Thực trạng quản lý việc giảng dạy môn tiếng anh ở một số trường THCS CL quận 6 thành phố Hồ Chí Minh và một số giải pháp - Pdf 25

THƯ
VIỆN LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác
giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình
nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Vương Văn Cho
LỜI CẢM ƠN Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng trân trọng cảm ơn:
 Ban Giám hiệu, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học, Khoa Tâm lý
Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;
 Qu ý Thầy, Cô giảng dạy lớp cao học chuyên ngành Quản lý Giáo dục -
khóa 16 (2005-2008) đã đóng góp nhiều ý kiến qu ý báu cho tôi trong quá

Lợi thế ấy không chỉ là số lượng người lao động trong xã hội mà còn là chất lượng,
trình độ chuyê
n môn, khả năng và thể lực của người lao động cũng như về cơ cấu
lao động.
Là một nước đang phát triển, Việt Nam chỉ có thể sớm thoát khỏi cảnh nghèo
nàn, lạc hậu, rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển nếu có
lực lượng lao động được đào tạo có hệ thống và khoa học, tiếp thu có sáng tạo được
những thành tựu khoa học công nghệ (KHCN) hiện đại.
Giáo dục đào tạo (
GD&ĐT) cùng với khoa học công nghệ (KHCN) là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, cải thiện nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu
phát triển đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH).
Thế nhưng, để nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho nhu cầu phát triển đất nước tiến
tới một nuớc cơ bản có nền c
ông nghiệp hiện đại vào năm 2020, chúng ta còn gặp
nhiều khó khăn, tồn tại về nhiều mặt trong đó có đào tạo. Những năm gần đây,
chúng ta được nghe nói nhiều về chất lượng đào tạo còn yếu kém của nước ta qua
nhiều kênh truyền thông đại chúng. Để khắc phục những tồn tại yếu kém này, nhiều
nhà khoa học, nhiều nhà giáo dục có tâm huyết đã lên tiếng hiến kế, góp ý xây
dựng, nhằm chấn hưng lại nền gi
áo dục nước nhà. Trong số những việc đã làm được
của nhân dân và Nhà nước là việc thực hiện cải cách giáo dục ở nước ta. Do đó,
Luật giáo dục Việt Nam năm 1998, Luật giáo dục Việt Nam sửa đổi năm 2005,
Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2010 đã lần lượt ra
đời.
Một thực tế hiện nay là chúng ta còn thiếu trầm trọng đội ngũ cán bộ, công
chức có đủ năng lực, trình độ đảm đương được công việc, nhất là khả năng sử dụng
ngoại ngữ và tin học vào công tác. Trong khi các tập đoàn kinh tế nước ngoài
đổ bộ
vào Việt Nam, đa phần đều sử dụng tiếng Anh là chủ yếu mà chúng ta lại chưa có

Cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) và học sinh (HS) ở Q.6 TP. HCM.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh ở một số trường
THCS CL Q.6 TP. HCM.
5. Giả th
uyết nghiên cứu
Công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh ở một số trường THCS CL Q.6
TP. HCM vẫn chưa cao, còn những tồn tại cần khắc phục như: HS ít được rèn luyện
về kỹ năng nghe nói, thiên về kỹ năng đọc viết nhiều. Nếu khắc phục được những
tồn tại này thì công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh ở các trường THCS CL
Q.6 TP. HCM sẽ được cải thiện nhiều hơn góp phần nâng cao kỹ năng học tiếng
Anh tại địa phương.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Tác giả chỉ nghiên cứu về công tác QL việc giảng dạy m
ôn tiếng Anh ở
một số trường THCS CL Q.6 TP. HCM.
- CBQL, GV, HS ở 8 trường THCS CL tại Q.6 TP. HCM.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập tài liệu, đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan
đến đề tài qua nhiều phương tiện thông tin báo, đài, Internet... Từ đó, tổng hợp lại
để làm cơ sở lý luận và
thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài.
7.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò
-Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến dựa trên cơ sở lý luận, mục đích nghiên
cứu. Trong đó gồm các bảng câu hỏi:
+Câu hỏi dành cho CBQL, GV màng lưới, Tổ trưởng chuyên môn
(TTCM) tiếng Anh ở một số trường TH
CS CL Q.6 TP. HCM.
+Dành cho GV ở một số trường THCS CL Q.6 TP. HCM.

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo là mục tiêu phải đạt được của quá
trình dạy học, QL dạy học. Trong nhà trường phổ thông (PT), đây là công việc
chiếm một thời gian lớn và khó khăn nhất của người HT. Trên thực tế và lý luận đã
có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu hoạt động dạy học, QL hoạt động dạy học
nhất là bộ m
ôn ngoại ngữ trong đó có bộ môn tiếng Anh để tìm ra những biện pháp
QL tốt hơn.
1.1.1. Những công trình ở ngoài nước về lĩnh vực này có thể kể đến: V.A
Xukhomlinxki trong “Một số kinh nghiệm lãnh đạo của hiệu trưởng trường phổ
thông”; Jaxapob trong “Tổ chức lao động của người hiệu trưởng”; P.V.Zimin,
M.I.Kôndakốp, N.I.Saxerđôlốp trong “Những vấn đề quản lý trường học”.v.v…
Các nhà nghiên cứu giáo dục Ng
a khẳng định: Kết quả toàn bộ hoạt động QL của
nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động
giảng dạy của đội ngũ GV. [52, tr.31]
- P.V.Zimin, M.I.Kôndakốp, N.I.Saxerđôlốp đi sâu nghiên cứu lãnh
đạo công tác giảng dạy, giáo dục nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong
hoạt động QL của HT. [52, tr.28]
-V.A.Xukhomlinxki, V.P.Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề
ra một số vấn đề QL
của HT trường PT như phân công giữa HT và PHT. Các tác
giả thống nhất khẳng định nguời HT là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách
nhiệm trong công tác QL nhà trường. Điều đó sẽ tránh được sự giẫm đạp lên công
việc của nhau đồng thời tránh được tình trạng buông lơi một số công việc trong hoạt
động của nhà trường [48, tr.16]. V.A.Xukhomlinxki đặc biệt coi trọng sự trao đổi
giữa HT và PHT để tìm ra biện pháp QL tốt nhất. Tác giả cho rằng: “Tr

vực của công tác QL trường học như: Nguyễn Tr
ung Hàm (1999), (2001), Chỉ đạo
QL dạy và học trong nhà trường; QL CSVC - kĩ thuật (CSVC – KT), QL tài chính,
công tác hành chính – văn phòng trường trung học; Cao Duy Bình (1999), Kế hoạch
hóa hoạt động nhà trường; về hoạt động dạy học tiếng Anh lớp 6 ở các trường
THCS tại TP. HCM có Đỗ Hạnh Nga, Vũ Thị Phương Anh… các tác giả nghiên
cứu và đi sâu ở những bình diện khác nhau nhưng đều nhằm giải quyết mối quan hệ
giữa GV và người QL; những nội dung QL hoạt động dạy học của HT.
Tập thể cán bộ giảng viên trường CBQL và nghiệp vụ Bộ GD&ĐT nghiên
cứu nghiệp vụ QL của HT đã rất chú trọng tới QL hoạt động dạy học của HT.
Tác giả Ngu
yễn Ngọc Quang xác định: “Dạy học và giáo dục trong sự thống
nhất là hoạt động trung tâm của nhà trường”, “Quản lý nhà trường thực chất là
quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy…”. [35, tr.8, 24]
Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn đi sâu nghiên cứu về mục tiêu, nội dung, biện
pháp QL trường THCS cũng khẳng định: “Việc quản lý hoạt động dạy và học (hiểu
theo nghĩa rộng) là nhiệm vụ quản lý trung tâm
của nhà trường” và “Người hiệu
trưởng phải luôn luôn kết hợp một cách hữu cơ quá trình dạy và học”. [26, tr.28]
Tác giả Nguyễn Văn Lê chú ý tới công tác bồi dưỡng GV về tư tưởng chính
trị, về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực giảng dạy cho họ. [29, tr.5]
Tác giả Mai Quốc Liên cũng có ý kiến: “Cần cấp bách có một chiến lược
ngoại ngữ để phủ khắp tiếng Anh trong các trường học toàn quốc. [28, tr.6]
Nói tóm lại các tác giả Việt Nam cũng như nước ngoài nghiên cứu và đưa ra
nhiều biện phá
p QL hoạt động dạy học ở nhà trường trong đó có bộ môn tiếng Anh;
một số luận văn thạc sỹ quan tâm tới đề tài của HT nhằm nâng cao chất lượng dạy
học ở các địa bàn:
Một số trường THPT dân lập ở Quận 3 Thành phố Hồ Chí Mi
nh.

1.2.2. Nhu cầu học tập
Mức sống của cư dân: Trong lịch sử biến đổi của quận qua các thời kỳ
thì khu vực chợ Bình Tây thuộc Chợ Lớn được coi là những điểm dân cư đầu tiên
của địa bàn Q.6 ngày nay. Cố hương của quận là những thôn – xã của người Việt đã
đư
ợc khai phá và thành lập cách nay hơn 300 năm. Vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế
kỷ XVIII, cư dân gồm người bản địa với số lượng không nhiều, đa phần là người
Kinh, người Khơ-me và một số dân tộc khác từ nước ngoài di cư đi mở cõi vào cư
trú tại đây. Một thực tế là chất lượng lao động của Q.6 chưa cao, nhất là lao động kỹ
thuật bậc trung – cao cấp từ 16 t
uổi trở lên còn rất thấp. Đó là điều khó khăn, trăn
trở trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và phát triển giáo dục của Q.6 vì Q.6
là một trong những trung tâm sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của TP.
Dân cư ở Q.6 phân bố không đều giữa các phường. Hiện nay (năm 2007) mật độ
dân cư đông nhất là Phường 12 với 38.542 người/km
2
, thấp nhất là Phường 2 với
mật độ là 11.200 người/km2, Dân số Q.6 hiện nay đứng vào hàng thứ 9 trong tổng
số 12 quận nội thành, chiếm tỉ trọng 5.45% dân số toàn TP.
Mặt bằng trình độ dân trí trong dân cư Q.6 thấp hơn so với nhiều quận
trong nội thành khác. Theo số liệu năm 1983 thì: Đại học (ĐH) có 89 người, Cao
đẳng (CĐ) có 12 người, Trung học chuyên nghiệp (THCN) có 499 người, công
nhân kỹ thuật có 70 người. Đến năm 1989 thì mặt bằng dâ
n trí đã được nâng lên,
văn hóa cấp I là 67.43% dân cư, cấp II là 13.08% dân cư, cấp III là 8.4%, ĐH và
trên ĐH là 1.35% dân cư, trong đó có 0.96% dân cư mù chữ. Nhưng đến năm 1999
thì đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật do quận quản lý tăng lên rõ rệt, có 48 thạc sĩ,
16 phó tiến sĩ, 7 tiến sĩ, hàng trăm CB-CNV có trình độ ĐH, CĐ và Trung học
chuyên nghiệp. Năm 2000 trình độ PT có 205.762 người, CĐ có 1.432 người, ĐH
có 7.824 người, trên ĐH có 130 người.

vấn đề bức bách đặt ra cho quá trình xây dựng và phát triển của Q.6.
1.2.3. Học lực của HS bộ môn tiếng Anh: Phòng GD&ĐT Q.6 hiện quản
lý 9 trường THCS công lập (CL) trong đó hiện còn tồn tại 02 trường THCS CL tự
chủ tài chánh (TCTC). Sau đây
là một số bảng thống kê về học lực của HS bộ môn
tiếng Anh từ năm học 2005-2006 đến nay.
Bảng 1.1.
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU XẾP LOẠI HỌC LỰC HỌC SINH MÔN
TIẾNG ANH CUỐI NĂM HỌC 2005-2006
XẾP LOẠI
GIỎI KHÁ
TB YẾU KÉM
TB TRỞ
LÊN
LỚP
SỐ
HS
SL TL(%) SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
6 2475
1078 43.6 873 35.3 468 18.9 53 2.1 3 0.1
2419 97.7
7 2756
927 33.6 1174 42.6 568 20.6 78 2.8 9 0.3
2669 96.8
8 2511
727 29.0 1034 41.2 677 27.0 72 2.9 1 0.0
2438 97.1
9 2169
1009 46.5 803 37.0 332 15.3 24 1.1 1 0.0
2144 98.8

TB TRỞ
LÊN
LỚP
SỐ
HS
SL TL(%) SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL
6 3488 1087 31.2 1046 30.0 1022 29.3 287 8.2 46 1.3 3155 90.5
7 3580 992 27.6 1316 36.8 1015 28.4 235 6.6 22 0.6 3323 92.8
8 3232 493 15.2 963 29.8 1311 40.6 416 12.9 49 1.5 2767 85.6
9 3364 718 21.3 1176 35.0 1240 36.9 230 6.8 00 0.0 3134 91.2
TC 13664 3290 24.1 4501 32.9 4588 33.6 1168 8.5 117 0.9 12379 90.6
(Nguồn thống kê của Phòng GD&ĐT Q.6)
0
20
40
60
80
100
2005-2006 2006-2007 2007-2008
GIOI
KHA
TB
YEU
KEM
TREN TB

Biểu đồ 1.1. Thống kê học lực học sinh môn tiếng Anh trong 3 năm học
2005-2006, 2006-2007, 2007-2008

Nhìn vào số liệu bảng thống kê và biểu đồ của 3 năm học gần đây cho ta

Trên thực tế, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về QL
:
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch
của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung - là khách thể quản
lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”. [34, tr.24]
- Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo, nếu như ở tầm vĩ mô, nói đến QL xã hội
thì “Quản l
ý là sự tác động liên tục, có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý
lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội,… bằng một hệ
thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể,
nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [19, tr.17].
Qua một số định nghĩa trên về QL, ta có thể rút ra các kết luận như sa
u:
+ QL là một hoạt động mang tính xã hội; đồng thời là hoạt động mang tính
khoa học và tính nghệ thuật rất cao. Hoạt động QL tất yếu nảy sinh khi con người
lao động tập thể và cùng hướng tới mục tiêu chung.
+ Bản chất của hoạt động QL là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ
huy) một cách có kế hoạch và hợp qui luật của chủ thể QL đến khách thể QL trong
một hệ thống, nhằm làm ch
o hệ thống này vận hành đến mục tiêu mong muốn.
1. 3.1.2. Khái niệm về giảng dạy và hoạt động giảng dạy
Dạy và học là thuộc tính của mọi cơ thể sống. Đối với loài người, dạy và học
là phạm trù mang thuộc tính xã hội rất cao. Nó xuất hiện ngay từ buổi sơ khai khi
con người muốn truyền thụ những kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo cho nhau. Dần dần,
những kinh nghiệm, những kĩ năng, kĩ xảo ấy đư
ợc tập hợp thành hệ thống tri thức
và được tổ chức như một hoạt động giáo dục chuyên biệt, có mục tiêu và tính
chuyên môn hóa rất cao, diễn ra trong trường, lớp, có người dạy, có người học và
đặt dưới những tác động của QL giáo dục. Theo đó:
- Giảng dạy là quá trình hoạt động của thầy, thông qua sự truyền đạt nội dung

Đó là quá trình mà người HT phải hoạch định, tổ chức, điều khiển,
kiểm tra – đánh giá hoạt động giảng dạy của GV nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
đã đề ra. Hoạt động QL này chiếm thời gian và c
ông sức khá lớn của người HT.
Trong quá trình đó, người HT chủ yếu phải tập trung vào hoạt động dạy của thầy và
là trực tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua QL hoạt động dạy của thầy mà QL
hoạt động học của trò.
1.3.2. Quan điểm của Đảng về công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh và
vai trò của công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh trong sự nghiệp giá
o dục.
1.3.2.1. Quan điểm của Đảng về công tác QL việc giảng dạy môn tiếng
Anh trong sự nghiệp giáo dục.
Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn 2001-
2010 là khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực; tiếp tục đổi mới một cách
có hệ thống và đồng bộ, tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo
dục; phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH - HĐH, chấn hưng đất nước, đưa đất nước
phát triển nha
nh và bền vững, chóng sánh vai cùng các nước phát triển trong khu
vực và thế giới.
Từ tư tưởng chỉ đạo nêu trên, trong phần đổi mới mục tiêu, nội dung,
chương trình giáo dục, Chiến lược phát triển trong giai đoạn 2001-2010 có nhấn
mạnh là phải chú trọng trang bị và nâ
ng cao kiến thức tin học, ngoại ngữ cho HS.
Dạy ngoại ngữ trên diện rộng từ lớp 6; HS được học ổn định và liên tục ít nhất một
ngoại ngữ để khi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) có thể sử dụng được.
Với cơ sở nêu trên, chúng ta thấy rằng Đảng cũng đã có quan điểm chỉ đạo rõ
ràng trong việc đầu tư việc học ngoại ngữ trong đó c
ó việc học tiếng Anh ngay từ
những lớp đầu THCS. Do vậy công tác QL việc giảng dạy môn tiếng Anh trong sự
nghiệp giáo dục từ ở bậc THCS càng hết sức cần thiết để làm nền tảng cho người

Để phối hợp trách nhiệm giữa các ngành, ngày 19/09/1997 liên tịch
Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ
GD&ĐT đã ra thông tư liên tịch số 79/TTLT và Thông tư liên tịch số 171/TTLB
ngày 04/11/1994 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và Bộ GD&ĐT để hướng
dẫn thực hiện chỉ thị nói trên.
Chưa bao giờ việc học ngoại ngữ lại có nhiều văn bản pháp lệnh như
thế. Điều đó chứng tỏ ngoại ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát
triển nguồn nhân lực v
à là thực tế khách quan cần thiết. Ngoài khoa học chuyên
ngành, ngoại ngữ và tin học là một nội dung đào tạo bắt buộc. Đó là phương tiện
không thể thiếu được đối với CBQL và công chức, đặc biệt trong bối cảnh khoa học
kỹ thuật (KHKT) đang phát triển với tốc độ như vũ bảo hiện nay và hơn nữa, nước
ta đang là thành viên chính thức của WTO. Ngoại ngữ không những giúp chúng ta
tiếp cận những thành tựu khoa học, những thông tin mới n
hất, mà còn là cầu nối, là
phương tiện giao lưu giữa các quốc gia, các dân tộc.
Đối với HS, sinh viên, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là
công cụ hữu hiệu để HS, sinh viên tự đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện mình ngay khi
còn đang ngồi trên ghế nhà trường và sau khi ra trường.
Chính vì vậy mà việc QL việc giảng dạy môn tiếng Anh trong sự
nghiệp giáo dục và chiến lược phát triển giáo dục đến năm
2010 lại càng có vai trò
hết sức quan trọng hơn bao giờ hết. Yêu cầu của thời đại đòi hỏi người CBQL giáo
dục các cấp cần phải xác định mục tiêu học ngoại ngữ từng bậc học và cấp học một
cách nghiêm túc để nhằm đáp ứng mục tiêu chung và cung cấp nguồn nhân lực có
đủ tiêu chuẩn theo nhu cầu phát triển đất nước.
1.3.3. Đặc điểm của trường TH
CS CL
+ Vị trí: Điều 2, chương I Điều lệ trường THCS qui định: “Trường
trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ

chính là do lịch sử để lại hầu hết các trường phải vận động CMHS hỗ trợ với
phương châm: Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Điều này gây không ít khó khăn cho người HT trong việc QL và thực hiện
mục tiêu về chất lượng GD&ĐT.
+ Đặc điểm về nội dung chương trình – phương pháp giảng dạy:
- Trườn
g THCS CL tổ chức giảng dạy theo nội dung chương trình
giáo dục THCS do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành, gồm 13 môn bắt buộc: Toán,
Lí, Hóa, Sinh, Kĩ thuật, Văn, Sử, Địa, Ngoại ngữ, Giáo dục công dân, Thể dục,
Nhạc, Họa và một số môn tự chọn có thể là tin học, ngoại ngữ... Thời lượng và phân
tiết được qui định rõ trong phân phối chương trình (PPCT). Đây được xem là “pháp
lệnh”, đòi hỏi Ban lãnh đạo nhà trường và toàn thể GV phải tuân thủ, chỉ có thể giãn
tiết (để dạy cho kĩ hơn, sâu hơn) chứ không được phép cắt xén tiết dạy.
- Nội dung chương trình nhằm hướng đến mục tiêu GD&ĐT như đã
nói trên. Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin và phát triển nền ki
nh tế tri
thức, nội dung chương trình cũng đã và cần phải được các nhà biên soạn SGK thẩm
định lại cho các mục đích tinh – gọn, phát huy được ở HS năng lực tư duy phê phán,
tư duy sáng tạo, năng lực tự học, những kĩ năng sống, thích ứng và hội nhập với
cộng đồng, v.v…
- Cũng với mục đích đó, phương pháp dạy học ở các bậc học nói
chung và ở trường TH
CS CL nói riêng, mặc dù còn tùy đặc thù từng môn nhưng
đều nhắm đến sự đổi mới. Bên cạnh những phương pháp cổ điển như thuyết trình,
vấn đáp, đàm thoại, người ta nói nhiều đến các phương pháp: Euristic - nêu vấn
đề,…. Tất cả để hướng đến việc kích hoạt sự chủ động học tập, phát triển năng lực
trí tuệ ở người học.
+ Giáo viên:
Tất cả GV giảng dạy ở các trường THCS CL trước tiên đều là GV


Như đã nói ở trên, có đến khoảng 1/9 cha mẹ HS do ly hôn, bận sinh
kế không thể QL, chăm lo con cái. Thậm chí nhiều bậc cha mẹ phó mặc con em cho
nhà trường, vì một phần tin vào sự QL của nhà trường và một phần vì bất lực không
QL, dạy dỗ được con em mình,… Điều đó gây không ít khó khăn cho người HT
trong việc phối hợp gi
áo dục với cha mẹ học sinh (CMHS).
1.3.4. QL việc giảng dạy m
ôn tiếng Anh trong quá trình đào tạo:
1.3.4.1. Vị trí của công tác QL việc giảng dạy m
ôn tiếng Anh trong sự
nghiệp giáo dục: Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục mà Luật Giáo
dục Việt Nam 2005 đã đề ra “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ và nghề nghiệp, năng
động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp
ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [7, tr.1] cho chúng ta thấy mẫu
người mà ngành giáo dục đào tạo phải là con người phát triển toàn diện. Để phát
triển toàn diện đòi hỏi bản thân con người ấy phải nỗ lực phấn đấu nhiều mặt về đạo
đức, tri thức, sức khỏe và thẩm mỹ, phát triển được năng lực cá nhân… trong đó,
muốn nắm bắt và cập nhật tri thức của nhân loại nhất là khoa học và công nghệ
trong xu thế hội nhập toàn cầu thì con người Việt Nam trong thời đại hiện nay cũng
như trong tương lai phải biết thêm ít nhất một ngoại ngữ ngoài t
iếng mẹ đẻ. Tiếng
Anh là ngoại ngữ hiện nay được nhiều người trên thế giới sử dụng phổ biến trong
các Hội nghị quốc tế, Hội thảo chuyên đề ở mọi tầm cỡ hoặc qua sách, báo, tài liệu
nghiên cứu khoa học hay thông tin qua các phương tiện truyền thông… Giao tiếp
vốn là nhu cầu không thể thiếu của con người và nhu cầu này ngà
y càng phát triển
theo tiến trình quy mô ngày càng gia tăng. Nhằm đáp ứng cho nhu cầu này thì tiếng

Theo nghĩa chiết tự của từ “hiệu trưởng” (“hiệu” là trường học,
“trưởng” là người đứng đầu), HT là người đứng đầu, chịu trách nhiệm cao nhất
trong trường học. Điều 54 “Luật giáo dục” cũng nê
u rõ: “HT là người chịu trách
nhiệm QL các hoạt động của nhà trường, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bổ
nhiệm, công nhận” [7, tr.20].
Với vị trí đó, HT có vai trò đặc biệt quan trọng trong nhà trường:
- HT phải là người vừa tổ chức, điều khiển, vừa là chiếc cầu nối liên kết và
phát huy sức mạnh các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) của nhà trường nhằm
hướng về một mục tiêu giáo dục xác định. HT phải là người “tạo động lực
cho tổ
chức” và “xây dựng tổ chức học tập”, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong nhà
trường có thể học tập, trưởng thành và phát triển để họ biến tiềm năng cá nhân
thành hiện thực.
- Nhiệm vụ của HT cũng được qui định rõ trong điều 17 của “Điều lệ trường
trung học” bao gồm:
+ Tổ chức bộ m
áy nhà trường;
+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
+ QL GV, nhân viên, HS; QL chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của GV, nhân viên;
+ QL và tổ chức giáo dục HS;
+ QL hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường;
+ Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với GV, nhân viên,
HS; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status