………………. 107
PHỤ LỤC…………………………………….…………………………..…………………………….. 112 6
7
Danh mục các bảng trang
1. Bảng 2. 1. Số trường cai nghiện của TP. HCM năm học 2003 – 2004………………… 39
2. Bảng 2. 2. Số liệu học viên học nghề năm học 2004– 2005……………………………… 39
3. Bảng 2. 3. Ý kiến giáo viên về sự cần thiết dạy nghề cho học viên……………………. 42
4. Bảng 2. 4. Ý kiến giáo viên về xác đònh mục tiêu việc dạy nghề………………………… 43
5. Bảng 2. 5. Ý kiến của phụ huynh về mục tiêu dạy nghề…………………………….… 44
6. Bảng 2. 6. Ý kiến của học viên về mục tiêu học nghề……………………………………… 46
7. Bảng 2. 7. Tình hình hoạt động dạy nghề năm học 2003 – 2004……………….………… 47
8. Bảng 2.8. Phụ trách công tác hướng nghiệp ………………………………………………… 49
9. Bảng 2.9. Nội dung các bài hướng nghiệp………………………………………………… 50
10. Bảng 2.10. Thời gian giảng dạy các khóa nghề…………………………………….….…52
11. Bảng 2.11. Số nghề tổ chức dạy cho học viên……………………………………… 54
9
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tệ nạn ma túy là hiểm họa đối với con người, xã hội và đang đe dọa toàn thế giới.
Muốn giữ một môi trường xã hội trong sạch, an lành, chúng ta không chỉ cần những biện
pháp triệt để của các cơ quan chức năng, mà còn cần sự phối hợp hành động của mọi
người, mọi ban, ngành, đoàn thể, mọi tổ chức xã hội. Đấu tranh chống tệ nạn ma túy và
giáo dục nhân cách thanh niên đang là vấn đề bức xúc hiện nay của thành phố Hồ Chí
Minh khi số lượng người nghiện ma túy đã tăng lên đến hơn 30.000 người. Đa số họ đã,
đang trong quá trình cai nghiện, rèn luyện và phục hồi nhân cách. Người nghiện ma túy là
những người đã bò giảm sút nghiêm trọng về năng lực nhận thức, phẩm chất, nhân cách…
họ rất dễ trở thành tội phạm, thành tệ nạn xã hội. Giai đoạn cai nghiện ma túy đồng thời
cũng là quá trình phục hồi nhân cách của người cai nghiện. Đó là một quá trình vô cùng
khó khăn, phức tạp, đòi hỏi không chỉ nỗ lực phi thường của bản thân người nghiện, mà
còn cần sự hỗ trợ của gia đình và xã hội [9, tr. 8 -19].
Ý thức được tình hình cấp bách và trách nhiệm to lớn đối với từng số phận con người,
với cộng đồng và xã hội, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (UBND - TP.HCM) đã
ra chủ trương xóa bỏ triệt để tệ nạn ma túy, xây dựng một xã hội văn minh, an lành. Tuy
vậy, tỷ lệ người tái nghiện còn rất cao, lên tới 80%. Một trong những nguyên nhân tái
1. Trường Giáo dục - Đào tạo và Giải quyết việc làm số 1, Đắc-klấp, Đắc Nông.
2. Trường Giáo dục - Đào tạo và Giải quyết việc làm số 2, Lâm Hà, Lâm Đồng.
3. Trường Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm số 3, Phú Giáo, Bình Dương.
4. Trường Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm số 4, Tân Uyên, Bình Dương.
5. Trường Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm số 5, Đắc-klấp, Đắc Nông.
6. Trường Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm số 6, Đắc-klấp, Đắc Nông.
7. Trung tâm Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm Nhò Xuân, Hóc Môn.
8. Tổng đội 1 Thanh niên xung phong huyện Cần Giờ, TP.HCM.
9. Trung tâm Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm Phú Văn, Bình Phước.
10. Trung tâm Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm Bình Đức, Bình Phước.
11. Trung tâm Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm Đức Hạnh, Bình Phước.
12. Trung tâm Giáo dục – Đào tạo và Giải quyết việc làm Bố Lá, Bình Dương.
13. Trung tâm Giáo dục Thanh thiếu nhiên p 3, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi.
14. Trung tâm tư vấn và cai nghiện ma túy, 463 Nơ Trang Long, Q..Bình Thạnh.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5. 1. Phương pháp quan sát:
- Đối tượng quan sát: hoạt động dạy nghề, xưởng trường, phòng dạy nghề ở các trường,
trung tâm cai nghiện ma túy của TP.HCM.
- Mục đích quan sát: Quan sát điều kiện cơ sở vật chất dành cho hoạt động dạy nghề;
hoạt động của giáo viên và học sinh trong giờ dạy nghề…Tìm hiểu thực trạng quản lý
việc dạy nghề cho học viên tại các trường cai nghiện ma túy của TP.HCM.
5. 2. Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò:
12
Chúng tôi đã tiến hành gặp gỡ, trao đổi ý kiến về hoạt động quản lý việc dạy nghề với các
đối tượng: giám đốc, cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề các trường cai nghiện ma túy của
TP.HCM. Để thực hiện, chúng tôi đã đưa ra 7 loại biểu mẫu:
- Biểu mẫu số 1 dành cho cán bộ quản lý trường cai nghiện ma túy, mục đích là tìm hiểu
quan điểm và những khó khăn thuận lợi khi quản lý việc dạy nghề cho người cai nghiện
trường cai nghiện.
- Phỏng vấn một số phụ huynh của học viên cai nghiện, tìm hiểu quan điểm của họ khi
cho con em đăng kí học nghề cũng như ghi nhận những tâm tư, ý kiến đóng góp của phụ
huynh học viên đối với nhà trường để việc học nghề của con em họ thuận lợi và hiệu quả
hơn.
5.5. Phương pháp dùng toán thống kê để xử lý số liệu:
Chúng tôi đã sử dụng phần mềm Excel để thống kê tần số, tính tỷ lệ phần trăm, trò số
trung bình M, độ lệch chuẩn S. Số liệu được qui ước như sau:
- Đối với câu hỏi có 4 khả năng trả lời: a = 4 ; b = 3 ; c = 2 ; d =1.
- Đối với câu hỏi có 3 khả năng trả lời: a = 3 ; b = 2 ; c =1.
Công thức tính:
i
k
i
i
nx
n
M
∑
=
=
1
114
()
2
115
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VIỆC DẠY
NGHỀ TẠI CÁC TRƯỜNG CAI NGHIỆN
Vấn đề ma túy và dạy nghề đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu, đặc
biệt là vào những năm 90 của thế kỷ XX. Những đề tài có liên quan đến ma túy và công
tác phòng chống ma túy trong thời gian gần đây chủ yếu nghiên cứu thái độ, nhận thức
của học sinh, sinh viên về tệ nạn ma túy và phòng chống ma túy.
- Đề tài thứ nhất: “Bước đầu tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên về tệ
nạn ma túy” (1997) của tác giả Trương Thò Hoa. Đề tài đã phần nào xác đònh thực trạng
nhận thức của sinh viên thuộc hai trường (Đại học sư phạm và Đại học bách khoa Hà
Nội) về tệ nạn ma túy và đưa ra các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao nhận thức cho
sinh viên đểø phòng chống ma túy.
- Đề tài 2 là: “Tìm hiểu thực trạng nhận thức về ma túy và nguyên nhân dẫn tới
tệ nạn nghiện ma túy của học sinh trung học phổ thông Hà Nội” (1998) của tác giả
Dương Thò Kim Oanh. Đề tài đã nêu ra thực trạng nhận thức của học sinh trung học phổ
thông về ma túy, phân tích những nguyên nhân dẫn tới tệ nạn nghiện ma túy của học sinh
phổ thông và đề ra các giải pháp khắc phục tình trạng này.
- Đề tài 3 nghiên cứu “Nhận thức của sinh viên về tệ nạn nghiện ma túy trong
trường học” (1998) của tác giả Nguyễn Thò Minh Hải. Đề tài đã nêu được thực trạng
16
do đó hiệu quả hoạt động đào tạo nghề chưa cao, điều này lý giải một phần về sự thiếu
hụt đội ngũ công nhân kó thuật, nhất là ở các nghề mũi nhọn tại thành phố.
- Đề tài 2: “Nghiên cứu xây dựng chương trình dạy nghề ở trường phổ thông của
TP.HCM” (2003). Chủ nhiệm đề tài: Chu Xuân Thành. Tác giả nhấn mạnh sự cấp thiết
phải tổ chức giáo dục lao động, kó thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề cho học
sinh phù hợp với tình hình phát triển của thành phố. Đề tài xây dựng được một chương
trình nghề gồm 3 nhóm nghề:
a/ Kó thuật công nghiệp, thủ công: mộc, nguội, gò hàn, tiện kim loại, điện gia
dụng, điện tử, sửa xe …
b/ Kó thuật nông nghiệp: Trồng trọt và chăn nuôi.
c/ Kó thuật phục vụ: dinh dưỡng, may, thêu, đánh máy chữ, nhiếp ảnh, uốn tóc, thủ
công, nhân viên lễ tân, thư kí văn phòng, tin học, thợ may, công nhân xây dựng…
- Đề tài 3: “Hiệu trưởng quản lý công tác giáo dục lao động - hướng nghiệp tại
trường Ngô Quyền thành phố Hồ Chí Minh” (2004). Chủ nhiệm đề tài : Huỳnh Thò Xuân.
Tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục lao động, kó thuật
tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề tại trường Ngô Quyền. Kết luận của đề tài là: cần
tạo điều kiện cho học sinh được học nghề theo sở thích, năng lực và sức khỏe; nâng cao
nhận thức của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, đặc biệt là đối với phụ
huynh học sinh và học sinh; chú trọng hiệu quả giờ thực hành nghề.
- Đề tài 4 “ Hiệu trưởng quản lý công tác dạy nghề tại trường An Nhơn - Gò Vấp
TP.HCM” (2005). Chủ nhiệm đề tài: Hồ Thò Thu Liên. Đề tài đã bước đầu tìm hiểu
18
nguyên nhân những hạn chế của hoạt động quản lý dạy nghề, đồng thời đề xuất một số
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy nghề tại trường An Nhơn - Gò
vấp. Kết luận của đề tài là: để quản lý tốt công tác dạy nghề, nhà quản lý cần lập kế
hoạch rõ ràng, đúng chu trình, khoa học, cụ thể, triển khai kòp thời để đạt kết quả cao,
nghiêm túc thực hiện kế hoạch đề ra, bám sát mục tiêu: giáo dục người học năng lực,
phẩm chất lao động thông qua việc dạy nghề. Đồng thời cần có sự kết hợp của các lực
lượng giáo dục có liên quan mới đem lại hiệu quả công tác dạy nghề.
về phòng chống và kiểm soát ma túy vào ngày 11-2-1915 [35, tr 21-23].
Năm 1946, ý thức được hiểm họa ma túy đối với loài người, Liên hợp quốc đã
thành lập y ban chống lạm dụng ma túy. Đây là trung tâm hoạch đònh các chính sách
kiểm soát và chống ma túy trên phạm vi quốc tế. Năm 1961 y ban quốc tế về kiểm
soát, chống lạm dụng và sử dụng hợp lý chất gây nghiện trong lónh vực y tế được thành
lập [10, tr 85].
Đến năm 1971, Liên hợp quốc có cơ sở pháp lý là Công ước 1961 về kiểm
soát các chất ma túy được ký kết giữa các thành viên và liên kết, lên tiếng cảnh báo về
tình trạng lạm dụng các chất ma túy, đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế có biện pháp
cụ thể để giải quyết vấn đề này. Tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc tổ chức
tại Viên (o) từ ngày 11-01-1971 đến ngày 02-02-1971, đại diện các nước tham gia đã
ký Công ước quốc tế 1971 về các chất hướng thần có hại cho hệ thần kinh của con người
20
và thống nhất giao cho Tổ chức y tế thế giới chòu trách nhiệm kiểm tra, phân tích, xác
đònh các chất ma túy [20, tr 37-39].
Năm 1987 tại Viên, Liên hợp quốc tổ chức hội nghò quốc tế về chống lạm
dụng ma túy. Hội nghò đã xác đònh rằng ma túy sẽ là một thảm họa cho loài người trong
thế kỷ XX và XXI. Từ hội nghò này, nhiều hiệp đònh liên chính phủ về về kiểm soát và
chống ma túy đã được ký kết. Trong hội nghò này chính phủ Hoa kỳ đã đưa ra tuyên bố
“Việc chống lạm dụng ma túy là vấn đề ưu tiên số một và là vấn đề đối ngoại được ưu
tiên cao nhất ở Mỹ” .
Tháng 2-1988 một hội nghò quốc tế chống ma túy được tổ chức tại Bangkok
(Thái Lan). Có 400 đại biểu đại diện của 40 nước trên Thế giới cùng nhiều tổ chức có
liên quan bàn tiếp về các biện pháp cấp bách chống thảm họa ma túy. Cũng trong năm
này, Liên hợp quốc triệu tập hội nghò gồm đại diện của 106 quốc gia tổ chức tại Viên
(o) để phê chuẩn Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp
pháp các chất ma túy [25, tr.16].
Trong kỳ họp đặc biệt lần thứ XVII của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã phê
chuẩn chương trình hoạt động toàn cầu nhằm mục đích sau đây: Cộng đồng quốc tế
bò chiếu theo luật, phân biệt từng hạng người mà trò tội” [20] .
22
Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp đã biến Việt nam thành thò trường độc quyền
buôn bán thuốc phiện. Chúng thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc người Việt bằng
rượu và thuốc phiện mà đã bò nhà cách mạng Nguyễn i Quốc cực lực lên án trong Đại
hội Tour (Pháp) năm 1920 là: “Chúng tôi không những bò đàn áp, bóc lột một cách nhục
nhã mà còn bò hành hạ và đầu độc một cách thê thảm, nói rõ hơn chúng tôi bò đầu độc
bằng rượu và thuốc phiện…”[1, tr. 357].
Sau khi Pháp thất bại phải rút quân về nước, Mỹ xâm lược nước ta cùng với
chính sách thực dân kiểu mới. Lại một lần nữa, miền Nam Việt Nam trở thành trung tâm
tiêu thụ và buôn bán thuốc phiện cũa khu vực Đông Nam Á. Trong những thời kỳ này,
việc phòng chống ma túy ở nước ta bò chìm vào quên lãng.
Tháng 8-1945, ngay từ những ngày đầu khai sinh ra nước Việt Nam độc lập,
Chính phủ ta đã quan tâm ngay đến việc phòng chống ma túy qua Nghò đònh 150/ TTg
của Thủ tướng chính phủ về thuốc phiện với nội dung khoanh vùng trồng cây thuốc phiện
và nghóa vụ nộp thuế. Ngày 22-5-1952 Thủ tướng chính phủ ban hành Nghò đònh số 225/
TTg nhằm sửa đổi Nghò đònh 150/ TTg.
Trong muôn vàn khó khăn của ngày đầu mới thành lập nước cộng hòa non trẻ,
người đứng đầu chính phủ là Chủ tòch Hồ Chí Minh đã thấy rõ một trong những nhiệm vụ
cấp bách ấy là chống nghiện hút. Người tỏ thái độ kiên quyết: “Tôi đề nghò tuyệt đối
cấm hút thuốc phiện” [2, tr.126-134].
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30-4-1975, Đảng, Nhà Nước và
Chính phủ Việt Nam tiếp tục cuộc chiến chống ma túy. Lần đầu tiên trong Luật hình sự
được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 có 3 điều qui đònh về các hành vi tội
phạm có liên quan đến ma túy. Đó là Điều 97 về tội buôn lậu, hoặc vận chuyển trái phép
23
hàng hóa, tiền tệ qua biên giới; Điều 116 về tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng cấm; Điều
203 về tội tổ chức dùng chất ma túy. Ngày 18 tháng 12 năm 1989, Quốc hội đã thông qua
tại Ulanbato (Mông Cổ), ngành cảnh sát Việt Nam đã tham gia thành lập một tổ chức
cảnh sát thống nhất của các nước Châu Á (ASIPOL) nhằm thống nhất kế hoạch phòng
chống tội phạm trên qui mô toàn châu lục, trong đó đấu tranh chống tệ nạn ma túy là một
nội dung trọng yếu.
Ngoài ra nước ta đã ký kết tham gia Hiệp đònh hợp tác tiểu khu vực về kiểm
soát ma túy với Campuchia, Lào, Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện và Q phát triển
Liên hợp quốc (UNDP)…
Số liệu chi tiết về hơn 30.000 người nghiện ma túy hiện đang tập trung trong
các trường, trung tâm cai nghiện TP.HCM đã nói lên hậu quả tai hại và nguy hiểm của tệ
nạn ma túy. Đấu tranh chống ma tuý và giúp người cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng là
một nhiệm vụ cấp bách, nặng nề của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (UBND
– TPHCM). Quá trình tổ chức quản lý cai nghiện tập trung 2 năm cho người nghiện, tuy
đã đạt được kết quả đáng khích lệ nhưng tỉ lệ người tái nghiện còn rất cao vì vậy UBND
- TP.HCM có sáng kiến tiếp tục tổ chức cho học viên học nghề từ 2-3 năm, nhằm giúp họ
có đủ điều kiện đoạn tuyệt với ma tuý, hoàn thiện nhân cách, có nghề nghiệp vững chắc
để thuận tiện và dễ dàng hòa nhập cộng đồng.
25
Tháng 5-2003, kèm Tờ trình Chính phủ “Về kiến nghò cho phép thành phố Hồ
Chí Minh thực hiện đề án tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người
sau cai nghiện”, UBND - TP.HCM công bố đề án chi tiết thực hiện những nhiệm vụ đề ra
trong tờ trình với tựa đề: “Tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người
sau cai nghiện” trong thời gian 3 năm. Ngày 17-6-2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghóa Việt Nam thông qua Nghò quyết 16/2003 - QH11 “Về việc thực hiện thí điểm tổ
chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma tuý ở thành
phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”. Từ những văn bản
pháp quy này hoạt động quản lý việc dạy nghề cho người cai nghiện đã mở ra một hướng
đi mới chi tiết và cụ thể hơn, theo truyền thống nhân đạo của dân tộc ta [8].
1. 2. 3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phòng chống ma túy
Nghò đònh 20/ CP của Chính phủ.
2. Những người nghiện do gia đình tự nguyện đưa đến nhập trường (có thu phí).
3. Những người nghiện tự nguyện nhưng gia đình nghèo, vì vậy được miễn giảm
một phần chi phí.
Sau thời gian cai nghiện 2 năm theo tinh thần của điều 24 Luật phòng chống
ma tuý, số đông người cai nghiện trở về gia đình và đòa phương đã không thể tìm được
công ăn việc làm do không có nghề nghiệp chuyên môn (hầu hết thuộc dạng lao động
phổ thông hoặc phụ thuộc vào sự chu cấp của gia đình). Họ nhanh chóng rơi vào tình