Bài soạn ôn thi tốt nghiệp môn quản lý nhà nước về kinh tế - Pdf 25

Bài soạn ôn thi tốt nghiệp
môn quản lý nhà nước về kinh tế
Chương I
Câu 1: Mô tả đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Nêu ví dụ về những nhược
điểm của kinh tế thị trường ở Việt Nam. Nhà nước ta cần tập trung giải quyết những
vấn đề gì để khắc phục nhược điểm của kinh tế thị trường?
I. Kinh tế thị trường là là một mô hình kinh tế vận động, phát triển, dựa trên cơ sở
các quy luật của thị trường, trong đó quan hệ hàng hoá - tiền tệ trở thành phổ biến và bao
quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành khách quan của nền kinh tế, ở
đó các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường phát huy tác dụng, trước hết, là quy
luật giá trị, quy luật này đòi hỏi việc sản xuất hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã
hội cần thiết và trao đổi phải bình đẳng, ngang giá. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh
phải tuân thủ quy luật này mới có thể tồn tại và phát triển. Thứ hai là quy luật cung cầu,
quy luật này biểu hiện quan hệ giữa cung và cầu thông qua giá cả, nó tác động trực tiếp đến
giá cả và phương thức sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Thứ ba là quy luật cạnh tranh, quy
luật này đòi hỏi hàng hoá sản xuất ra phải có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn, thái độ
phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh so với các hàng hoá khác cùng
loại.

Một nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường phải có 6 đặc trưng chủ yếu sau:
1. Thứ nhất, là quá trình lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ thống
các khâu của quá trình sản xuất và từ sản xuất đến tiêu dùng đều được thực hiện chủ yếu
bằng phương thức mua - bán. Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do có
sự phân công chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, bên cạnh đó,
còn do có sự dư thừa sản phẩm ở doanh nghiệp này, ngành này nhưng lại thiếu sản phẩm ở
doanh nghiệp khác, ngành khác và ngược lại. Một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế thị
trường khi tổng lượng mua bán vượt quá nữa tổng lượng vật chất của xã hội.
2. Thứ hai, người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao
đổi trên thị trường, được thể hiện trên 3 mặt sau: tự do lựa chọn nội dung trao đổi, tự do
lựa chọn đối tác trao đổi và tự do thoả thuận giá cả trao đổi theo cách thuận mua vừa bán.

+ Năng động và thích ứng cao với đòi hỏi của thị trường, đáp ứng được các nhu cầu
có thể thanh toán được của xã hội một cách tự động mà không một bộ máy hoạch định nào
có thể thay thế được;
+ Huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội;
+ Tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả
cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém;
+ Phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh
tế trong nước và quốc tế;
+ Buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm
trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên qui mô lớn;
+ Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ - kỹ thuật
làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao.
2. Nhược điểm của nền kinh tế thị trường: (5)

Nền kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu điểm nhưng nó không phải luôn hoàn hảo, mà
bản thân nó chứa đầy những mặt trái, những nhược điểm rất cơ bản. Và cũng chính vì
những khuyết tật này mà nó làm cho kinh tế thị trường chứa đựng cả những yếu tố đi
ngược chiều với mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới. Những khuyết tật, mặt trái của kinh
tế thị trường được thể hiện ở các nội dung sau:
+ Động cơ lợi nhuận dễ đẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật như kinh doanh lừa
đảo, làm hàng giả; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá, huỷ hoại 1 cách
nghiêm trọng và lan rông; tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội, thương mại hoá các giá trị đạo
đức và đời sống tinh thần;
+ Kinh tế thị trường tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, dẫn đến
phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng.
+ Do theo đuổi lợi ích cá nhân tối đa, nên lợi ích chung của xã hội không được
chăm lo, nhiều trường hợp các nhà kinh doanh có thể đưa vào sản xuất những sản phẩm
đem lại tác hại cho xã hội và nhân loại như hàng giả, thuốc tây giả, ma tuý, văn hoá phẩm
đồi truỵ ; để khắc phục tình trạng này cần phải có sự can thiệp tích cực của nhà nước.
+ Sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường dẫn đến độc quyền, do vậy sẽ hạn chế

phải tuân thủ quy luật này mới có thể tồn tại và phát triển. Thứ hai là quy luật cung cầu,
quy luật này biểu hiện quan hệ giữa cung và cầu thông qua giá cả, nó tác động trực tiếp đến
giá cả và phương thức sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Thứ ba là quy luật cạnh tranh, quy
luật này đòi hỏi hàng hoá sản xuất ra phải có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn, thái độ
phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh so với các hàng hoá khác cùng
loại.

Một nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường phải có 6 đặc trưng chủ yếu sau:
'
1. Thứ nhất, là quá trình lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ thống
các khâu của quá trình sản xuất và từ sản xuất đến tiêu dùng đều được thực hiện chủ yếu
bằng phương thức mua - bán. Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do có
sự phân công chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, bên cạnh đó,
còn do có sự dư thừa sản phẩm ở doanh nghiệp này, ngành này nhưng lại thiếu sản phẩm ở
doanh nghiệp khác, ngành khác và ngược lại. Một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế thị
trường khi tổng lượng mua bán vượt quá nữa tổng lượng vật chất của xã hội.
2. Thứ hai, người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao
đổi trên thị trường, được thể hiện trên 3 mặt sau: tự do lựa chọn nội dung trao đổi, tự do
lựa chọn đối tác trao đổi và tự do thoả thuận giá cả trao đổi theo cách thuận mua vừa bán.
3. Thứ ba, hoạt động mua bán được diễn ra 1 cách thường xuyên, ổn định trên cơ sở
1 kết cấu hạ tầng tối thiểu đủ để việc mua bán diễn ra thuận lợi, an toàn.
- 3 -
4. Thứ tư, các đối tác tham gia trong nền kinh tế thị trường đều theo đuổi lợi ích của
mình, đó chính là lợi nhuận, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế
nhưng không được xâm phạm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác và của cộng đồng.
5. Thứ năm, kinh tế thị trường luôn gắn với cạnh tranh, hay nói cách khác, cạnh tranh
là linh hồn của nền kinh tế thị trường, đó là động lực thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và xã hội,
nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có lợi cho người tiêu dùng.
6. Thứ sáu, sự vận động của các quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường
(quy luật giá trị, qui luật cạnh tranh, qui luật cung-cầu ) dẫn dắt hành vi, thái độ ứng xử

quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối
chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng
với các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
+ Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết
nền kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Từ những quan điểm trên, chúng ta thấy rằng giải phóng mạnh mẽ và không ngừng
phát triển sức sản xuất là cơ sở để nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân
(hiện nay là 725 USD/đầu người/năm phấn đấu đến năm 2010 là 1.000 USD/đầu
người/năm) và giảm khoảng cách giàu nghèo, rút ngắn mức độ phân hoá giàu nghèo,
- 4 -
đồng thời là điều kiện để thúc đẩy kinh tế phát triển, với tốc độ tăng trưởng (GDP) bền
vững, có cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối với nguồn lực đất nước. Bên cạnh phát triển kinh
tế, phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát huy dân chủ, tạo môi trường tự do kinh
doanh theo pháp luật và trong khuôn khổ của pháp luật, đảm bảo sự bình đẳng giữa các
chủ thể tham gia trên lĩnh vực kinh tế.
Đảng ta khẳng định quan điểm phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (bao gồm cá thể, tiểu
chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) và nhiều
loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh. Về cơ chế quản lý, chịu sự điều tiết song hành của
các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường và chịu sự quản lý ở tầm
vĩ mô của nhà nước. Về hình thức phân phối, thực hiện phân phối theo lao động (người
lao động được thụ hưởng tương xứng với công sức đóng góp của mình), phân phối theo tỷ
lệ tài sản và vốn góp, phân phối thông qua quỹ phúc lợi xã hội.
Phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế đạt trình độ hiện đại, phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đây là tất yếu của mọi quốc gia khi tham gia kinh tế thị trường.
Ngay trong bản thân mỗi đơn vị, doanh nghiệp phải thực hiện tổ chức sản xuất 1 cách tiên
tiến theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá, liên hợp hoá và bằng việc không ngừng
nâng cao trình độ khoa học - công nghệ sản xuất theo hướng cơ khí hóa, điện khí hóa ,
đồng thời phải thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng cho từng loại thị trường. Hình thành
và phát triển 1 số ngành mũi nhọn, trọng điểm, có tính chất then chốt để tạo ra sự cạnh

thành phần kinh tế trong xã hội, nhà nước chỉ thực hiện quản lý ở tầm vĩ mô.
- 5 -
Câu 3: Ưu nhược điểm của nền kinh tế thị trường. Nhà nước cần tập trung giải
quyết những vấn đề gì?
I. Những ưu điểm, nhược điểm của nền kinh tế thị trường:
1. Ưu điểm của nền kinh tế thị trường, đó là: (6)
+ Năng động và thích ứng cao với đòi hỏi của thị trường, đáp ứng được các nhu cầu
có thể thanh toán được của xã hội một cách tự động mà không một bộ máy hoạch định nào
có thể thay thế được.
+ Huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội.
+ Tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả
cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém.
+ Phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh
tế trong nước và quốc tế.
+ Buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm
trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên qui mô lớn.
+ Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ - kỹ thuật
làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao.
2. Nhược điểm của nền kinh tế thị trường: (5)
Nền kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu điểm nhưng nó không phải luôn hoàn hảo, mà
bản thân nó chứa đầy những mặt trái, những nhược điểm rất cơ bản. Và cũng chính vì
những khuyết tật này mà nó làm cho kinh tế thị trường chứa đựng cả những yếu tố đi
ngược chiều với mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới. Những khuyết tật, mặt trái của kinh
tế thị trường được thể hiện ở các nội dung sau:
+ Động cơ lợi nhuận dễ đẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật như kinh doanh lừa
đảo, làm hàng giả; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá, huỷ hoại 1 cách
nghiêm trọng và lan rông; tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội, thương mại hoá các giá trị đạo
đức và đời sống tinh thần;
+ Kinh tế thị trường tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, dẫn đến
phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng.

hướng XHCN.
I. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế:
Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế bởi các lý do sau:
+ Tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước.
Nhà nước là sản phẩm của xã hội có phân chia và đối kháng giai cấp, nó được giai
cấp thống trị về kinh tế sinh ra để bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp thống trị đó. Nói
cách khác, nhà nước có sứ mạng và nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị về kinh
tế.
Tính giai cấp trong kinh tế thể hiện ở vị thế của giai cấp đó đối với tư liệu sản
xuất, vị thế trong quản lý sản xuất, cơ sở vật chất, vị thế trong phân chia lợi ích kinh
tế. Theo đó, trong nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người làm
công, không có tư liệu sản xuất, ở vị trí bị quản lý và bị bóc lột; và giai cấp tư sản, những
chủ sở hữu về tư liệu sản xuất, quản lý, phân phối lợi nhuận và bóc lột. Vậy giai cấp chỉ
hình thành trong kinh tế và cuộc đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giành 3 vị thế trong
kinh tế.
Kết hợp 2 mặt vấn đề, ta thấy trong kinh tế có đấu tranh giai cấp, nhà nước là 1
công cụ của giai cấp. Nhà nước không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh giai cấp mà phải
tham gia vào mới thể hiện hết vai trò công cụ của mình.
+ Tính mâu thuẫn gay gắt về lợi ích trong lĩnh vực kinh tế:
Trong nền kinh tế thị trường chứa đựng những mâu thuẫn cơ bản, đó là những mâu
thuẫn giữa các doanh nhân với nhau, mâu thuẫn giữa chủ với thợ trong các doanh
nghiệp có bóc lột lao động và mâu thuẫn giữa giới sản xuất kinh doanh với toàn thể
cộng đồng. Những mâu thuẫn cơ bản này có tính phổ biến, thường xuyên vì nó động
chạm đến tất cả mọi người không trừ một ai, vì khi tham gia vào kinh doanh, từ doanh
nhân đến người lao động, người tiêu dùng đều có va chạm với nhau về kinh tế. Hơn nữa
những mâu thuẫn đó còn mang tính căn bản, vì là mâu thuẫn sinh tồn liên quan đến sự
sống chết của con người.
Do tính chất của mâu thuẫn như trên việc hoà giải các mâu thuẫn này phải do nhà
nước chứ không ai khác, và phải giải quyết triệt để, nếu không sẽ có tác dụng ngược lại,
chỉ có nhà nước mới làm được điều đó vì nhà nước có sức mạnh, có những quyền lực

nước mới là người bảo vệ tốt nhất. Hơn nữa môi trường an toàn là môi trường không có
chiến tranh, không có tội phạm hình sự, ngăn ngừa được thiên tai hay dự báo để phòng
tránh thiên tai. Sự an toàn này trừ nhà nước không ai tạo ra được cho doanh nhân.
+ Sự có mặt của kinh tế nhà nước trong kinh tế quốc dân, đây là lý do trực tiếp
nhất khiến nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế nhà nước bao gồm tài nguyên quốc gia, dự trữ quốc gia về tiền, vàng bạc, đá
quý và vật tư, kết cấu hạ tầng, toàn bộ vốn nằm trong các doanh nghiệp. Nhà nước cần có
kinh tế riêng của mình để thực hiện kích thích hay cưỡng chế kinh tế, nhà nước cần có
lực lượng kinh tế làm công cụ quản lý xã hội khi các công cụ khác tỏ ra bất cập trong 1
số trường hợp nhất định. Nhà nước cần có lực lượng kinh tế riêng, cụ thể là các doanh
nghiệp nhà nước để sản xuất và cung ứng những hàng hóa, dịch vụ mà khu vực tư
nhân không làm được. Hơn nữa nhà nước cần có thực lực kinh tế để thực hiện chính
sách xã hội.
Kinh tế nhà nước là những vật cụ thể phải cần có con người cụ thể đứng ra quản lý,
vì nhà nước là 1 phạm trù trừu tượng. Mà khi giao cho những nhóm người cụ thể quản lý
sẽ dẫn đến 2 nguy cơ là: công sản có thể bị lợi dụng để mưu lợi tư, bị tham ô lãng phí,
người được nhà nước ủy thác quản lý có thể không đủ khả năng làm cho đơn vị của mình
thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước đặt ra cho kinh tế nhà nước.
Xuất phát từ những lý do đó mà nhà nước phải quản lý đối với kinh tế.
II. Chứng minh vai trò của nhà nước ngày càng quan trọng trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
- 8 -
Hiện nay, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một quá trình khách
quan, hợp quy luật và là một nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới ở nước ta. Đây là
một quá trình khó khăn và phức tạp vì phải đổi mới cả cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý,
tổ chức bộ máy quản lý và con người, đổi mới tư duy, phong cách, và lối sống cũ đã
ăn sâu vào từng con người. Do đó, đổi mới thành công hay không lại phụ thuộc vào sự
lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước. Như vậy, trong quá trình chuyển đổi sang
cơ chế thị trường cũng như khi cơ chế thị trường đã được xây dựng đồng bộ, vai trò quản

nội bộ nền kinh tế quốc dân, quan hệ phân công hợp tác theo lãnh thổ nội bộ quốc
gia. Để điều chỉnh các quan hệ này, nhà nước phải định hướng phát triển chung cho toàn
xã hội thông qua công tác xây dựng đường lối, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội, qui định thiết kế chất lượng sản phẩm và dịch vụ, định hướng cụ thể
cho các doanh nhân trong việc phát triển sự nghiệp sản xuất kinh doanh của họ. Mục tiêu
điều chỉnh của nhà nước là hiệu quả tối đa. Trong chức năng này nhà nước xuất phát từ lợi
ích của tất cả mọi doanh nhân, của toàn xã hội.
+ Điều chỉnh các hành vi phân chia lợi ích.
Trong lĩnh vực kinh tế có các quan hệ lợi ích, đó là: quan hệ trao đổi hàng hóa. Nhà
nước điều chỉnh quan hệ này nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên tham gia quan
hệ; quan hệ phân chia lợi ích trong các công ty; quan hệ tiền công, tiền lương, nhà nước
điều chỉnh quan hệ này nhằm giữ cho quan hệ được thực hiện công bằng, văn minh, hợp
- 9 -
lý, hợp tình, bảo vệ quyền lợi chính trị của Đảng cầm quyền; quan hệ đối với công
quỹ quốc gia.
Để thực hiện chức năng điều chỉnh các hành vi phân chia lợi ích, Nhà nước cần phải
xây dựng thể chế kinh doanh, trao đổi hàng hoá để can thiệp vào các quan hệ trao đổi hàng
hoá của doanh nhân, xây dựng chế độ tiền công, tiền lương, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã
hội để can thiệp vào các quan hệ thù lao cho người lao động, xây dựng chế độ đóng góp
của công dân vào công quỹ quốc gia như các thể chế về thuế, phí, lệ phí và các loại đóng
góp có tính chất nghĩa vụ khác.
3. Hỗ trợ doanh nhân lập thân, lập nghiệp trên lĩnh vực kinh tế:
Nhà nước là nhân tố không thể thiếu được đối với mọi công dân làm kinh tế, nhà
nước thực hiện chức năng này có ý nghĩa lớn cho sự củng cố nhà nước, tạo nên sự tin
tưởng và biết ơn nhà nước trong lòng dân.
Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nhân trên các mặt như hỗ trợ công dân ý chí làm giàu;
hỗ trợ về tri thức cho công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế; hỗ trợ về phương tiện sản
xuất kinh doanh và hỗ trợ doanh nhân về môi trường kinh doanh.
Để hỗ trợ công dân về những mặt trên, Nhà nước phải tiến hành các hoạt động quản
lý sau:

của nhà nước vững vàng hơn - phương thức gián tiếp sẽ chiếm ưu thế).
- 10 -
5.Bảo vệ công sản và khai thác công sản như 1 công cụ quản lý:
Công sản là tài sản công, nhà nước là người quản lý và sử dụng, tuy nhiên nhà nước
không trực tiếp mà giao ủy quyền trực tiếp quản lý và sử dụng. Nhà nước thực hiện chức
năng này nhằm bảo vệ công sản đồng thời khai thác nguồn tài sản công.
Khi giao quyền về quản lý trực tiếp và sử dụng chính người được giao quyền này có
thể tham ô, lãng phí đồng thời có các nguy cơ tổn thất tự nhiên. Do vậy công sản cần được
bảo vệ. Bên cạnh đó, nhà nước phải là người sử dụng công sản với tính chất như là 1 công
cụ quản lý, phải làm cho kinh tế nhà nước thực sự là vũ khí lợi hại của nhà nước trong
quản lý nhà nước về kinh tế nói riêng, quản lý xã hội nói chung.
II. Những hạn chế trong công tác quản lý kinh tế của nhà nước, của các cơ quan
quản lý kinh tế của nhà nước.
Từ khi đổi mới đến nay, với chức năng của mình, nhà nước đã kịp thời ban hành và
từng bước đưa vào cuộc sống một hệ thống luật pháp khá đầy đủ theo hướng đổi mới, tạo
khuôn khổ pháp lý cơ bản cho nền kinh tế vận hành và phát triển với tốc độ cao trong một
thời gian dài. Huy động được nguồn lực tài chính khá lớn để chủ động đầu tư phát triển các
lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ bản; chuyển đổi cách thức định hướng, hướng dẫn từ kiểu trực
tiếp trước đây sang kiểu gián tiếp: Nhà nước chủ yếu quản lý kinh tế vĩ mô, tăng cường sử
dụng các chính sách kinh tế như tài chính, tiền tệ. Thực hiẹn tốt việc điều tiết, đảm bảo các
tiêu chí công bằng xã hội trong điều kiện, trình độ phát triển kinh tế còn thấp. Bước đầu
làm quen và từng bước đổi mới phương pháp kiểm tra, kiểm soát phù hợp với điều kiện thị
trường.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình đổi mới, quản lý nhà
nước về kinh tế còn nhiều mặt hạn chế và yếu kém:
+ Thứ nhất, quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới, chưa
phát huy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực của kinh tế thị trường.
+ Thứ hai, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách chưa đồng bộ và nhất quán, thực
hiện chưa nghiêm.
+ Thứ ba,, quản lý các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hoá, thương

bố.
+ Thực hiện các chính sách quốc gia trong phát triển nguồn nhân lực, nhiên liệu, trí
tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn ngành.
+ Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, pháp qui, thể chế kinh tế theo
chuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành hệ
thống văn bản pháp luật quản lý ngành.
2. Quản lý nhà nước theo lãnh thổ.
a. Trong quản lý nhà nước theo lãnh thổ thì lãnh thổ kinh tế được hiểu như sau:
+ Lãnh thổ kinh tế là lãnh thổ chứa đựng 1 nhóm các đơn vị kinh tế có quan hệ với
nhau về 1 hay một số mặt nào đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Lãnh thổ kinh tế có nhiều cấp, do các đơn vị kinh tế có nhiều mối quan hệ mà mỗi
loại quan hệ lại có tầm quan hệ riêng, rộng hẹp khác nhau. Không có đơn vị công nghiệp
nào của riêng 1 cấp, do riêng 1 cấp quản lý. Mọi đơn vị kinh tế đều bị mọi cấp đồng thời
quản lý nhưng chỉ về 1 vài mặt nhất định nào đó mà thôi.
+ Lãnh thổ kinh tế đồng nhất với lãnh thổ hành chính, tuy trên thực tế không thể
trùng khớp được. Lãnh thổ hành chính lấy dân cư làm chuẩn phân định, có kết hợp với địa
hình, địa vật, hệ thống kinh tế, nhưng lãnh thổ kinh tế có căn cứ khách quan riêng của nó.
Tuy vậy 2 lãnh thổ này không thể tách rời nhau, hơn nữa lãnh thổ kinh tế phải phục vụ
lãnh thổ hành chính xuất phát từ con người là trung tâm.
+ Quản lý nhà nước về kinh tế theo lãnh thổ đồng thời là quản lý nhà nước theo địa
bàn hành chính, đơn vị hành chính lãnh thổ.
b. Các đơn vị kinh tế phải được nhà nước quản lý theo lãnh thổ vì:
+ Trước hết, chúng cần thống nhất hành động khi cùng phục vụ cộng đồng dân cư
theo lãnh thổ sao cho tổng cung và cơ cấu cung phù hợp với tổng cầu và cơ cấu cầu trên
mỗi địa bàn, lãnh thổ. Thông thường, các đơn vị kinh tế đều có 1 địa bàn tiêu thụ sản phẩm
của mình, có 1 cộng động dân cư là khách hàng. Và ngược lại, mỗi cộng đồng dân cư theo
lãnh thổ thường có 1 số đơn vị kinh tế nhằm vào mình để phục vụ. Ngoài các đơn vị kinh
tế còn có các đơn vị giáo dục, y tế, văn hóa Sự cung ứng của các loại hàng hóa, dịch vụ
của các đơn vị kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế trên địa bàn phải cân đối với nhau. Sự cân
đối này tùy thuộc vào phong tục tập quán và quỹ thu nhập, quỹ tiêu dùng, sức mua và khả

quả sẽ trở nên nghiêm trọng hơn.
b. Sự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện
như sau:
+ Thực hiện quản lý đồng thời theo cả 2 chiều: Theo ngành và theo lãnh thổ.
+ Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo
lãnh thổ không trùng, không sót.
+ Các cơ quan quản lý nhà nước mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý
theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản, hiệp quản, tham quản với cơ quan thuộc
chiều kia theo qui định cụ thể của nhà nước.
* Ví dụ minh hoạ:
Câu 7: Nêu khái niệm quản lý theo ngành.
Câu 8: Các phương pháp quản lý kinh tế. Trình bày phương pháp kích thích
kinh tế trong quản lý. Cho ví dụ minh hoạ.
I. Các phương pháp quản lý kinh tế:
Phương pháp quản lý kinh tế là tổng thể các cách thức và biện pháp quản lý có mối
quan hệ hữu cơ với nhau. Trong hoạt động quản lý kinh tế nhà nước có thể và cần phải
thực hiện đồng thời 3 phương pháp chủ yếu, đó là:
+ Phương pháp cưỡng chế.
+ Phương pháp kích thích kinh tế.
+ Phương pháp thuyết phục, giáo dục.
II. Phương pháp kích thích kinh tế.
1. Phương pháp kinh tế là cách tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích
kinh tế để cho đối tượng quản lý lựa chọn phương án hoạt động sản xuát kinh doanh có
hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.
2. Đặc điểm của phương pháp kinh tế là tác động, điều chỉnh hành vi của chủ thể
kinh tế không phải bằng cưỡng chế, mệnh lệnh hành chính mà bằng lợi ích. Có nghĩa là
- 13 -
dùng cái lợi (lợi nhuận) mà các doanh nghiệp, doanh nhân ham muốn làm động lực để
hướng hành vi của họ đi theo mục đích mong muốn của nhà nước.
3. Nhà nước sử dụng các công cụ kích thích kinh tế:

+ Phải thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng
quyền hạn cho cấp dưới.
+ Đòi hỏi cán bộ quản lý phải có 1 trình độ và năng lực về nhiều mặt.
* Ví dụ minh hoạ:
Câu 9: Hệ thống công cụ quản lý kinh tế. Có thể sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các
công cụ đó như thế nào? Ví dụ thực tế để phân tích cơ chế tác động của 1 công cụ vào
hoạt động của nền kinh tế mà anh (chị) nắm vững.
I. Hệ thống công cụ quản lý kinh tế:
1. Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý sử dụng
để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra.
2. Công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện mà nhà
nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước nhằm đạt được các
mục tiêu đã xác định. Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác
động quản lý của nhà nước mà nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình đến các
chủ thể, các thành viên tham gia hoạt động trong nền kinh tế.
- 14 -
3. Hệ thống công cụ quản lý kinh tế của nhà nước bao gồm các nhóm:
a. Công cụ thể hiện ý đồ, mục tiêu của quản lý:
+ Đường lối
+ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
+ Kế hoạch.
+ Tiêu chuẩn, chất lượng, qui cách sản phẩm.
+ Chương trình, dự án.
b. Công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự, hành vi trong các quan hệ kinh tế khi thực hiện
các mục tiêu nói trên bao gồm: Hiến pháp; các đạo luật, các nghị quyết của Quốc hội; nghị
quyết, nghị định của Chính phủ và quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; quyết
định, thông tư, chỉ thị của các Bộ và cơ quan thuộc Bộ.
c. Công cụ thể hiện các tư tưởng, quan điểm của nhà nước trong việc điều chỉnh các
hoạt động của nền kinh tế trong 1 thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã dề ra:
Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách ngoại thưong

tiêu dùng. Lúc này để mở rộng tổng cầu, Chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế,
nâng cao mức chi tiêu chung của nền kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong trạng
thái phát đạt quá mức, lạm phát tăng lên, Chính phủ có thể giảm chi tiêu và tăng thuế, nhờ
đó mức chi tiêu chung giảm đi, sản lượng giảm theo và lạm phát sẽ chững lại.
- 15 -
Như vậy, mục tiêu của chính sách tài chính là nhằm đảm bảo tăng trưởng ổn định.
Trên thực tế bằng chính sách tài chính không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực công nghiệp cạnh tranh, duy trì ổn định nền kinh tế bước
vào hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Hai công cụ chủ yếu của chính sách tài chính là thuế và chi tiêu của Chính
phủ:
a. Chi tiêu của Chính phủ là từ ngân sách. Chi tiêu của Chính phủ là quỹ tiền tệ quốc
gia, dùng để chi tiêu cho toàn bộ hoạt động chung hàng năm, do Chính phủ quản lý và sử
dụng theo Luật ngân sách nhà nước và kế hoạch phê chuẩn. Chỉ trên cơ sở luật định, Chính
phủ mới được chi tiêu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luật định về các khoản chi, hạn mức
chi tính theo tỷ lệ trong tổng số, Chính phủ còn có 1 khoản tự do nhất định trong điều hành
ngân sách, cụ thể là trong chi tiêu ngân sách nhà nước, ở góc độ này Chính phủ cần và có
thể phát huy tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao, tổng cầu ở mức thấp nhất, chi tiêu
của Chính phủ có tác dụng làm cho cầu tiêu dùng của Chính phủ tăng lên, dẫn đến sự gia
tăng tổng chi tiêu của xã hội, tổng cầu tăng làm cho cung lại có cầu thúc đẩy, kinh tế sẽ ra
khỏi suy thoái. Đặc biệt, riêng việc tăng cầu đầu tư sẽ ảnh hưởng tới tổng cầu theo mô hình
số nhân, nhờ đó mà đẩy mức tăng sản lượng đến gần sản lượng tiềm năng.
Khi nền kinh tế ở trạng thái nóng, việc giảm chi tiêu của Chính phủ sẽ có tác dụng
giảm mức chi tiêu chung của toàn xã hội, giảm tổng cầu.
b. Thuế:
Thuế là 1 khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội,
khoản thu đó mang tính bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp được pháp luật qui định.
Sự xuất hiện nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nhà nước tồn
tại và thực hiện chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền lực chính trị để ban hành

Ngân hàng Trung ương có thể thực hiện điều tiết cung về tiền tệ thông qua 3 công cụ
chủ yếu: lãi suất chiếc khấu, dự trữ bắt buộc và thị trường mở.
+ Lãi suất chiếc khấu là công cụ quan trọng để Ngân hàng nhà nước tính lãi đối với
các khoản cho Ngân hàng thương mại vay, nhằm khống chế chất lượng và số lượng tín
dụng của Ngân hàng thương mại. Tuỳ theo nhu cầu hạn chế hay khuyến khích mà lãi suất
chiếc khấu cao hay thấp hơn lãi suất ngân hàng đó cho khách vay.
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ số giữa số lượng phương tiện thanh toán cần vô hiệu hoá
trên tổng số tiền gửi mà Ngân hàng nhà nước qui định nhằm điều chỉnh khả năng thanh
toán và cho vay của Ngân hàng thương mại. Thông qua việc điều chỉnh trực tiếp tỷ lệ dự
trữ bắt buộc Ngân hàng nhà nước tác động cả vào khối lượng và giá cả tín dụng của Ngân
hàng thương mại.
+ Thị trường mở là thị trường tiền tệ của Ngân hàng nhà nước là 1 kênh quan trọng
để Ngân hàng nhà nước có thể can thiệp được vào hoạt động của thị trường tiền tệ. Cụ thể
như sau: muốn ngăn chặn lạm phát, thu hút bớt lượng tiền tệ dư thừa trong lưu thông, Ngân
hàng nhà nước bán các loại chứng chỉ có giá của Chính phủ ra thị trường. Trong trường
hợp này, Ngân hàng nhà nước không chỉ giảm bớt khối lượng tiền ngoài lưu thông mà còn
thu hẹp được khối lượng tín dụng. Ngược lại, cần bơm tiền vào lưu thông cho phù hợp với
mức tăng trưởng của nền kinh tế, hay bù lượng tiền thiếu hụt do lạm phát giá khi chưa
ngăn chặn được, Ngân hàng nhà nước mua lại các chứng chỉ có giá của Chính phủ. Nhờ
vậy, 1 khối lượng tiền được phát hành vào lưu thông để mở rộng tín dụng, thúc đẩy đầu tư,
giảm bớt thất nghiệp.
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến tăng trưởng sản lượng về mặt ngắn
hạn, song do tác động đến đầu tư nên nó cũng có ảnh hưởng đến sản lượng tiềm năng về
mặt dài hạn.
Ví dụ: Lãi suất.
Lãi suất là số so sánh giữa số tiền phải trả thêm mà vốn được sử dụng trong 1 khoảng
thời gian nhất định.
Vai trò của lãi suất: Giúp cho các doanh nghiệp đầu tư 1 cách có hiệu quả; là công cụ
điều tiết vĩ mô nền kinh tế; là công cụ thu hút vốn đầu tư.
Khi lãi suất thay đổi, nó tác động nhiều đến hoạt động của nền kinh tế:

các nguyên tắc, các hình thức, phương pháp và các công cụ quản lý mà nhà nước sử dụng
để tác động vào nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Các yếu tố cấu thành cơ chế quản lý kinh tế bao gồm: Mục tiêu của quản lý kinh tế,
chức năng, nguyên tắc, phương thức, các công cụ và hướng vận dụng chúng trong quản lý
kinh tế.
II. Những nội dung đổi mới cơ chế quản lý hiện nay so với cơ chế quản lý kinh tế
kế hoạch hoá tập trung trước đây:
1. Về mục tiêu:
+ Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây là nhằm xây dựng 1 nền
kinh tế XHCN, có lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất tiến tiến. Trong đó, mọi
thành viên trong xã hội đều được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và khẳng định phải
xây dựng ngay 1 nền kinh tế chỉ có 1 thành phần kinh tế với 2 hình thức sở hữu toàn dân
và tập thể.
+ Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay là xây dựng 1 nền kinh tế XHCN, dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Và khẳng định để đạt được mục tiêu đó cần
phải xây dựng 1 nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu và
nhiều thành phần kinh tế.
2. Về chức năng quản lý:
+ Trước đây, Nhà nước can thiệp 1 cách trực tiếp, toàn diện, triệt để và sâu rộng vào
mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế. Nhà nước đóng vai trò người chỉ huy trực tiếp tất
cả các hoạt động kinh tế. Các cơ quan Nhà nước tập trung trong tay mình cả 3 quyền chi
phối, đó là quyền quản lý nhà nước về hành chính kinh tế, quyền của chủ sở hữu nhà nước
đối với các doanh nghiệp và quyền quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp.
+ Nay nhà nước đóng vai trò điều hành vĩ mô (vạch ra định hướng, hỗ trợ, giúp đở và
điều tiết), có sự phân định, có sự tách bạch ngày càng rõ 3 quyền để tăng cường quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Các
quyền quản lý nhà nước về hành chính kinh tế đối với các loại hình doanh nghiệp và quyền
quản lý với tư cách là chủ sở hữu và đại diện của chủ sở hữu đối với vốn và tài sản của nhà
nước trong các doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của các cơ quan nhà nước. Còn quyền

hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, pháp lệnh kinh tế, các chính sách kinh tế và các
công cụ của các chính sách kinh tế.
Câu 13: Khái niệm và các yếu tố cấu thành của cơ chế quản lý kinh tế. Trình
bày những nội dung cần được thực hiện để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam
I. Khái niệm và các yếu tố cấu thành của cơ chế quản lý kinh tế.
1. Cơ chế là 1 khái niệm chỉ sự diễn biến của quá trình vận hành nội tại của 1 hệ
thống, trong đó có sự tương tác giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành nên hệ thống trong
quá trình vận động của mỗi bộ phận, mỗi yếu tố đó, nhờ đó hệ thống có thể vận động, phát
riển theo mục đích đã định.
2. Cơ chế kinh tế là tổng thể các quan hệ tương tác giữa các bộ phận, các yếu tố cấu
thành nền kinh tế, nhờ đó mà nền kinh tế vận động và phát triển được. Các yếu tố cấu
thành cơ chế nền kinh tế bao gồm: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, tổ chức sản xuất,
sự tiến bộ khoa học kỹ thuật; các ngành nghề trong tổng thể nền kinh tế; các vùng kinh tế,
các thành phần kinh tế, các tổ chức kinh tế có qui mô lớn, vừa, nhỏ. Các yếu tố của cơ chế
kinh tế có mối quan hệ qua lại, tương tác lẫn nhau, phản ảnh sự tác động của cung cầu, của
giá cả, của lãi suất tín dụng Đây là 1 dạng cơ chế phức tạp nhất trong cơ chế kinh tế, vì
nó là sự hội tụ của hàng loạt biến số, trong đó mỗi biến số đồng thời là hàm số của các biến
số khác.
- 19 -
3. Cơ chế quản lý kinh tế là cách thức quản lý kinh tế của nhà nước. Đó là 1 hệ thống
các nguyên tắc, các hình thức, phương pháp và các công cụ quản lý mà nhà nước sử dụng
để tác động vào nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
II. Các yếu tố cấu thành cơ chế quản lý kinh tế bao gồm:
+ Mục tiêu của quản lý kinh tế.
+ Chức năng.
+ Nguyên tắc.
+ Phương thức.
+ Các công cụ và hướng vận dụng chúng trong quản lý kinh tế.
1. Các nguyên tắc quản lý: Nguyên tắc là tính chung, tính khái quát của các hướng
hành động cụ thể, phương hướng chung cho hành động cụ thể, có tính bắt buộc người hành

dụng:
+ Công cụ thể hiện ý muốn của chủ thể quản lý, theo đó đối tượng quản lý phải biết
mà tuân theo.
+ Công cụ có tác dụng động lực được dùng làm áp lực hay động lực tác động vào đối
tượng quản lý của nhà nước.
+ Công cụ thể hiện ý chí của nhà nước trong việc sử dụng các lực lượng nói trên vào
việc gây áp lực, đó là hệ thống chế độ, chính sách kinh tế tài chính của nhà nước.
- 20 -
+ Công cụ sử dụng các công cụ nói trên, đó chính là con người, những cán bộ công
chức nhà nước, là các cơ quan hành chính nhà nước, là các công sở.
II. Những nội dung cần được thực hiện để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở Việt
Nam:
Đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế là việc làm thường xuyên của nhà nước, bởi vì
các đối tượng quản lý thường xuyên thay đổi, thay đổi chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất
và sự ra đời những loại hình doanh nghiệp mới, thay đổi quan hệ quốc tế của nước ta trên
lĩnh vực kinh tế, thay đổi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Hơn nữa, khoa học
công nghệ không ngừng tiến bộ tạo ra những thành tựu mới cho phép ứng dụng vào thực
tiễn quản lý và đòi hỏi nhà nước phải tổ chức lại bộ máy, phân công lại chức năng, nhiệm
vụ quản lý trong nội bộ bộ máy, nâng cao trình độ công chức.
Tổ chức và hoạt động của chủ thể quản lý phải phù hợp với khách thể quản lý. Do
vậy, khi đối tượng quản lý có sự thay đổi thì chủ thể quản lý cũng phải thay đổi theo.
Những đổi mới của đối tượng quản lý trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta trong
thời gian qua đã có ảnh hưởng đến chủ thể quản lý là nhà nước trên các mặt sau:
+ Làm thay đổi vị trí của nhà nước đối với các doanh nghiệp.
+ Làm thay đổi chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế.
+ Làm thay đổi khối lượng công tác quản lý.
+ Làm thay đổi yêu cầu đối với các phương thức, phương pháp, biện pháp quản lý.
Do những thay đổi của đối tượng quản lý, công cuộc đổi mới quản lý nhà nước về
kinh tế cần phải nhằm vào các phương diện và thay đổi chúng theo các hướng sau:
1. Đổi mới chức năng nhiệm vụ quản lý của nhà nước:

công vụ.
4. Đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế: Việc đổi mới tổ chức
bộ máy này cần thực hiện trên cả 2 phương diện: Cơ cấu lại bộ máy và phân công lại chức
năng, nhiệm vụ, chế độ vận hành của cả guồng máy. Bộ máy sinh ra là để làm nhiệm vụ
quản lý, khi chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế đã thay đổi thì cơ cấu bộ máy
nhà nước ta để quản lý nhà nước về kinh tế cần phải được đổi mới theo hướng sau:
+ Thực hiện tốt nguyên tắc "tập trung-dân chủ".
+ Tách quản lý nhà nước khỏi quản trị kinh doanh.
+ Kết hợp tốt quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ, tinh giảm đầu mối, xoá
bỏ chồng chéo.
Chương II
Câu 14: Trình bày khái niệm doanh nghiệp nhà nước. Nội dung chủ yếu của
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước.
I. Trình bày khái niệm doanh nghiệp nhà nước:
1. Theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003: Doanh nghiệp nhà nước là "tổ
chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,
được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn".
Như vậy, với việc phân loại doanh nghiệp nhà nước chúng ta có thể thấy có 1 điểm
khác biệt khá lớn, đó là theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, doanh nghiệp nhà
nước chỉ tồn tại dưới dạng doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, được tổ chức bằng hình
thức doanh nghiệp nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước, nhưng hiện nay doanh
nghiệp nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, đó là doanh nghiệp nhà nước có
100% vốn của nhà nước và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước do
nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp.
Và doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới nhiều hình thức như sau:
+ Công ty nhà nước: là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thành
lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo qui định của Luật doanh nghiệp nhà nước. Và
được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước.
+ Tổng công ty nhà nước: là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư góp vốn

II. Nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước:
1. Xây dựng chiến lược qui hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển hệ thống
doanh nghiệp nhà nước.
+ Vị trí và tầm quan trọng: Đây là bước mở dầu của toàn bộ quá trình quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp nhà nước, phải có định hướng này mới có thể tiến hành được
hoạt động đầu tư xây dựng doanh nghiệp nhà nước.
+ Những sản phẩm quản lý cơ bản cần tạo được qua nội dung này: Khi thực hiện nội
dung trên, công tác quản lý nhà nước phải tạo ra được các sản phẩm quản lý như:
- Những chỉ tiêu thể hiện nhiệm vụ riêng của hệ thống doanh nghiệp nhà nước.
- Mô hình tổng thể lực lượng doanh nghiệp nhà nước cần có để dảm nhận những
nhiệm vụ nói trên, được thể hiện thành các dự án doanh nghiệp nhà nước cụ thể.
- Phần tăng, giảm lực lượng doanh nghiệp nhà nước so với mô hình trên, trong đó có
những doanh nghiệp nhà nước mới cần xây dựng, bổ sung mới bằng vốn nhà nước và các
doanh nghiệp cần cắt giảm do không cần thiết.
- Riêng phần xây dựng bổ sung được thể hiện thành các dự án xây dựng mới và các
dự án cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá doanh nghiệp nhà nước hiện có.
- Riêng phần cắt giảm các doanh nghiệp nhà nước hiện có không còn cần thiết tồn tại
bằng vốn nhà nước như trước nữa, cần được thể hiện thành danh mục và phương án
chuyển thể sở hữu cụ thể.
2. Hoàn thiện thể chế tổ chức và quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà
nước:
a. Thực chất là việc tổng kết công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà
nước, bổ sung, đổi mới tổ chức quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước cho phù
hợp với sự phát triển thường xuyên của doanh nghiệp nhà nước và yêu cầu đặt ra đối với
doanh nghiệp nhà nước.
b. Mục đích, yêu cầu:
+ Tiến hành đều đặn và kịp thời theo từng bước phát triển của bản thân lực lượng
doanh nghiệp nhà nước và từng bước phát triển của thị trường.
+ Tiến hành đồng bộ trên cả 2 phương diện: Xem xét tổ chức và hoạt động quản lý
của nhà nước và của bản thân từng doanh nghiệp nhà nước. Trong thực tế nội dung này

+ Xác định các hành vi kinh tế có khả năng hay có tác dụng đối với việc thực hiện
các mục tiêu trên, chỉ ra những khó khăn trong việc thực hiện các hành vi kinh tế đó và sự
cần thiết phải huy động doanh nghiệp nhà nước vào việc thực hiện các hành vi này.
+ Giao nhiệm vụ hoạt động kinh tế trên cho các doanh nghiệp nhà nước.
+ Chuyển giao những phương tiện cần thiết, đủ để cho các doanh nghiệp nhà nước
thực hiện xuất sắc các nhiệm vụ được giao, áp dụng các biện pháp, chính sách ưu đãi, ưu
tiên đối với doanh nghiệp nhà nước nhằm giúp chúng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính
trị được giao.
+ Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ nói trên nhằm bắt buộc các doanh
nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao tương xứng với mong muốn của
nhà nước và phù hợp với những nỗ lực ưu đãi của nhà nước đối với họ.
Câu 15: Vị trí và vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Liên hệ thực tế để chứng
minh mức độ thể hiện vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta. Nội dung cần
được đổi mới trong quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước để phát huy
được vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
I. Vị trí và vai trò của doanh nghiệp nhà nước:
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế là nền kinh tế nhiều thành
phần. Để giữ vững được định hướng XHCN đòi hỏi kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ
đạo, trong đó các doanh nghiệp nhà nước là 1 bộ phận chính yếu. Hôi nghị lần thứ 3 BCH
TW khoá IX đã khẳng định: "Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững
định hướng XHCN, doanh nghiệp nhà nước phải không ngừng được đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng
để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để
- 24 -
kinh tế nhà nước thực hiện chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là chủ
lực trong hội nhập kinh tế". Vai trò trọng yếu của doanh nghiệp nhà nước thể hiện ở các
nội dung sau:
+ Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để nhà nước giữ vững sự ổn định xã
hội, điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.
+ Mở đường hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng

+ Tổ chức quản lý.
+ Môi trường kinh doanh.
Sau một thời gian dài thực hiện đổi mới, có thể nói doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
đã khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường, góp phần tích cực vào việc
thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vững, giữ ổn định xã hội, tạo công ăn việc làm, góp phần
giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo. Doanh nghiệp nhà nước vẫm là những đơn vị kinh tế
mạnh nhất, nắm giữ các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp nhà nước
có sản phẩm đạt chất lượng quốc tế và có sức cạnh tranh tốt, đóng góp lớn vào ngân sách
nhà nước.
Tuy nhiên, quá trình đổi mới chưa giải quyết được vấn đề hiệu quả, chất lượng và
sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước. Hiện tại doanh nghiệp nhà nước ở nước ta cũng
vấp phải nhiều vấn đề nan giải, đó là:
- 25 -

Trích đoạn Các hình thức của kinh tế đối ngoại: Các nguyên tắc cơ bản (quan điểm) trong việc thực hiện quan hệ kinh tế đối ngoại:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status