THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------------------------
CAO ĐỨC THỊNH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
HỌC MÔN TOÁN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC CƠ SỞ HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH
PHỐ CẦN THƠ Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC


KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT Trung học phổ thông
THCS Trung học cơ sở
HT Hiệu trưởng
GV Giáo viên
HS Học sinh
CBQL Cán bộ quản lý
HĐDH Hoạt động dạy học
CNTT Công nghệ thông tin
PTDH Phương tiện dạy học
PPDH Phương pháp dạy học
CSVC Cơ sở vật chất
x
Điểm trung bình của CBQL
y
Điểm trung bình của GV dạy Toán
s
Độ lệch chuẩn
NXB Nhà xuất bản
ĐHSP Đại học sư phạm
TB Trung bình MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ mà khoa học – công nghệ có những bước phát
triển nhảy vọt, đưa loài người sang kỷ nguyên công nghệ, thông tin và phát triển kinh tế tri thức.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan không thể cưỡng lại được. Trong

2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng, đề xuất các biện pháp quản
lý HĐDH môn Toán, đề tài nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả HĐDH môn Toán ở
các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần
Thơ
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, công tác quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành
phố Cần Thơ được thực hiện như: quản lý nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp dạy học và
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu, kém môn Toán,
kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS. Tuy nhiên, trong từng nội dung quản lý HĐDH
môn Toán vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Do đó, khi đánh giá đúng thực trạng quản lý HĐDH môn
Toán ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ sẽ tạo cơ sở thực tiễn để đề xuất
các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Toán.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS huyện Vĩnh
Thạnh, thành phố Cần Thơ
5.3 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
6.1.1. Quan điểm tiếp cận hệ thống
Quan điểm tiếp cận hệ thống giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa quản
lý HĐDH môn Toán với quản lý các hoạt động sư phạm khác ở trường THCS cũng như xem công
tác quản lý nhà trường là một hệ thống, trong đó quản lý HĐDH môn Toán là một hệ thống con với
các yếu tố hợp thành. Từ đó giúp tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý HĐDH môn Toán.

đạo và chuyên viên trong việc đề xuất các biện pháp mang tính đột phá, cấp bách trong việc nâng
cao chất lượng dạy học môn Toán ở các trường THCS.
6.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học là phương pháp sử dụng toán thống kê để xử lý các dữ liệu
thu thập được.
7. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy môn Toán ở các trường
THCS huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm những phần sau:
- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường Trung học cơ sở
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường Trung học cơ sở
huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ
- Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trường Trung học cơ sở
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

- Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) với quan điểm dạy học gắn liền với PPDH môn
Toán hiện nay là: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi
người học phải tích cực suy nghĩ. Đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen
học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi” [37]. Quan điểm của ông muốn mang lại
hiệu quả dạy học phải đề cao đến các quy định về nề nếp dạy học, nâng cao trình độ của người dạy
để lựa chọn được những PPDH theo hướng đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy
nghĩ và sáng tạo của người học.
- J.A. Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra những quan điểm về HĐDH mà chúng ta có thể vận
dụng trong HĐDH môn Toán. Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải
dựa vào sự vật hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên áp đặt, gò ép
người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn:
nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên
tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy học theo khả năng tiếp thu của HS (vừa sức); dạy
học phải thiết thực và dạy học theo nguyên tắc cá biệt. [37]
1.1.2. Vấn đề hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở trong nước
- Ngoài HĐDH môn Toán được tổ chức trên lớp còn có thể tổ chức những hoạt động thực
hành Toán ngoài nhà trường như ở nhà máy, công xưởng, đồng ruộng, kể cả những hoạt động có
tính chất tập dượt nghiên cứu bao gồm cả các khâu đặt bài toán, xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu,
xử lí mô hình để tìm lời giải, đối chiếu lời giải với thực tế để kiểm tra và điều chỉnh. [25]
- Đề cập đến phương tiện trực quan trong HĐDH môn Toán: “Phương tiện trực quan tượng
trưng là một hệ thống kí hiệu quy ước nhằm biểu diễn tính chất muốn nghiên cứu tách rời khỏi tất
cả các tính chất khác của đối tượng và hiện tượng”. [25]
- Theo tác giả Phạm Văn Hoàn, trong công tác bồi dưỡng HS giỏi môn Toán cần bồi dưỡng
cho HS tác phong, phương pháp nghiên cứu và thói quen tự đọc sách. [25]
- Trong công tác dạy học, phụ đạo HS yếu kém môn Toán, theo tác giả Phạm Văn Hoàn, thầy
giáo nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng
kiến thức. [25]
- Tài liệu “Cơ sở của khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; tài liệu “
Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; tài liệu “Quản lý,
quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo là những tài liệu mà trong

dục tổng thể chứ không hàm ý nói đến dạy học nói chung (dạy học trong cuộc sống).
Khi xem xét HĐDH, có nhiều cách tiếp cận khác nhau như tiếp cận hướng vào hoạt động dạy
của thầy hoặc tiếp cận hướng vào hoạt động học của trò. Dạy học hướng vào hoạt động học của trò
thì trọng tâm của HĐDH được đặt vào hoạt động học của HS chứ không phải vào hoạt động dạy của
GV. Nói cách khác, GV là người tạo ra việc học, gợi cho HS khám phá và tạo dựng kiến thức, tạo ra
các môi trường học tập mạnh mẽ; nâng cao chất lượng học tập, v.v…
Kiểu dạy học truyền thống ở nhà trường Việt Nam thường tiếp cận dạy học hướng vào hoạt
động dạy của GV hơn là hướng vào hoạt động học của HS nên có nhiều hạn chế trong việc phát huy
tính tích cực, độc lập sáng tạo của HS. Theo cách tiếp cận hiện đại, dạy học ở nhà trường Việt Nam
đã và đang dịch chuyển dần sang cách tiếp cận hướng vào hoạt động học của HS bằng cách ứng
dụng các hướng dạy học gia tăng tính tích cực, độc lập và sáng tạo của người học trong quá trình
tìm tòi, khám phá tri thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
Như vậy, HĐDH là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa GV và HS, trong
đó, dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa
học, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan
khoa học và những phẩm chất của nhân cách. [22]
Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của HĐDH như sau:
- Dạy học là một hoạt động kép gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của người học.
Trong đó, Dạy (GV) giữ vai trò chủ đạo, dạy hướng đến học, dạy thúc đẩy học và làm cho học
thành công; Học (người học) giữ vai trò chủ động, tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo.
- Hai hoạt động Dạy và Học tồn tại trong sự thống nhất và tương tác lẫn nhau.
- Hai hoạt động Dạy và Học cùng hướng đến thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học.
Nếu tiếp cận dạy học như là một quá trình, không chỉ nói đến thời gian, không gian HĐDH
diễn ra, mà chủ yếu muốn nói đến logic của HĐDH bao gồm một chuỗi những hành động của GV
và HS phối hợp, thống nhất với nhau, được sắp xếp và thay đổi theo một trình tự phù hợp với logic
khoa học và nhận thức của HS nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học. Nếu tiếp cận dạy học
như là một hoạt động là tiếp cận dạy học dưới góc độ hoạt động tương tác, phối hợp thống nhất của
GV và HS.

1.2.1.2. Hoạt động dạy học môn Toán

lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, rèn luyện những đức tính,
phẩm chất của người lao động mới như tính cẩn thận, chính xác, tính kỉ luật, tính phê phán, tính
sáng tạo, bồi dưỡng óc thẩm mĩ.
Chương trình Toán THCS yêu cầu HS đạt được cụ thể về kiến thức, kĩ năng và thái độ sau:
- Kiến thức, phương pháp toán học phổ thông :
+ Những kiến thức mở đầu về số (từ số tự nhiên đến số thực), về biến đổi đại số, về phương
trình bậc nhất và phương trình bậc hai, về hệ phương trình và bất phương trình bậc nhất, về một số
hàm số và đồ thị đơn giản.
+ Một số hiểu biết ban đầu về thống kê.
+ Những kiến thức mở đầu về hình học phẳng: quan hệ vuông góc và song song, quan hệ
bằng nhau và đồng dạng, quan hệ giữa các yếu tố của lượng giác, một số vật thể trong không gian.
+ Những hiểu biết ban đầu về một số phương pháp toán học: dự đoán và chứng minh, quy
nạp và suy diễn, phân tích và tổng hợp…
- Hình thành và rèn luyện các kĩ năng: tính toán, sử dụng bảng số, máy tính bỏ túi, thực hiện
các phép biến đổi biểu thức, giải phương trình và bất phương trình bậc nhất một ẩn, giải phương
trình bậc hai một ẩn, giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, vẽ hình, đo đạc, ước lượng. Bước đầu
hình thành khả năng vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và các môn học khác.
- Rèn luyện khả năng suy luận hợp lí và hợp lôgic, khả năng quan sát, dự đoán, phát triển trí
tưởng tượng không gian. Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ chính xác, bồi dưỡng các phẩm chất
tư duy như linh hoạt, độc lập và sáng tạo. Bước đầu hình thành thói quen tự học, diễn đạt chính xác
ý tưởng của mình và hiểu được ý tưởng của người khác.
HĐDH môn Toán ở trường THCS có vai trò quan trọng:
- Truyền thụ tri thức, kĩ năng, phương pháp toán học phổ thông cơ bản, hiện đại sát thực tiễn
Việt Nam theo tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp; đồng thời trau dồi cho HS khả năng vận dụng
những hiểu biết toán học vào việc học tập các môn học khác, vào đời sống lao động sản xuất, chiến
đấu và tạo tiềm lực tiếp thu khoa học kĩ thuật.
- Phát triển năng lực trí tuệ chung như: tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng, tư duy logic và
tư duy biện chứng, rèn luyện các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…, các
phẩm chất tư duy linh hoạt, độc lập, sáng tạo v.v…
- Giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và thẩm mĩ. Thông qua HĐDH môn Toán

sáng tạo nhằm lĩnh hội những kiến thức toán học cơ bản, hình thành kĩ năng và thái độ tương ứng,
tạo lập những phẩm chất nhân cách. Hoạt động học môn Toán của HS THCS diễn ra ở trình độ cao
hơn, phong phú hơn, hoàn thiện hơn, biểu hiện ở những nội dung sau:
+ Động cơ học tập môn Toán của HS THCS rất phong phú, đa dạng, nhưng chưa bền vững,
nhiều khi còn thể hiện mâu thuẫn. Đối với các em HS ở trường THCS học Toán là khó, nó đòi hỏi
HS cần phải nắm vững kiến thức có hệ thống, làm nhiều bài tập nhưng đa số các em thường ít chú ý
tới vấn đề này hoặc có biết nhưng lười học, không chịu làm nhiều bài tập.
+ Thái độ học tập của HS THCS đối với môn Toán cũng rất khác nhau. Các em đều ý thức
được tầm quan trọng và sự cần thiết của môn Toán, nhưng thái độ rất khác nhau: có em tích cực, có
trách nhiệm cao, có em rất lười biếng, thờ ơ …
+ Phương thức học tập môn Toán của HS THCS có những nét khác biệt so với HS tiểu học.
Ở THCS hoạt động học tập môn Toán diễn ra theo phương thức học và hành, học – hành gắn với
nhau qua đó để hình thành các kỹ năng cần thiết.
+ Nội dung học tập môn Toán ở THCS được mở rộng và chuyên sâu hơn. Bởi vì, THCS là
cấp học có tính lý luận gắn với thực hành theo từng môn học, có tính chuyên sâu, từng bước HS
nắm được những khái niệm khoa học và nhận thức được các quy luật về tự nhiên, xã hội và con
người.
Hoạt động dạy của GV và hoạt động học môn Toán của HS tồn tại trong sự thống nhất và
tương tác lẫn nhau, cùng hướng đến thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học môn Toán.
Tóm lại, từ những đặc điểm nêu trên cho thấy hoạt động dạy của GV và hoạt động học môn
Toán của HS ở trường THCS có những nét riêng, do vậy HĐDH môn Toán cũng phải chú ý đến
những nét riêng đó và mang nét đặc trưng của cấp học trong dạy học môn Toán ở trường THCS.
1.2.4. Vấn đề đổi mới các yếu tố của hoạt động dạy học môn Toán ở trường Trung học
cơ sở
1.2.4.1. Về mục tiêu dạy học môn Toán
a) Mục tiêu chung môn Toán
- Mục tiêu chung của dạy học môn Toán hướng tới thực hiện mục tiêu giáo dục của cấp học
THCS, đó là: HS có trình độ học vấn THCS; hiểu biết ban đầu về kĩ thuật – hướng nghiệp (để có thể
phân luồng: học tiếp phổ thông, kĩ thuật, hướng nghiệp hoặc đi vào cuộc sống). Mục tiêu giáo dục
cấp THCS đã được mở rộng, nhấn mạnh tính toàn diện: “ Dạy chữ - dạy người – dạy nghề”. Các

cầu toàn trong quá trình hình thành khái niệm mới và khó.
- Tăng tính thực tiễn, thực hành, hình thành khái niệm thông qua sử dụng thiết bị dạy học
một cách hợp lí.
- Đảm bảo vừa sức, khả thi. Thực hiện được yêu cầu về giảm tải: tích hợp các nội dung phù
hợp, lược bỏ nội dung trùng nhau.
- Giảm số tiết trên lớp, tăng thời gian tự học và ngoại khóa.
1.2.4.3. Về phương pháp dạy học môn Toán
- Phương pháp dạy học (PPDH) môn Toán đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho HS, tận dụng
được công nghệ mới nhất; Khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có
sẵn, phát huy cao năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin; Tăng cường học
tập cá thể phối hợp với hợp tác…
- Theo hướng đổi mới nói trên, nên quan tâm tới một số PPDH tích cực trong môn Toán dưới
đây:
+ Dạy học vấn đáp, đàm thoại
Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có
thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học môn Toán. Phương
pháp này là tăng cường hình thức hỏi – đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS bản lĩnh tự tin,
khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi hỏi GV phải xây dựng
được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò
chức năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các yếu tố kết nối các câu hỏi, thứ tự hỏi. GV cũng cần
dự kiến các phương án trả lời của HS để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức, mức độ hỏi,
có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập
của HS và tăng tính hấp dẫn của giờ học môn Toán. Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải
thích – minh họa và vấn đáp tìm tòi.
+ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy học môn Toán, vừa giúp HS nắm được tri
thức mới, vừa giúp HS nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực
sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các tình huống có vấn

+ Phần mềm dạy học môn Toán giúp HS học trên lớp và ở nhà như: GEOMETRIS,
SKETCHAPD, MAPLE…
+ Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính.
+ Sử dụng mạng Internet để dạy học toán.
- Dạy học môn Toán với PTDH hiện đại trên sẽ có các ưu thế sau:
+ GV chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần.
+ Các phần mềm dạy học môn Toán có thể hỗ trợ cho GV, tăng tính năng động cho người
học, cho phép HS học theo khả năng.
+ Các PTDH hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài dạy môn Toán sinh động hơn.
+ Các PTDH sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng,
những khái niệm phức tạp của môn Toán.
1.2.4.5. Về hình thức tổ chức dạy học môn Toán
- Tổ chức giờ học toán: cần hiểu mục tiêu là để đổi mới PPDH môn Toán, tạo điều kiện tốt
nhất để HS phát huy được tính tích cực, chủ động trong tiếp thu bài giảng, huy động được mọi HS
làm việc, đánh giá được khả năng làm việc, tích cực làm việc cũng như kết quả của từng HS. Tuy
nhiên không nên máy móc, các tiết toán nào cũng đủ mọi cách tổ chức: phiếu học tập, học theo
nhóm…
- Về hình thức học tập môn Toán: cả lớp hoạt động; hoạt động theo nhóm; học theo cặp; học
cá nhân và tự nghiên cứu.
- Tạo điều kiện tốt nhất để trong giờ học toán HS không chỉ trả lời, tranh luận với GV, mà
còn được trao đổi, tranh luận với bạn học để tìm ra chân lí (không gò ép).
- Điều quan trọng là xây dựng kế hoạch bài dạy môn Toán, trong đó có hệ thống câu hỏi –
bài tập và lựa chọn cách kiểm tra, đánh giá kết quả HS nhằm kích thích tính chủ động, sáng tạo.
1.2.4.6. Về kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Toán
Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Toán là một nội dung cần thiết trong quá trình dạy
học. Kết quả học tập môn Toán của HS là cơ sở phản ánh chất lượng dạy học môn Toán của GV.
Trên những cơ sở đó quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS cần chú
ý rằng hình thức kiểm tra có thể khác nhau, song đều phụ thuộc vào các yếu tố của quá trình dạy
học môn Toán, đó là mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
môn Toán. Do đó, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Toán của HS phải đảm bảo các yêu

huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và
ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao
nhất” [24].
Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể người để tổ chức
và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [33].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục
tiêu dự kiến” [32].
“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản
lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và
đạt được mục đích của tổ chức” [13].
"Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp
tốt nhất và rẻ nhất" [16].
Từ những định nghĩa trên ta có những nhận xét sau đây:
- Quản lý chỉ nảy sinh khi có tổ chức. Tổ chức là nền của quản lý.
- Cốt lõi của quản lý là những tác động có ý thức (có mục đích, có định hướng, có nguyên
tắc) của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý. Điều đó chính xác là được xem người quản lý phải
làm gì? Về cơ bản quản lý có bốn chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
- Thông tin rất cần cho quản lý. Không có thông tin không thể tiến hành quản lý. Bởi vậy:
“Thông tin là một chức năng đặc biệt, chức năng trung tâm cùng với bốn chức năng quản lý đã nêu
trên - nó là một trong những yêu cầu cốt lõi của hoạt động quản lý” [36].

quản lý
Khách thể
quản lý

Mục tiêu

Sơ đồ 2. Sơ đồ diễn tả khái niệm quản lý
b) Khái niệm quản lý nhà trường
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình công lập, dân
lập và tư thục. Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập
theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Khái niệm quản lý
trường học đã được các nhà khoa học, nhà giáo giải thích như sau:
Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của
quản lý vĩ mô: quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có
mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm của chủ thể quản lý đến tập
thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng
cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường làm cho quá trình này vận hành tối
ưu tới việc hình thành những mục tiêu dự kiến [24].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng
trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để
tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” [18].
Hiệu trưởng (HT) là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường. Vì vậy,
quản lý nhà trường còn là sự quản lý của HT đối với toàn bộ con người, những hoạt động, những tổ
chức và những phương tiện vật chất kỹ thuật, tài chính của trường để đạt được mục tiêu giáo dục và
đào tạo HS ở từng loại hình trường.
Như vậy, quản lý nhà trường nói chung và quản lý trường THCS nói riêng thực chất là quản
lý HĐDH và giáo dục, đó chính là làm sao đưa hoạt động từ trạng thái này sang trạng thái khác để

trong dạy học môn Toán; công tác bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu, kém.
1.3.2. Chức năng quản lý của Hiệu trưởng ở trường Trung học cơ sở
Hoạt động quản lí là một chuỗi công việc kế tiếp nhau, đã được tách riêng từng việc trên cơ
sở chuyên môn hóa, đó là các chức năng quản lí. Đối với bất kì đối tượng quản lí nào, ở cấp độ quản
lí nào cũng phải thực hiện những chức năng quản lí chung. Hệ thống chức năng quản lý bao gồm: kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Các chức năng được thực hiện kế tiếp nhau thành một chu
trình khép kín. Cũng cần lưu ý, trong thực tiễn công tác quản lí, các chức năng thường lồng vào
nhau, không thể tách biệt hoàn toàn về mặt thời gian và thứ tự.
- Chức năng kế hoạch hóa bao gồm các công việc: thu thập và xử lí thông tin để tìm ra những
căn cứ của kế hoạch; xác định mục tiêu và phân hạng các ưu tiên; tìm tòi và lựa chọn các biện pháp,
các phương án thực hiện mục tiêu; soạn thảo kế hoạch, thông qua kế hoạch và truyền đạt kế hoạch
đến người thực hiện. Sau khi xây dựng xong kế hoạch thì người quản lí bắt tay vào việc tổ chức
thực hiện kế hoạch.
- Chức năng tổ chức bao gồm các phần việc: xây dựng cơ cấu bộ máy; quy định chức năng,
quyền hạn, nhiệm vụ, quan hệ của từng bộ phận; lựa chọn và phân công cán bộ sao cho công việc
thích hợp với năng lực và phẩm chất từng người; chuẩn bị để cung ứng kịp thời các điều kiện vật
chất, tài chính và tinh thần cho việc thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch; khai thác mọi tiềm lực cho
việc thực hiện thắng lợi kế hoạch…
- Chức năng chỉ đạo bao gồm các phần việc: ra lệnh cho các bộ phận, cá nhân thực hiện các
nhiệm vụ công tác; hướng dẫn cách làm; điều hòa phối hợp công tác giữa các bộ phận, các cá nhân;
kích thích tập thể và cá nhân thi đua làm tốt công việc được phân công; bồi dưỡng cán bộ, giáo
viên…
- Chức năng kiểm tra thực hiện mối liên hệ ngược trong quá trình quản lí: thu thập phân tích
đánh giá tình hình diễn biến và kết quả của các công việc; phát hiện sai lệch và sửa chữa kịp thời
nhằm đảm bảo mọi mục tiêu đều được thực hiện đầy đủ và chính xác.
- Trong chu trình quản lí, ngoài bốn chức năng trên, còn một chức năng quan trọng nữa, đó là
chức năng thông tin. Thông tin là nền tảng của quản lí. Quản lí có thông tin hai chiều: từ trên xuống,
từ dưới lên. Thông tin xen lẫn trong tất cả các chức năng khác và cũng cần cho tất cả các chức năng
đó. Thông tin là những tư liệu, số liệu đã được chọn lọc, xử lí để sử dụng cho một mục đích nhất
định. Người hiệu trưởng phải tổ chức hệ thống thông tin trong trường học sao cho thường xuyên

CBQL cần xác định các hình thức phân công dạy học môn Toán: chuyên dạy một khối lớp
trong nhiều năm hay dạy mỗi năm một khối lớp hoặc mỗi năm dạy nhiều khối lớp. Bên cạnh đó, cần
định ra chuẩn phân công dạy học môn Toán phù hợp đó là: yêu cầu của HĐDH môn Toán, năng lực
và sở trường, thâm niên nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân cũng như nguồn
đào tạo.
Quản lý việc phân công dạy học môn Toán bằng cách xây dựng qui trình phân công và biện
pháp thích hợp đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ :
+ Hiệu trưởng thống nhất với phó hiệu trưởng chuyên môn về mục đích, yêu cầu và chuẩn
phân công giảng dạy môn Toán…
+ Hiệu trưởng phổ biến mục đích yêu cầu, chuẩn, dự kiến phương hướng phân công, qui
trình phân công trong Hội đồng sư phạm. Hiệu trưởng cùng phó hiệu trưởng dự kiến trước việc
phân công căn cứ vào thực lực đội ngũ GV Toán và yêu cầu thực tế của nhà trường.
+ Thảo luận dự kiến phân công dạy học môn Toán trong Hội nghị liên tịch mở rộng của
trường, hướng dẫn tổ trưởng tổ chức thảo luận trong tổ và giải thích, thuyết phục, điều chỉnh nếu
cần thiết.
+ Hiệu trưởng ra quyết định phân công và ghi vào sổ phân công, kết hợp phân công các mặt
hoạt động khác để cân đối lao động của GV.
+ Xem xét lại để kịp thời điều chỉnh sự phân công cho hợp lý hơn trong quá trình quản lý
HĐDH môn Toán .
1.3.3.3. Quản lý việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy môn Toán
Tác giả Nguyễn Văn Lê cho rằng: “Khâu thầy giáo tự chuẩn bị cho các giờ lên lớp và các
hoạt động giáo dục là khâu quan trọng số một trong quy trình lao động sư phạm. Việc tự chuẩn bị
của GV trong khâu lao động trí óc độc lập, GV có thể tự quyết định thực hiện nó ở nhà hay ở
trường, tức là nơi có các điều kiện làm việc thuận lợi nhất. Cần rèn luyện cho GV phong cách làm
việc có hệ thống trong khâu tự chuẩn bị cho các giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục.”[26]
Để chuẩn bị cho một tiết lên lớp có chất lượng tốt, người GV cần làm tốt khâu xây dựng kế
hoạch dạy học cho cả năm học và từng học kỳ, dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ chương trình dạy học
mà Bộ GD&ĐT ấn định, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, trình độ của HS qua khảo sát chất
lượng đầu năm. Khi xây dựng kế hoạch dạy học cần tính đến các yếu tố về CSVC phục vụ dạy học
như: PTDH, mô hình học tập toán, thư viện và các điều kiện khác. Ngoài ra, GV còn xem xét khả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status