năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại việt nam kết quả điều tra năm 2013 - Pdf 25

class="bi x0 y0 w1 h1"
VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG (CIEM)
TỔNG CỤC THỐNG KÊ ( GSO)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC COPENHAGEN ( U
o
C)
NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÔNG NGHỆ
Ở CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂM 2013
THÁNG 10 - 2014

MỤC LỤC
1 Giới thiệu 8
1.1 Đo lường mức độ sáng tạo 8
1.2 Điều tra Năng lực cạnh tranh và Công nghệ Việt Nam 9
1.3 Chọn mẫu và làm sạch số liệu 10
2 Chính sách công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam 14
2.1 Ưu đãi tài chính cho đổi mới và chuyển giao công nghệ 14
2.2 Tổ chức thực hiện 15
3 Năng lực cạnh tranh và Công nghệ: Kết quả điều tra năm 2013 17
3.1 Chuyển giao công nghệ 19
3.2 Lan tỏa công nghệ theo chiều ngang 21
4 Liên kết ngược: Chuyển giao công nghệ từ khách hàng 25
5 Liên kết xuôi: Chuyển giao công nghệ từ nhà cung cấp 33
6 Hướng đi khác tới đổi mới công nghệ: Nghiên cứu, Cải tiến và Điều chỉnh 40
6.1 Cải tiến và điều chỉnh 42
6.2 Những cản trở đối với cải tiến công nghệ 44
7 Trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp 47
7.1 Đo lường trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp 47
7.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp thực hiện TNXH là gì? 51
7.3 Nghiên cứu trong tương lai 51

Bảng 1.4: Hình thức pháp lý 11
Bảng 1.5: Mã ngành ISIC cấp 2 và mô tả 12
Bảng 3.1: Trở ngại của doanh nghiệp, phân tích hồi quy 18
Bảng 3.2: Các loại tác động lan tỏa 19
Bảng 3.3: Nguồn cung cấp công nghệ chính 22
Bảng 4.1: Tình hình xuất khẩu theo đặc điểm doanh nghiệp 28
Bảng 4.2: Chuyển giao công nghệ từ khách hàng, phân tích hồi quy 31
Bảng 5.1: Các doanh nghiệp nhập khẩu đầu vào trung gian, phân tích hồi quy 36
Bảng 5.2: Chuyển giao công nghệ từ nhà cung cấp, phân tích hồi quy 38
Bảng 6.1: Nghiên cứu và phát triển, phân tích hồi quy 42
Bảng 6.2: Các yếu tố tác động tới hoạt động nghiên cứu và cải tiến, phân tích hồi quy 43
Bảng 7.1: Các chỉ số về trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp 48
Bảng 7.2: Các chỉ số về trách nhiệm xã hội theo quy mô doanh nghiệp 49
Bảng 7.3: Các chỉ số về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo hình thức sở hữu 50
Bảng 7.4: Đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo các thành tố 51

8
LỜI NÓI ĐẦU
Báo cáo tóm tắt thông tin từ cuộc Điều tra về Năng lực cạnh tranh và Công nghệ tại Việt
Nam (TCS) năm 2013 do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), Tổng cục Thống
kê (TCTK) và Nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển (DERG) thuộc Khoa Kinh tế (DoE), Trường
Đại học Copenhagen, Đan Mạch phối hợp thực hiện.
Số liệu thu thập được trong báo cáo cùng số liệu từ các vòng điều tra trước và các vòng điều
tra trong tương lai sẽ giúp các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về
thực trạng công nghệ, năng suất và lợi nhuận của khu vực kinh tế tư nhân đang lớn mạnh dần ở
Việt Nam.
Báo cáo chỉ cung cấp cho độc giả những điểm chính, đặc trưng trong bộ số liệu. Vì báo
cáo sẽ không giới thiệu toàn bộ thông tin thu thập được trong vòng khảo sát năm 2013, các nhà
nghiên cứu và độc giả quan tâm nên tham khảo bảng hỏi được sử dụng cho cuộc điều tra để nhìn
nhận một cách đầy đủ các vấn đề được đề cập đến trong bộ số liệu.

ở Việt Nam mà còn ở cả các quốc gia đang phát triển khác.
Bảng hỏi cho cuộc điều tra được phối hợp xây dựng bởi nhóm Nghiên cứu Kinh tế phát triển
(DERG) thuộc Trường Đại học Copenhagen, Tổng cục Thống kê (TCTK) và Viện Nghiên cứu
quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Với trên 100 cán bộ nghiên
cứu, CIEM là cơ quan phân tích kinh tế và đánh giá chính sách hàng đầu của Chính phủ Việt
Nam.
Nguồn kinh phí cần thiết để hoàn thành dự án này được cung cấp bởi Danida.
1.1. Đo lường mức độ sáng tạo
Sự phát triển về khả năng sáng tạo và năng lực công nghệ của một quốc gia được coi là nhân
tố trung tâm trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia đó. Khả năng áp dụng các công
nghệ mới của doanh nghiệp, đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu phát triển (R&D) và sáng tạo
trong quá trình làm việc đều được đánh giá là những yếu tố chủ chốt trong tăng trưởng kinh tế bền
vững (Fagerberg và công sự, 2010). Việc tập trung vào nghiên cứu các yếu tố này được minh chứng
từ các cuộc điều tra về chỉ số sáng tạo cấp quốc gia hay những báo cáo năng lực cạnh tranh toàn
cầu (Chi tiết tại Bảng 1.1).
Bảng 1.1: Một số tiêu chí về đổi mới sáng tạo được lựa chọn
Nguồn Tiêu chí
UNIDO: Báo cáo hiệu quả năng
lực cạnh tranh công nghiệp (2013)
Giá trị gia tăng của ngành chế tạo trên đầu người
Giá trị gia tăng ngành chế tạo công nghệ cao và trung bình
Giá trị gia tăng ngành chế tạo thế giới
Năng lực xuất khẩu (XK) sản phẩm chế tạo
Tỷ trọng XK sản phẩm chế tạo trong tổng XK
Ủy ban châu Âu: Đổi mới Khoa
học và Công nghệ châu Âu 2013
Chi cho nghiên cứu và phát triển
Cán bộ khoa học và công nghệ
Số lượng và loại hình doanh nghiệp sáng tạo
Số lượng bằng sáng chế

Thực trạng công nghệ
Nắm bắt thực trạng đầu tư và mức độ tinh vi công nghệ của
doanh nghiệp thông qua các câu hỏi về tuổi thọ, chi phí và
loại công nghệ sản xuất hiện tại.
1.1 – 3.4
Đầu vào và mối quan hệ
với nhà cung cấp
Thông tin chi tiết về địa điểm của các nhà cung cấp chính
và giá trị đầu vào đã mua, phân biệt giữa nhà cung cấp
trong nước và nước ngoài.
4.1 – 4.5
Đầu ra và mối quan hệ với
khách hàng
Thông tin chi tiết về địa điểm của các khách hàng chính và
giá trị hàng hóa bán được, phân biệt giữa khách hàng trong
nước và nước ngoài.
5.1 – 6.6
Kênh chuyển giao công
nghệ
Thông tin chi tiết về các kênh chuyển giao như là nguồn
cung cấp công nghệ cho doanh nghiệp
7.1 – 7.5
Năng lực và môi trường
kinh doanh
Quan tâm đến năng lực sáng tạo và sự tổ chức các hoạt
động thúc đẩy tiến bộ công nghệ trong doanh nghiệp
8.1 – 12.4
Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh chính, thị
phần và loại/mức độ cạnh tranh của thị trường

mô lao động: siêu nhỏ, nhỏ, vừa, lớn như Bảng 1.3 dưới đây.
Bảng1.3: Nhóm doanh nghiệp theo quy mô lao động
Nhóm quy mô Số lượng lao động
Siêu nhỏ 0 – 10
Nhỏ 10 – 50
Vừa 50 – 300
Lớn 300 hoặc hơn
Doanh nghiệp cũng được phân nhóm theo cấu trúc sở hữu vì yếu tố này bao hàm lượng lớn
thông tin về cơ cấu chi phí và động lực thúc đẩy doanh nghiệp. Bảng 1.4 dưới đây liệt kê những
hình thức pháp lý mà doanh nghiệp có thể lựa chọn theo điều tra doanh nghiệp của TCTK. Cách
phân loại này được sử dụng xuyên suốt trong các phân tích trong báo cáo.
Để mô tả số liệu theo vùng, các tỉnh được nhóm thành 8 vùng riêng biệt. Ở Việt Nam, các
hoạt động kinh tế chủ yếu tập trung tại phía Bắc và phía Nam dẫn đến sự chênh lệch trong hoạt
động kinh tế giữa các vùng. Hình 1.1 mô tả đặc điểm của các doanh nghiệp theo hình thức pháp lý,
vùng và quy mô. Chúng tôi nhận thấy phần lớn cấu trúc pháp lý của doanh nghiệp là công ty trách
nhiệm hữu hạn, chiếm 41% trong tổng số doanh nghiệp. Các hoạt động kinh tế tập trung ở Đông
12
Nam Bộ, là nơi có số lượng doanh nghiệp lớn nhất cả nước. Điều này phù hợp với địa lý kinh tế
của Việt Nam. Về quy mô doanh nghiệp, có hơn 77% số doanh nghiệp thuộc quy mô nhỏ và vừa.
Bảng1.4: Hình thức pháp lý
Loại hình DN Mô tả
Nhà nước 100% sở hữu nhà nước (NN)
Hợp tác xã Tập thể sở hữu và quản lý
Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân trong nước
Công ty TNHH Loại hình công ty có sở hữu trong nước
Cổ phần, không vốn NN Công ty đại chúng, không có sở hữu nhà nước
Cổ phần, có vốn NN Công ty đại chúng, có sở hữu nhà nước
Doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài (100%)
100% sở hữu nước ngoài

0,1%
0,01%
29%
12%
8%
7%
6%
2%
1%
40%
37%
14%
9%
cty TNHH tư nhân
DN 100% FDI
Cty CP không có vốn NN
DNTN
Cty CP có vốn NN
Hợp tác xã
Liên doanh FDI và tư nhân
Liên doanh FDI và NN
Cty TNHH có vốn NN
DNNN
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Hồng
ĐBSCL
Duyên hải Nam Trung Bộ
Đông Bắc
Bắc Trung Bộ
Tây Nguyên

36 – Đồ nội thất
37 – Ngành kim loại cơ bản
Hình1.2 cho biết sự phân bổ trong hoạt động của doanh nghiệp theo lĩnh vực. Giống như
trong điều tra TCS 2012, doanh nghiệp hoạt động trong ngành chế biến thực phẩm và đồ uống
vẫn chiếm tỷ lệ lớn nhất. Tuy nhiên, hoạt động của các doanh nghiệp trong mẫu diễn ra trên tất
cả các lĩnh vực của ngành công nghiệp.
Hình1.2: Phân phối mẫu theo lĩnh vực
18,00%
16,00%
14,00%
12,00%
10,00%
8,00%
6,00%
4,00%
2,00%
0,00%
15,49%
0,03%
Thực phẩm và đồ uống
Sản phẩm từ kim loại
Khoáng sản
Đồ nội thất
Cao su
May mặc
Đồ gỗ
Giấy
Hóa chất
Dệt may
Máy móc thiết bị

Diễn đàn Kinh tế Thế giới. Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu 2012. Geneva: Diễn đàn kinh tế
thế giới, 2012.
15
2.
CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Ở VIỆT NAM
Phần này cập nhật các chính sách nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công
nghệ ở Việt Nam từ năm 2013. Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020
ban hành kèm theo Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 cho thấy Việt Nam rất nỗ lực
phát triển khoa học và công nghệ, tạo động lực để phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Luật Chuyển giao công nghệ ban hành năm 2006 và Luật Công nghệ cao ban hành năm
2008 là những cơ sở pháp lý quan trọng chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp có vốn nước
ngoài vào Việt Nam và giữa các doanh nghiệp nói chung. Mới đây, Chương trình tìm kiếm và
chuyển giao công nghệ nước ngoài ban hành theo Quyết định 1069/QĐ-TTg ngày 4/7/2014 đã
đưa ra mục tiêu định lượng khá cụ thể, đến năm 2020 khoảng 60% công nghệ do mạng lưới
chuyên gia tìm kiếm sẽ được chuyển giao và đưa vào ứng dụng ở Việt Nam. Giải pháp để đạt
mục tiêu này là hình thành một mạng lưới chuyên gia tìm kiếm công nghệ và xây dựng danh
mục công nghệ cần tìm và chuyển giao công nghệ. Công nghệ được khuyến khích tìm kiếm và
chuyển giao ứng dụng là công nghệ nguồn, công nghệ tiến tiến, đáp ứng yêu cầu tạo ra các sản
phẩm, dịch vụ công nghệ mới.
2.1. Ưu đãi tài chính cho đổi mới và chuyển giao công nghệ
Việt Nam cũng có một hệ thống ưu đãi tài chính cho chuyển giao công nghệ (xem chi tiết
hơn trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh và Công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp năm 2012). Một số
chính sách ưu đãi mới thể hiện qua Luật Khoa học công nghệ năm 2013, trong đó quy định hỗ
trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Các dự
án của doanh nghiệp ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản
phẩm mới hoặc nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm có thể được hỗ
trợ đến 30% tổng vốn đầu tư; hỗ trợ đến 50% vốn đầu tư cho dự án thực hiện ở vùng kinh tế - xã
hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; hỗ trợ đến 50% vốn đầu tư cho dự án thực hiện nhiệm vụ khoa
học và công nghệ cấp quốc gia thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước.
Nhà nước cũng cung cấp một số lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp hoạt động trong

nghiệp theo Luật Đầu tư, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013 cho phép doanh nghiệp sử
dụng vốn tự có để đầu tư vào khoa học và công nghệ có thể được giảm tới 10% thuế thu nhập và
được khấu hao nhanh đối với trang thiết bị hình thành từ đầu tư công nghệ.
Chương trình tìm kiếm và chuyển giao công nghệ nước ngoài đến năm 2020 mới ban hành
năm 2014 còn hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp một phần chi phí xây dựng thuyết minh dự án và
một phần kinh phí thực hiện đối với dự án chuyển giao công nghệ có tính khả thi. Ngoài ra, Chương
trình này còn ưu tiên hỗ trợ một số nội dung chính của dự án chuyển giao công nghệ như huấn luyện
chuyên sâu, tham quan khảo sát, nghiên cứu công nghệ; làm vật mẫu (prototype), thử nghiệm, kiểm
tra, kiểm định chất lượng, sản xuất ở quy mô thử nghiệm tại Việt Nam; thuê chuyên gia tư vấn,
đào tạo và chuyển giao công nghệ; tổ chức hội thảo khoa học chuyên sâu liên quan đến công nghệ
chuyển giao. Nhìn chung, việc tăng thêm các chính sách mới hỗ trợ doanh nghiệp đã nói lên tính
cấp bách của việc đẩy nhanh chuyển giao và ứng dụng công nghệ ở Việt Nam.
2.2. Tổ chức thực hiện
Ở mặt bằng quốc gia, mặc dù chính sách ban hành đã khá đầy đủ, nhưng khoảng cách
thực tế và chính sách chưa có dấu hiệu thu hẹp. Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia đã bắt đầu đi
vào hoạt động, nhưng tài trợ cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp còn ít. Do đó, phần lớn
doanh nghiệp trong TCS năm 2013 vẫn đổi mới, cải tiến công nghệ dựa vào vốn tự có của họ,
tức là không có thay đổi đáng kể nào so với các năm trước.
Mặc dù vậy, chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI vào Việt Nam có thể sẽ tích cực
hơn trong các năm tới gắn với dòng vốn FDI của một số quốc gia Đông Á như Hàn Quốc và Nhật
Bản. Theo Bộ Công Thương, thông qua các chương trình hợp tác công nghiệp hỗ trợ giữa Việt
Nam - Hàn Quốc, năm 2015 Hàn Quốc có thể chuyển giao cho Việt Nam 100 công nghệ thuộc
4 lĩnh vực, bao gồm cơ khí chế tạo, dệt may - da giày, ô tô và điện - điện tử. Năm 2014 cũng ghi
nhận chuyển giao công nghệ của Nhật Bản ở ngành thủy sản như công nghệ đánh bắt cá ngừ
đại dương. Các công nghệ chuyển giao chủ yếu thông qua chương trình hợp tác ở cấp bộ và địa
phương nên các kết quả thu được mang tính thực tiễn cao, nhưng vẫn thiếu vắng sự tham gia của
các doanh nghiệp.
17
Tóm lại, tuy có những điểm mới chính sách liên quan đến đổi mới sáng tạo và chuyển
giao công nghệ, nhưng hiệu lực thực thi và kết quả thực hiện chưa có biến đổi đáng kể. Điều này

Nguồn lao
động
Hạ tầng cơ
bản
Hạ tầng
giao thông
Hạ tầng
thông tin
liên lạc
3.
NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÔNG NGHỆ: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NĂM 2013
Các doanh nghiệp thường nhận thức được những sự đổi mới, cải tiến có thể thực hiện ở
công ty của họ nhưng thường thiếu khả năng và nguồn lực để đầu tư vào những lĩnh vực cần thiết
phải đổi mới công nghệ, ví dụ như hiện đại hóa máy móc, trang thiết bị. Mặc dù vậy, để có thể
đạt được sự tăng trưởng lâu dài và bền vững, sáng tạo để tăng trưởng là thiết yếu. Đối với Việt
Nam, những lợi ích kinh tế thu được từ sau công cuộc Đổi Mới cần phải được duy trì bằng việc
cải tiến công nghệ, chứ không phải tăng trưởng nhờ các nhân tố cơ bản (vốn, lao động) hay đầu
tư, để đảm bảo tăng trưởng dẫn đến mức sống được nâng cao. Điều này đặc biệt quan trọng đối
với người nghèo ở nông thôn và thành thị. Do vậy, tìm hiểu kỹ về những khó khăn, trở ngại mà
doanh nghiệp gặp phải trong hoạt động kinh doanh là rất cần thiết và được thể hiện ở Hình 3.1.
Các trở ngại doanh nghiệp phải đối mặt trải dài từ vấn đề về tài chính, nguồn nhân lực cho
đến các vấn đề mang tính vĩ mô như sự yếu kém về cơ sở hạ tầng. Các câu trả lời được đánh giá
theo thang điểm 10 với thanh sai số thể hiện khoảng một lần độ lệch chuẩn trên và dưới điểm
trung bình của toàn doanh nghiệp trong mẫu. Vấn đề tài chính được nhấn mạnh như là trở ngại
chính mà doanh nghiệp gặp phải. Mặc dù vậy, độ rộng của khoảng một lần độ lệch chuẩn cho
thấy trở ngại về tài chính không lớn hơn nhiều so với các trở ngại về tiếp cận máy móc, thiết bị
và tìm kiếm lao động có kỹ năng phù hợp.
Hình 3.1: Các trở ngại đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Điều này hàm ý sự cần thiết phải có một cách tiếp cận đa chiều trong chính sách, hướng đến
cùng lúc loại bỏ các trở ngại tác động đến hoạt động của doanh nghiệp. Cách tiếp cận chỉ hướng

Hệ số
Sai số
chuẩn

Siêu nhỏ (1-9) 0,3 (0,9) 0,4 (0,9) 0,4 (0,9)
Vừa (50-299) 1,8*** (0,5) 2,3*** (0,5) 2,3*** (0,5)
Lớn (300+) 3,9*** (0,7) 4,2*** (0,7) 4,1*** (0,8)
DNNN TW 8,1*** (0,6) 9,0*** (2,6) 10,6*** (1,6)
Cty TNHH có vốn NN 5,7 (6,3) 5,3 (2,4) 6,2 (7,1)
Cty cổ phần, có vốn NN 4,8*** (1,3) 3.6*** (2.3) 3,8*** (1,3)
Hợp tác xã 3,4** (1,6) 1,7 (2,4) 1,8 (1,7)
DNTN 2,6*** (0,8) 1,6 (2,7) 1,8** (0,9)
Cty TNHH 3,4*** (0,7) 2,8*** (2,4) 2,9*** (0,7)
Cty cổ phần, không có vốn NN 4,1*** (0,8) 2,6*** (2,9) 2,7*** (0,8)
Cty liên doanh FDI và NN 2,6 (2,3) 1,8 (0,8) 2,0 (2,3)
Cty liên doanh FDI và tư nhân -3,5 (2,0) -3,8 (2,0) -3,7 (2,0)
Số quan sát 7.466 7.466 7.466
Biến giả vùng Không Có Có
Biến giả ngành Không Không Có
Pseudo R-squared 0,0011 0,0031 0,0037
Ước lượng Tobit, chặn trái, sai số chuẩn ở bên phải hệ số và được nhóm tại cấp độ doanh nghiệp. Biến cơ sở: DN
nhỏ, DN FDI, Vùng 7 (TP HCM), ngành chế biến thực phẩm (ISIC 15). Biến giả ngành ở cấp 2 chữ số. Hệ số của
biến cố định không được thể hiện. Sai số chuẩn ở trong ngoặc. + p<0,01, * p<0,05.
Kết quả phương trình hồi quy cho thấy, quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể. Cụ thể,
các doanh nghiệp có quy mô lớn gặp phải hạn chế nhiều hơn so với các doanh nghiệp có quy mô
nhỏ/vừa. Với việc các doanh nghiệp có quy mô lớn sử dụng đến 73% số lao động, các chính sách
nên hướng tới giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp này, vì tầm quan trọng của họ tới cung
cấp việc làm cho nền kinh tế. Hình thức pháp lý của doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn. Các
công ty TNHH không có vốn nhà nước, công ty cổ phần có và không có vốn nhà nước và doanh
20

chuyển giao từ khách hàng.
Theo chiều ngang
Doanh nghiệp ở Việt Nam là đối thủ cạnh tranh. Công nghệ được
chuyển giao từ doanh nghiệp nước ngoài/doanh nghiệp sở hữu
nước ngoài tại Việt Nam tới doanh nghiệp ở Việt Nam.
Mặc dù vậy, bằng chứng cho việc năng suất được nâng cao nhờ tác động lan tỏa trong công
nghệ không thực sự rõ ràng. Nghiên cứu được thực hiện bởi Gorodnichenko và cộng sự (2007)
để trả lời câu hỏi: liệu FDI có dẫn tới nâng cao năng suất cho các doanh nghiệp trong nước ở 17
nền kinh tế mới nổi hay không. Họ nhận thấy kết quả khác biệt đối với các vùng và ngành khác
nhau. Ngoài ra, kết quả thu được cũng khác nhau đối với từng loại tác động lan tỏa. Lan tỏa nhờ
liên kết ngược thu được kết quả tích cực trong mẫu, ngược lại các lợi ích thu được từ lan tỏa theo
chiều ngang rất hạn chế. Đối với Việt Nam, Anwar &Nguyen (2013) trong nghiên cứu về năng
suất của FDI cũng đã nhận thấy sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực. Họ nhận thấy tác động tích
cực của liên kết ngược ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam
Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long trong khi tác động là tiêu cực hoặc không có ảnh hưởng rõ rệt
21
ở các khu vực còn lại. Newman và cộng sự (2014) trong một nghiên cứu sâu sử dụng điều tra này
từ năm 2010 đến 2012 cũng đã khám phá ra mối quan hệ giữa FDI và năng suất của doanh nghiệp
trong nước Việt Nam. Họ tìm thấy bằng chứng về việc lan tỏa từ FDI làm tăng năng suất thông qua
liên kết dọc trong chuỗi cung ứng. Cụ thể là thông qua liên kết giữa nhà cung cấp là doanh nghiệp
FDI tới doanh nghiệp sử dụng đầu vào trong nước. Họ cho rằng một phần tác động lan tỏa này do
chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI cho doanh nghiệp nội địa.
Để nghiên cứu lợi ích từ nguồn đầu tư nước ngoài mang đến cho doanh nghiệp trong nước,
trong phiếu điều tra đã hỏi doanh nghiệp về tầm quan trọng và sự phổ biến của tác động lan tỏa
ở Việt Nam. Doanh nghiệp được yêu cầu xếp hạng các cơ chế chuyển giao công nghệ trên thang
điểm 10. Các kênh chuyển giao bao gồm “công nghệ kèm theo thiết bị”, là cách cải tiến sản xuất
thông qua mua máy móc, thiết bị; “mua công nghệ” là việc doanh nghiệp mua công nghệ ví dụ
như mua giấy phép cho quy trình sản xuất mới, “nhóm công ty” là khi công nghệ được chuyển
giao giữa các doanh nghiệp, thực thể trong nhóm; “nhà cung cấp/khách hàng” là khi nhà cung
cấp và khách hàng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp, cuối cùng “lao động mới” là việc

Số quan sát = 7.930
4,2
3,88
3,36
3,45
2,88
22
Hình 3.3: Đánh giá kênh chuyển giao theo hình thức pháp lý
3.2. Lan tỏa công nghệ theo chiều ngang
Tác động lan tỏa theo chiều ngang đề cập đến việc nâng cao năng suất và hiệu quả một cách
gián tiếp từ doanh nghiệp nước ngoài cho các doanh nghiệp cạnh tranh ở địa phương. Tác động
lan tỏa này bao gồm chuyển giao các kỹ thuật sản xuất, marketing, hoạt động quản lý và chuyển
giao tri thức hiện thân trong hàng hóa được sản xuất bởi các doanh nghiệp cùng ngành hoặc ở
các ngành có liên quan. Theo Gorodnichenko và cộng sự (2013), doanh nghiệp trong nước có thể
bắt chước các quy trình sản xuất hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của họ thông qua
quan sát các doanh nghiệp nước ngoài. Họ cũng có thể phát hiện ra quy trình, phương pháp mới
thông qua tiếp xúc với các nhà quản lý nước ngoài và sử dụng chúng trong doanh nghiệp mình.
Người lao động được đào tạo bởi các doanh nghiệp nước ngoài có công nghệ cao cũng mang lại
lợi ích cho doanh nghiệp trong nước do thông qua việc thuê lại các người lao động này, các kiến
thức của họ có thể được giới thiệu và áp dụng cho doanh nghiệp trong nước.
Đối với Việt Nam, Nguyễn và cộng sự (2008) nhận thấy có sự hạn chế trong lan tỏa theo
cách chuyển dịch lao động nhưng lại có bằng chứng rất rõ ràng về ảnh hưởng từ đối thủ cạnh
tranh khi nhìn trực tiếp vào tầm quan trọng của FDI đối với hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp
trong nước. Theo đó, các doanh nghiệp trong nước đã tiến hành sao chép các công nghệ của
doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, các kết quả gần đây cho thấy lan tỏa theo chiều ngang
không xuất hiện ở các doanh nghiệp chế biến của Việt Nam. Kết quả của Newman và cộng sự
(2014) khá phù hợp với phần lớn các lý thuyết quốc tế về chủ đề này, khi rất ít bằng chứng được
tìm thấy trong trường hợp lan tỏa theo chiều ngang. Nguyên nhân do các doanh nghiệp nước
ngoài cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp trong nước và do vậy họ có nhiều động lực để
ngăn chặn việc rò rỉ các lợi thế về công nghệ cho đối thủ cạnh tranh.

FDI
(100%)
Liên
doanh
FDI&TN
Liên
doanh
FDI&NN
CN kèm theo thiết bị
Mua CN
Từ nhóm công ty
Từ nhà cung cấp
Lao động mới
Số quan sát = 7.398
23
Bảng 3.3: Nguồn cung cấp công nghệ chính
Nguồn Tổng %
Doanh nghiệp Việt Nam, cùng ngành 857 10,87
Doanh nghiệp Việt Nam, khác ngành 4.355 55,26
Doanh nghiệp nước ngoài, cùng ngành 1.270 16,12
Doanh nghiệp nước ngoài, khác ngành 1.399 17,75
Tổng 7.881 100%
Rõ ràng, phần lớn sự chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước đến từ doanh
nghiệp trong nước khác (khoảng 66%). Điều này hàm ý chuyển giao công nghệ được thực hiện
chủ yếu giữa các doanh nghiệp nội địa. Một lập luận quan trọng ủng hộ việc thu hút doanh nghiệp
nước ngoài đến các nước thu nhập thấp và thu nhập thấp-trung bình là công nghệ của các doanh
nghiệp này thường tiên tiến hơn các doanh nghiệp trong nước khác, do vậy có khả năng năng
suất được nâng cao thông qua chuyển giao và lan tỏa. Ở Việt Nam, việc học hỏi các doanh nghiệp
nước ngoài với mức độ hạn chế như trên ít có khả năng là do chất lượng công nghệ của các doanh
nghiệp trong nước ngang bằng với doanh nghiệp nước ngoài. Số liệu của chúng tôi không đủ để

ngành có sự cạnh tranh đặc biệt. Doanh nghiệp trong 9 ngành cho biết có trung bình hơn 15 đối
thủ cạnh tranh và doanh nghiệp trong 4 ngành cho biết có trung bình hơn 20 đối thủ. Điều này
phù hợp với mức độ cạnh tranh quan sát được ở những vòng điều tra trước. Tuy nhiên phần lớn
sự cạnh tranh này xảy ra trong nội bộ địa phương. Phần lớn các doanh nghiệp tiếp tục cạnh tranh
ở những thị trường địa phương và rất hạn chế cạnh tranh ở mức độ quốc gia và quốc tế. Đây có
thể là hậu quả của những trở ngại doanh nghiệp gặp phải như cơ sở hạ tầng kém phát triển và
là dấu hiệu của một vấn đề quốc tế hóa lớn hơn. Mức độ hạn chế của hoạt động xuất khẩu của
doanh nghiệp cũng rất rõ ràng.
Điều này chỉ ra Việt Nam nên tập trung vào việc mở rộng thị trường các doanh nghiệp trong
nước ra các thị trường ngoài địa phương. Đó có thể là bước đệm quan trọng để tiến tới cạnh tranh
quốc tế. Với việc hoạt động thành công trên một số thị trường ngoài địa phương, doanh nghiệp
sẽ có khả năng thành công lớn hơn khi tham gia cạnh tranh ở thị trường quốc tế, để tối đa hóa lợi
nhuận dẫn đến năng suất và đổi mới gắn chặt với xuất khẩu (Damijan và cộng sự, 2008).
Hình 3.4: Số lượng đối thủ cạnh tranh trung bình theo lĩnh vực
Nhìn chung, nguồn chuyển giao công nghệ chính ở Việt Nam là giữa các doanh nghiệp trong
nước. Điều đó cho thấy FDI có thể không cần thiết trong quá trình các doanh nghiệp học hỏi
lẫn nhau. Mặc dù vậy, phân tích của chúng tôi không đề cập đến tác động của sự tương tác giữa
các doanh nghiệp trong nước đến hiệu quả hoạt động. Đây là vấn đề đáng để nghiên cứu trong
tương lai. Điểm đáng chú ý đặc biệt chính là việc thiếu những học hỏi giữa doanh nghiệp nước
ngoài và doanh nghiệp trong nước. Do đó, nên có những chính sách nhằm thúc đẩy mối liên kết
giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trong cùng ngành để tác động lan tỏa xuất hiện.
Hơn nữa, mặc dù xuất khẩu là nhân tố rất quan trọng đối với hoạt động, sự tồn tại và cải tiến của
doanh nghiệp, chúng tôi cho rằng trong trường hợp của Việt Nam, bước cần thiết đầu tiên là mở
rộng thị trường doanh nghiệp trong nước ra các thị trường ngoài địa phương. Đây là mục tiêu
ngắn hạn có thể đạt được và sẽ giúp các doanh nghiệp trang bị tốt hơn để gia nhập và tồn tại ở
thị trường xuất khẩu trong dài hạn.
60
50
40
30


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status