khảo sát hiện trạng sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu tại quận 12, thành phố hồ chí minh và đề xuất giải pháp thay đổi tập quán canh tác nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG
PHÂN BÓN HÓA HỌC, THUỐC TRỪ SÂU TẠI QUẬN 12,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
THAY ĐỔI TẬP QUÁN CANH TÁC NHẰM GIẢM
THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Ngành : KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG

rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô, anh, chị và các bạn để luậ
n
văn được hoàn chỉnh hơn.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ của mọi người đối với tôi!
TP.HCM, ngày 11 tháng 08 năm 2012
Sinh viên
Hồ Hữu Quốc Trân LỜI CAM ĐOAN
Kính thưa quý Thầy Cô! Trong quá trình thực hiện đồ án củ
a mình tôi đã sưu
tập sách báo, internet, tài liệu tham khảo, cùng với kiến thức tôi có được trong suố
t
thời gian ngồi trên ghế nhà trường cũng như trong quá trình thực tế, tôi đã thự
c
hiện xong đồ án của mình. Đồ án được hoàn thành là nhờ có sự chỉ dẫn tận tình củ
a
Cô Lê Thị Vu Lan và sự giúp đỡ của mọi người, cùng với nỗ lực từ bả
n thân mình.
Các số liệu và kết quả có được trong đồ án tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực.
TP.HCM, ngảy 11 tháng 08 năm 2012
Sinh viên
Hồ Hữu Quốc Trân
Đồ án tốt nghiệp

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề

chính những người canh tác.

2. Mục đích của đề tài
Tìm hiểu tập quán bón phân hóa học, sử dụng thuốc trừ sâu trên các loại cây rau
của những người nông dân ở Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.
Đề xuất biện pháp làm thay đổi tập quán canh tác nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi
trường.

3. Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sản
xuất nông nghiệp tại Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh (thu thập tài liệu, số liệu, báo
cáo).
Điều tra tình hình sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học trên các loại cây
rau.
Thu thập ý kiến và nguyện vọng của nông dân, cán bộ kỹ thuật, chính quyền và
các đoàn thể địa phương các vấn đề có liên quan.
Đề xuất biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Ứng dụng phương pháp luận nghiên cứu Sinh Thái Môi Trường. Trong môi
trường luôn dó những tác động đồng thời vào một thành phần môi trường. Vì vậy, khi
xem xét đánh giá không được bỏ sót bất kì một yếu tố nào. Mặt khác, có các tác động
trội, chủ đạo thông qua hệ số tương tác. Vì thế, cần phân tích đồng bộ các chỉ tiêu hóa
Đồ án tốt nghiệp

Trang 3

lý, sinh học của môi trường đất và nước, cũng như hàm lượng thuốc trừ sâu và phân
bón hóa học dùng trong sản xuất nông nghiệp.

• Thời gian canh tác: vụ Đông Xuân sớm, vụ Đông Xuân chính, vụ
Đông Xuân muộn.
Điều tra, phỏng vấn hộ từng nông dân về tình hình sử dụng phân bón lót, tình
hình sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu.
Điều tra đại lý nông dược, thu thập thông tin từ các cơ quan chức năng của
Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh.

Đồ án tốt nghiệp

Trang 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ
HỘI – TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RAU TẠI QUẬN 12
1.1 Vị trí địa lý
Quận 12 là một trong 19 quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh. Quận 12
được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1997 theo Nghị định 03/CP, ngày 6 tháng 1 năm
1997 của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích các xã Thạnh Lộc, An Phú Đông, Tân
Thới Hiệp, Đông Hưng Thuận, Tân Thới Nhất và một phần xã Tân Chánh Hiệp, một

• Tân Thới Hiệp: 261,8 ha.
• An Phú Đông: 881,96 ha.
• Trung Mỹ Tây: 270,6 ha.
• Tân Thới Nhất: 389,97 ha.
• Đông Hưng Thuận: 255,20 ha.
• Tân Hưng Thuận: 181,08; ha, tách ra từ phường Đông Hưng Thuận (khu phố
6, khu phố 7 và một phần khu phố 4, khu phố 5) theo nghị định 143/2006/ NĐ-CP ngày
23/11/2006 của Chính phủ.
Trong lịch sử mở cõi của người Việt, Hóc Môn – Bà Điểm được khai phá từ rất
sớm. Theo tư liệu lịch sử ít ỏi còn lưu lại thì ngay từ đầu thế kỷ XVII từ năm 1623 khi
chúa Nguyễn lập đồn thu thuế tại Sài Gòn thì cư dân sinh sống tại vùng này đã khá
đông. Dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, Hóc Môn thuộc huyện Tân Bình vào
năm 1698. Huyện Tân Bình lúc ấy rộng hơn 11.000km
2
, tức hơn 1/5 diện tích toàn
Nam bộ (63.058km
2
) trải từ hữu ngạn sông Sài Gòn đến tả ngạn sông Vàm cỏ. Khi
huyện Tân Bình đổi tên thành Phủ (năm 1808) gồm 4 huyện thì Hóc Môn thuộc huyện
Bình Dương. Năm 1841, nhà Nguyễn lập huyện Bình Long thì Hóc Môn thuộc huyện
mới này. Sau khi chiếm Nam bộ làm thuộc địa, người Pháp đặt ra các đơn vị hành
chính mới trên vùng đất chúng cai trị gọi là Hạt, rồi Hạt tham biện, Hóc Môn thuộc Hạt
tham biện Sài Gòn.
Đồ án tốt nghiệp

Trang 7

Dù là vùng đất trong Sài Gòn nhưng Hóc Môn không là vùng đô thị hóa, vẫn là
vùng nông thôn. Chính quyền thuộc địa xây dựng quốc lộ 22 chạy qua Hóc Môn lên
Tây Ninh, sang Phnom Pênh phục vụ chính sách bóc lột thuộc địa. Đến thời Mỹ can

Toàn quận chia làm 5 khu dân cư, bố trí như sau:
 Khu 1: vị trí nằm ở phía Tây Nam của Quận 12, gốm phường Tân Thới
Nhất và Động Hưng Thuận, diện tích đất tự nhiên 883 ha, số dân dự trù khoảng
120.000 người, mật độ vây dựng trong khu ở bình quân 25%, công trình phúc lợi công
cộng lớn, có trường phổ thông trung học, công trình công cộng khác,…
 Khu 2: vị trí nằm ở phía Tây Bắc của quận, gồm phường Trung Mỹ Tây
và Tân Chánh Hiệp với diện tích tự nhiên 695 ha, dân số dự trù khoảng 100.000 người,
mật độ xây dựng bình quân trong khu ở 28%, công trình phúc lợi công cộng lớn có
trường phổ thông trung học, bệnh viện, trung tâm quận và trung tâm thương mại – dịch
vụ của thành phố.
 Khu 3: gồm các phường Hiệp Thành, Thới An và Tân Thới Hiệp với diện
tích tự nhiên 1.242 ha, dân số dự trù khoảng 178.000 người, mật độ xây dựng bình
quân trong khu ở 27%, công trình phúc lợi công cộng lớn có trường phổ thông trung
học, công trình công cộng khác.
 Khu 4: vị trí nẳm ở phía Đông Bắc của quận gồm các phường Thạnh
Xuân và Thạnh Lộc với diện tích tự nhiên 1.635 ha, dân số dự trù khoảng 37.000
người, mật độ xây dựng bình quân trong khu ở 15%, công trình phúc lợi công cộng lớn
có trường phổ thông trung học,bện viện, công trình công cộng khác…
 Khu 5: gồm các phường An Phú Đông, Tân Thới Hiệp và một phần
phường Thạnh Lộc với diện tích tự nhiên 822 ha, dân số dự trù khoảng 15.000 người,
mật độ xây dựng bình quân trong khu ở 15%, công trình phúc lợi công cộng lớn có
trường phổ thông trung học, bệnh viện, công trình công cộng khác…
Đồ án tốt nghiệp

Trang 10

1.3 Kinh tế xã hội
Theo thống kế của Quận 12 tình hình kinh tế có những chuyển biến tích cực:
- Thương mại – dịch vụ tăng 19,24%
- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,46%

càng bị thu hẹp và hoạt động nông nghiệp ở địa phương trong những năm gần đây gặp
không ít khó khăn nhu tình trạng ô nhiễm nguồn đất, nguồn nước… ảnh hưởng nhiều
đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của địa bàn.
Hiện nay, diện tích trồng rau trên địa bàn Quận 12 khoảng 346,16 ha; trong đó
diện tích sản xuất rau ăn lá 80,83 ha, chiếm 23,35% tổng diện tích trồng rau trên địa
bàn; diện tích trồng rau muống nước 265,34 ha, chiếm 76,65% tổng diện tích trồng rau
trên địa bàn (số liệu Trạm Khuyến Nông cung cấp năm 2012). Tuy cây rau trên địa bàn
sản xuất manh mún, nhưng sản lượng rau ăn lá của Quận 12 đã phần nào đáp ứng được
phần nào nhu cầu tiêu thụ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trước tình
hình vệ sinh an toàn thực phẩm đáng báo động như hiện nay, nhất là những ca ngộ độc
thực phẩm đã xảy ra, trong đó các loại thực phẩm được chế biến từ các nguồn rau xanh
là những nguyên nhân trước tiên cần được xem xét.
Để góp phần trong việc giữ ổn định trong sản xuất nông nghiệp và tăng năng
suất cây trồng theo hướng tạo ra các sản phẩm sạch và an toàn cần vận động và tuyên
truyền các hộ sản xuất hạn chế sử dụng các loại thuốc kích thích sinh trưởng, thuốc trừ
sâu, thuốc trừ bệnh có nguồn gốc hóa học thay thế từ các chế phẩm sinh học nhằm tạo
ra sản phẩm an toàn cung cấp cho thị trường tiêu thụ.
Một vấn về nữa cần quan tâm đến là những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất
rau tại Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh:
1.4.1 Thuận lợi:
Thông qua các đơn vị chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp như
Trung tâm khuyến nông, Bảo vệ thực vật…, đây là yếu tố quan trọng góp phần trong
việc tăng năng suất tăng thu nhập kinh tế hộ ngày càng cao.
Đồ án tốt nghiệp

Trang 12

Mạng lưới khuyến nông phát triển sâu rộng, khuyến cáo nông dân ứng dụng
những mô hính mới có hiệu quả, tạo diều kiện cho nông dân có điều kiện tham quan
học tập kinh nghiệm, trao đổi giao lưu từ đó mở ra những hướng mới trong điều kiện

2.1.1.1 Trên thế giới
Trong nhiều năm gần đây, thuốc trừ sâu là loại nông dược chính để đẩy mạnh
năng suất, diệt sâu trừ hại, côn trùng, loài gặm nhấm… nó là cứu cánh để bảo vệ thành
quả của nông nghiệp. Mặc dù, cho đến nay đã có nhiều phát hiện về nguy cơ đe dọa
đến sức khỏe và môi trường sống của con người do sử dụng thuốc trừ sâu.
Khi con người bắt đầu canh tác nông nghiệp và có sự đấu tranh với dịch hại để
bảo vệ mùa màng thì một số biện pháp phòng trừ dịch hại đã hình thành. Chính vì vậy,
lịch sử của thuốc trừ sâu có rất lâu đời (cách đây khoảng 10.000 năm).
Vào thời kỳ năm 2500BC (trước Công Nguyên), hợp chất lưu huỳnh đã được sử
dụng để diệt côn trùng và nhện.
Năm 1500BC, có hợp chất để diệt bọ chét trong nhà.
Năm 1200BC, Trung Quốc đã có thuốc xử lý hạt giống.
Năm 900 (sau Công Nguyên), người ta đã dùng Arsennic Sulfides để trừ côn
trùng trong vườn.
Thế kỷ thứ 4, người ta đã biết xử lý rễ lúa bằng Arsen trắng.
Từ cuối thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19 là thời kỳ cách mạng nông nghiệp ở Châu
Âu. Sản xuất nông nghiệp tập trung và năng suất cao hơn, đồng thời tình hình dịch hại
càng xảy ra nhiều hơn trong phạm vi thế giới, một số thuốc trừ sâu ở cuối thế kỉ 19 đến
năm 1930 chủ yếu là chất vô cơ như: Arsen, Selenium, Antimony, Sulfur,… hoặc một
số thảo mộc vốn có chất độc. nhưng thời kì đó học chưa biết đến tác hại của nó.
Từ đầu thế kỉ 20, xuất hiện một biện pháp phòng trừ sâu hại tích cực và hiệu quả
hơn. Đó là sự ra đời của DDT thuộc nhóm Clo hữu cơ vào năm 1939, và sau đó liên tục
ra đời những hợp chất hóa học khác. Đây là hợp chất đầu tiên trong chuỗi thuốc trừ sâu
Đồ án tốt nghiệp

Trang 14

được khám phá, nó tiêu diệt được một lượng lớn côn trùng. Trong suốt 25 năm sau đó,
nó được xem như là vị cứu tinh của nhân loại, giúp diệt côn trùng và tăng sản lượng.
Được sử dụng nhiều nơi trên thế giới do quá trình sản xuất rẻ.

hình thức quản lý và phân phối thuốc trừ sâu tập trung theo phương thức hợp tác xã hay
đội sản xuất. Vì vậy, tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu chưa xảy ra và chưa bộc lộ
những vấn đề liên quan đến môi trường và sức khỏe. Đến những năm 80 khi nền kinh
tế hộ gia đình phát triển thì việc sử dụng thuốc trừ sâu nhanh chóng.

Bảng 2.1: Một số thuốc trừ sâu thường dùng

Tên thuốc trừ sâu
Thuốc trừ sâu
(Insecticides)
Asenat natri; Asenat canxi; Natri florua; Bari florua;
Clorophot; Canxi asenit; Natri flosillicat; Anbasin sunphat;
Nicotin sunphat; DDT; Ditiophot; Carbophot; Pocliclopinen;
Lindane; Parathion; Sevin; Furadan
Thuốc diệt sán
(Acarcides)
Methyl bromua; Dicloetal; Carbophot; Mecaptophot;
Metylasitoc; Clopicrin; Natri Cyanua; Este sunphonat
Diệt chuột
(Zocides)
Natri asenit; Canxi asenit; Zocumarin; Kẽm phosfua; Carbon
disulfua; Cyclon D; Cyclon B
Diệt nấm
(Fungicides)
Nước Bocdo; Sắt sulfat; Mecuran
Diệt giun tròn
(Nematocides)
Mecaptophot; Clopicrin
Diệt than mềm
(Mollusocides)

(Defoliant, Decyan)
Penta clofenola; Natri pentaclofenola; Endotala (muối dinatri
củ
a acid 3,6 endoxohexan hidro ftalic); Canxi cianamite;
Magie clorate

2.1.2 Khái niệm về thuốc trừ sâu
Thuật ngữ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), được dùng như hóa chất bảo vệ thực
vật hay chất trừ sinh vật có hại. Một số người nông dân quen gọi là thuốc trừ sâu, là tên
gọi chung cho cả thuốc trừ sâu, bệnh cây, thuốc trừ mốc, mọt, kiến mối…trong ngành
nông nghiệp nước ta. Dù bất kì với tên gọi nào thì các chất trên đều có tác hại đối với
sức khỏe con người và đòi hỏi nhiệm vụ của nhà độc học cần phải nghiên cứu
Thuốc BVTV là những hợp chất độc nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp hóa học
được dùng để phòng và trừ sâu bệnh, cỏ dại, chuột, … hại cây trồng và nông sản (được
gọi với tên chung là sinh vật có hại cho cây trồng và nông sản). Thuốc BVTV gồm
nhiều nhóm khác nhau, gọi theo tên nhóm sinh vật gây hại như thuốc trừ sâu dùng để
trừ sâu hại, thuốc trừ bệnh dùng để trử bệnh cho cây… Trừ một số trường hợp nói
chung mỗi nhóm thuốc chỉ có tác dụng đối với sinh vật gây hại thuộc nhóm đó. Thuốc
BVTV nhiều khi còn được gọi là thuốc trừ dịch hại (Pesticide) và khái niệm này bao
gồm cả thuốc trừ các loại ve, rệp hại vật nuôi, trừ côn trùng, thuốc điều hòa sinh trưởng
cây trồng.
2.1.3 Phân loại thốc bảo vệ thực vật
Hiện nay, thuốc BVTV rất đa dạng và phong phú về chủng loại và số lượng, tuy
nhiên có thể phân loại thuốc BVTV theo các hướng sau:

Đồ án tốt nghiệp

Trang 17

2.1.3.1 Phân loại theo nhóm chức hóa học

Trang 18

Nhóm Pyrethroid và Pyrethrum (Cúc tổng hợp):
Pyrethrum được trích từ cây hoa cúc, công thức hóa học phức tạp, diệt sâu bằng
con đường tiếp xúc và độc có hiệu lực tương đối nhanh, dễ bay hơi nhưng mau phân
hủy trong môi trường và thường không tồn lưu lâu trong nông sản. Rau màu và cây ăn
trái sau khi phun Pyrethrum có thể sử dụng được sau vài ngày.
2.1.3.2 Phân loại theo nguồn gốc
- Vô cơ
- Thảo mộc
- Hữu cơ tổng hợp
 Clo hữu cơ
 Phospho (lân) hữu cơ
 Carbamate
 Pyrethroid
 Các chất điều hòa tăng trưởng côn trùng
- Vi sinh vật
 Nấm (Fungus)
 Vi khuẩn
 Vir us
 Protozoa (động vật đơn bào)

2.1.3.3 Phân loại theo con đường xâm nhập
Các thuốc lưu dẫn: Furadan, Aliette, …
Các thuốc tiếp xúc: Sherpa, Cypermethrin, Sumialpha, …
Các thuốc vị độc: Trichlorfon, Decamethrin, …
Các thuốc xông hơi: Methyl Bromide, Chloropicrin, …
Tuy vậy vẫn có nhiều thuốc có một đến ba con đường xâm nhập.

Đồ án tốt nghiệp

Đồ án tốt nghiệp

Trang 20

2.1.3.5 Phân loại theo tính độc của thuốc
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và tổ chức Lương Nông thế giới (FAO) trực thuộc
Liên Hiệp Quốc phân loại độc tính như sau:

Bảng 2.2: Phân loại thuốc BVTV của WHO theo độ độc cấp tính.
Nhóm
LD
50
trên chuột (mg a.i/kg thể trọng)
Qua đường miệng
Qua da
Thể rắn
Thể lỏng
Thể rắn
Thể lỏng
IA (cực độc)
IB (độc cao)
II (độc trung bình)
III (độc nhẹ )
< 5
5-50
50-500
>500
< 20
20-200
200-2000

là:
 Bền vững trong môi trường, không bị phân hủy bởi sinh vật, men, nhiệt,
tia UV.
 Tích lũy và phóng đại sinh học trong chuỗi thực phẩm, chủ yếu tích lũy
trong mô mỡ của động vật.
Các thuốc của nhóm này có tính độc, phá hủy sự cân bằng muối và kali trong sợi
trục bào thần kinh, làm chúng không còn dẫn truyền luồng thần kinh được nữa. Trong
nhóm này, Việt Nam đã cấm sử dụng DDT và hạn chế Dicofol vào tháng 5 năm 1996.

Hecxachlorcyclohexan (HCH)

Hecxachlorcyclohexan (HCH, 666) hay còn gọi là Benzenehexachloride (BHC)
được biết từ năm 1825, nhưng mãi đến năm 1940 mới được dùng thuốc diệt côn trùng.
Chất này có nhiều đồng phân (alpha, beta, gamma, delta, epsilon). Trong hỗn hợp bình
thường của các đồng phân, gamma BHC chiếm 12%. Về sau, người ta chế tạo được
Lindane với 99% gamma BHC.
Thuốc BHC thường lưu lại mùi trên sản phẩm nhưng do giá rẻ nên vẫn còn được
dùng ở các nước thuộc Thế giới thứ ba. Lindane không mùi, bay hơi nhanh, gây độc
thần kinh, gây run rẩy, co giật, cuối cùng là suy kiệt.
Trong nhóm này, Việt Nam đã cấm sử dụng Lindane và BHC vào tháng 5 năm
1996. Đồ án tốt nghiệp

Trang 22

Các Cyclodiens

Các thuốc trong nhóm Cyclodien được chế tạo vào những năm sau Thế chiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status