Bài soạn ôn thi tốt nghiệp môn quản lý nhà nước về kinh tế. pot - Pdf 12


Bài soạn ôn thi tốt nghiệp
môn quản lý nhà nước về kinh tế


loại.

Một nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường phải có 6 đặc trưng chủ yếu sau:

1. Thứ nhất, là quá trình lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ thống
các khâu của quá trình sản xuất và từ sản xuất đến tiêu dùng đều được thực hiện chủ yếu
bằng phương thức mua - bán. Sở dĩ có sự luân chuyển vật chất trong nền kinh tế là do có
sự phân công chuyên môn hoá trong sản xuất sản phẩm xã hội ngày càng cao, bên cạnh đó,
còn do có sự dư thừa sản phẩm ở doanh nghiệp này, ngành này nhưng lại thiếu sản phẩm ở
doanh nghiệp khác, ngành khác và ngược lại. Một nền kinh tế được gọi là nền kinh tế thị
trường khi tổng lượng mua bán vượt quá nữa tổng lượng vật chất của xã hội.

2. Thứ hai, người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao
đổi trên thị trường, được thể hiện trên 3 mặt sau: tự do lựa chọn nội dung trao đổi, tự do
lựa chọn đối tác trao đổi và tự do thoả thuận giá cả trao đổi theo cách thuận mua vừa bán.

3. Thứ ba, hoạt động mua bán được diễn ra 1 cách thường xuyên, ổn định trên cơ sở
1 kết cấu hạ tầng tối thiểu đủ để việc mua bán diễn ra thuận lợi, an toàn.

4. Thứ tư, các đối tác tham gia trong nền kinh tế thị trường đều theo đuổi lợi ích của
mình, đó chính là lợi nhuận, lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế
nhưng không được xâm phạm ảnh hưởng đến lợi ích của người khác và của cộng đồng.

5. Thứ năm, kinh tế thị trường luôn gắn với cạnh tranh, hay nói cách khác, cạnh tranh
là linh hồn của nền kinh tế thị trường, đó là động lực thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế và xã hội,
nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có lợi cho người tiêu dùng.

6. Thứ sáu, sự vận động của các quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường
(quy luật giá trị, qui luật cạnh tranh, qui luật cung-cầu ) dẫn dắt hành vi, thái độ ứng xử
của các chủ thể tham gia thị trường.

có thể thanh toán được của xã hội một cách tự động mà không một bộ máy hoạch định nào
có thể thay thế được;

+ Huy động tối đa mọi tiềm năng của xã hội;

+ Tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả
cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém;

+ Phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh
tế trong nước và quốc tế;

+ Buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm
trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên qui mô lớn;

+ Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ - kỹ thuật
làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao.

2. Nhược điểm của nền kinh tế thị trường: (5)

Nền kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu điểm nhưng nó không phải luôn hoàn hảo, mà
bản thân nó chứa đầy những mặt trái, những nhược điểm rất cơ bản. Và cũng chính vì
những khuyết tật này mà nó làm cho kinh tế thị trường chứa đựng cả những yếu tố đi
ngược chiều với mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới. Những khuyết tật, mặt trái của kinh
tế thị trường được thể hiện ở các nội dung sau:

+ Động cơ lợi nhuận dễ đẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật như kinh doanh lừa
đảo, làm hàng giả; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá, huỷ hoại 1 cách
nghiêm trọng và lan rông; tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội, thương mại hoá các giá trị đạo
đức và đời sống tinh thần;


+ Nhà nước phải kết hợp nhiều hình thức phân phối theo yêu cầu của nền kinh tế thị
trường, đó là phân phối theo lao động, phân phối theo tài sản và vốn, phân phối qua quỹ
phúc lợi xã hội để giảm khoảng cách giàu nghèo.

+ Phải chú trọng vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng, bởi nếu cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ
làm cho giá thành sản phẩm cao, hiệu quả mua bán kém, do vậy không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường, sẽ khó thu hút đầu tư kinh tế từ nước ngoài.
+ Tăng cường công tác kiểm tra giám sát để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, chống
nạn tham nhũng, lãng phí cạnh tranh không lành mạnh, hàng lậu, hàng giả ).

Câu 2: Nói rõ đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sự thể hiện
của yếu tố nhà nước trong các đặc trưng đó như thế nào?

I. Kinh tế thị trường là là một mô hình kinh tế vận động, phát triển, dựa trên cơ sở
các quy luật của thị trường, trong đó quan hệ hàng hoá - tiền tệ trở thành phổ biến và bao
quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường là cơ chế vận hành khách quan của nền kinh tế, ở
đó các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường phát huy tác dụng, trước hết, là quy
luật giá trị, quy luật này đòi hỏi việc sản xuất hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã
hội cần thiết và trao đổi phải bình đẳng, ngang giá. Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh
phải tuân thủ quy luật này mới có thể tồn tại và phát triển. Thứ hai là quy luật cung cầu,
quy luật này biểu hiện quan hệ giữa cung và cầu thông qua giá cả, nó tác động trực tiếp đến
giá cả và phương thức sản xuất, tiêu dùng của xã hội. Thứ ba là quy luật cạnh tranh, quy
luật này đòi hỏi hàng hoá sản xuất ra phải có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn, thái độ
phục vụ văn minh hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh so với các hàng hoá khác cùng
loại.

Một nền kinh tế được gọi là kinh tế thị trường phải có 6 đặc trưng chủ yếu sau:
'
1. Thứ nhất, là quá trình lưu thông vật chất từ khâu này đến khâu khác trong hệ thống

trường phát triển đạt đến trình độ cao - kinh tế thị trường hiện đại. Nền kinh tế thị trường
hiện đại là nền kinh tế có đầy đủ các đặc trưng của 1 nền kinh tế thị trường và đồng thời có
các đặc trưng sau:

+ Một là, có sự thống nhất về mục tiêu kinh tế với các mục tiêu chính trị - xã hội và
nhân văn.

+ Hai là, có sự quản lý của nhà nước, do nhu cầu nhà nước không chỉ là người đại
diện cho lợi ích của giai cấp cầm quyền mà còn do nhu cầu của chính những người tham
gia Điều đó đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường.

+ Ba là, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giữa các quốc gia đang diễn ra với qui mô
ngày càng lớn, tốc độ ngày càng tăng làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên 1
chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là 1 bộ phận gắn bó hữu cơ với các bộ phận
khác.

+ Bốn là, hệ thống thị trường đồng bộ, thống nhất, ngày càng hiện đại, gắn với thị
trường khu vực và thế giới, bao gồm các thị trường bộ phận đầu ra (hàng hoá, dịch vụ) và
thị trường đầu vào (vốn, lao động, công nghệ thông tin, bất động sản ).

II. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Đại hội X của Đảng đã khẳng định quan điểm nắm vững định hướng XHCN trong
nền kinh tế thị trường ở nước ta là:

+ Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”;
giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân;
đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng,
giúp đỡ người khác thoát nghèo và từng bước khá giả hơn.


vĩ mô của nhà nước. Về hình thức phân phối, thực hiện phân phối theo lao động (người
lao động được thụ hưởng tương xứng với công sức đóng góp của mình), phân phối theo tỷ
lệ tài sản và vốn góp, phân phối thông qua quỹ phúc lợi xã hội.

Phát triển lực lượng sản xuất của nền kinh tế đạt trình độ hiện đại, phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đây là tất yếu của mọi quốc gia khi tham gia kinh tế thị trường.
Ngay trong bản thân mỗi đơn vị, doanh nghiệp phải thực hiện tổ chức sản xuất 1 cách tiên
tiến theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá, liên hợp hoá và bằng việc không ngừng
nâng cao trình độ khoa học - công nghệ sản xuất theo hướng cơ khí hóa, điện khí hóa ,
đồng thời phải thực hiện xây dựng kết cấu hạ tầng cho từng loại thị trường. Hình thành
và phát triển 1 số ngành mũi nhọn, trọng điểm, có tính chất then chốt để tạo ra sự cạnh
tranh với các nước trong khu vực và thế giới. Xây dựng nền kinh tế mở và hội nhập, mở
rộng quan hệ với các quốc gia, các tổ chức trên thế giới ở lĩnh vực xuất nhập khảu hàng
hoá, đầu tư vốn, dịch vụ thu ngoại tệ, chuyển giao khoa học công nghệ, đồng thời, cùng
với mở cửa, hội nhập, phải xây dựng môi trường đầu tư thông thoáng, phát huy tối đa
nội lực để thu hút ngoại lực, từng bước thực hiện hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới.

III. Sự thể hiện yếu tố nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.

Trước đây, do yêu cầu xây dựng nền kinh tế theo chế độ công hữu, phi hàng hoá và
được quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung nên nhà nước quản lý tuyệt đối toàn
bộ đời sống kinh tế - xã hội, nắm và chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế của đất nước.
Với cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, nhà nước đã thực hiện được những mục tiêu
kinh tế và chính trị xã hội quan trọng, thể hiện được tính ưu việt của CNXH trên nhiều
mặt. Tuy nhiên, nền kinh tế theo chế độ công hữu, phi hàng hoá và được quản lý theo cơ
chế kế hoạch hoá tập trung cao độ cũng bộc lộ nhiều khuyết tật, làm triệt tiêu động lực phát
triển, nền kinh tế trì trệ, rơi vào khan hiếm, dẫn tới khủng hoảng kinh tế - xã hội, còn nhà
nước thì bao biện, làm thay thị trường và xã hội, dẫn tới bộ máy cồng kềnh, quan liêu,


+ Tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp đạt hiệu quả
cao và thông qua phá sản tạo ra cơ chế đào thải các doanh nghiệp yếu kém.

+ Phản ứng nhanh nhạy trước các thay đổi trong nhu cầu xã hội và các điều kiện kinh
tế trong nước và quốc tế.

+ Buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên học hỏi lẫn nhau, hạn chế các sai lầm
trong kinh doanh diễn ra trong thời gian dài và trên qui mô lớn.

+ Tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ - kỹ thuật
làm cho nền kinh tế năng động và đạt hiệu quả cao.

2. Nhược điểm của nền kinh tế thị trường: (5)

Nền kinh tế thị trường tuy có nhiều ưu điểm nhưng nó không phải luôn hoàn hảo, mà
bản thân nó chứa đầy những mặt trái, những nhược điểm rất cơ bản. Và cũng chính vì
những khuyết tật này mà nó làm cho kinh tế thị trường chứa đựng cả những yếu tố đi
ngược chiều với mục tiêu mà chúng ta đang hướng tới. Những khuyết tật, mặt trái của kinh
tế thị trường được thể hiện ở các nội dung sau:

+ Động cơ lợi nhuận dễ đẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật như kinh doanh lừa
đảo, làm hàng giả; tài nguyên thiên nhiên và môi trường bị tàn phá, huỷ hoại 1 cách
nghiêm trọng và lan rông; tham nhũng, hối lộ, tệ nạn xã hội, thương mại hoá các giá trị đạo
đức và đời sống tinh thần;

+ Kinh tế thị trường tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, dẫn đến
phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng.

+ Do theo đuổi lợi ích cá nhân tối đa, nên lợi ích chung của xã hội không được

- 8 -
+ Phải chú trọng vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng, bởi nếu cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ
làm cho giá thành sản phẩm cao, hiệu quả mua bán kém, do vậy không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường, sẽ khó thu hút đầu tư kinh tế từ nước ngoài

+ Tăng cường công tác kiểm tra giám sát để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
chống nạn tham nhũng, lãng phí, cạnh tranh không lành mạnh, hàng lậu, hàng giả ).

Câu 4: Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế. Từ
thực tế chứng minh vai trò của nhà nước ngày càng quan trọng trong quá trình
chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN.

I. Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế:

Nhà nước phải can thiệp vào nền kinh tế bởi các lý do sau:

+ Tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp của nhà nước.

Nhà nước là sản phẩm của xã hội có phân chia và đối kháng giai cấp, nó được giai
cấp thống trị về kinh tế sinh ra để bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp thống trị đó. Nói
cách khác, nhà nước có sứ mạng và nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị về kinh
tế.

Tính giai cấp trong kinh tế thể hiện ở vị thế của giai cấp đó đối với tư liệu sản
xuất, vị thế trong quản lý sản xuất, cơ sở vật chất, vị thế trong phân chia lợi ích kinh
tế. Theo đó, trong nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người làm
công, không có tư liệu sản xuất, ở vị trí bị quản lý và bị bóc lột; và giai cấp tư sản, những
chủ sở hữu về tư liệu sản xuất, quản lý, phân phối lợi nhuận và bóc lột. Vậy giai cấp chỉ
hình thành trong kinh tế và cuộc đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giành 3 vị thế trong

- 9 -
chọn đầu tư, lựa chọn giải pháp , những điều này phụ thuộc rất lớn vào nhà nước, vào chế
độ xã hội.

Phải có tri thức làm giàu, người làm kinh doanh cần phải có 2 nhóm tri thức cơ
bản, đó là tri thức về sản xuất kinh doanh và thông tin toàn diện trong và ngoài nước có
liên quan đến việc làm kinh tế. Tri thức về sản xuất kinh doanh bao gồm những kiến thức
khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất có thể học được từ trường lớp, sách vở và thực tiễn.
Còn nhóm thứ 2 bao gồm nhiều thông tin như kinh tế kỹ thuật, chính trị, quân sự trong và
ngoài nước, giá cả, quy hoạch , chỉ có nhà nước mới có. Do đó, nếu không có nhà nước
chắc chắn các nhà doanh nghiệp không đủ tầm nhìn thấy tương lai.

Phải có phương tiện sản xuất kinh doanh, trước tiên là vốn, nhà doanh nghiệp có
thể huy động vốn từ nhiều nguồn, có khi không nhất thiết phải vay vốn của nhà nước
nhưng doanh nhân vẫn cần vay vốn của nhà nước do không tin tưởng các nguồn khác.
Ngoài nguồn vốn ra, phải cần có hệ thống kết cấu hạ tầng trong đó sát với người làm
kinh tế thị trường, nhất là hệ thống chợ, điều này chỉ có nhà nước mới tạo ra được, chỉ có
nhà nước quản lý chợ mới có thể làm cho mọi người yên tâm khi tham gia thị trường. Hoạt
động của chợ rất phức tạp, khó bảo vệ, bất an nhất nên các loại chợ đều cần có sự bảo hộ
của nhà nước.

Phải có môi trường kinh doanh, đó là môi trường bè bạn và môi trường an toàn cho
sản xuất kinh doanh. Trong kinh doanh cần phải có đối tác, để tìm được đối tác như ý ở
trong hay ngoài nước, tự thân nhà doanh nghiệp không dể tìm, do vậy nhà nước là 1 chỗ
dựa quan trọng cho các nhà doanh nghiệp.

Môi trường an toàn là an toàn cho tính mạng và tài sản của doanh nhân, chỉ có nhà
nước mới là người bảo vệ tốt nhất. Hơn nữa môi trường an toàn là môi trường không có
chiến tranh, không có tội phạm hình sự, ngăn ngừa được thiên tai hay dự báo để phòng
tránh thiên tai. Sự an toàn này trừ nhà nước không ai tạo ra được cho doanh nhân.

- 10 -
lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước. Như vậy, trong quá trình chuyển đổi sang
cơ chế thị trường cũng như khi cơ chế thị trường đã được xây dựng đồng bộ, vai trò quản
lý kinh tế của nhà nước không hề suy giảm mà còn tăng lên. Điều đó, không có nghĩa là
nhà nước nắm tất cả, can thiệp vào tất cả mọi hoạt động kinh tế của toàn xã hội, mà trái lại
nhà nước chỉ nắm những lĩnh vực, những khâu then chốt, thực hiện những công việc quan
trọng nhất mà thị trường và nhân dân không làm được, biết sử dụng cơ chế thị trường một
cách khôn khéo để phục vụ cho mục tiêu quản lý của mình, biết phát huy những mặt tích
cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế đó, phát huy động lực của sự
phát triển kinh tế, xử lý những bất trắc và tình huống mới nảy sinh, đảm bảo cho cơ chế thị
trường ra đời đồng bộ và vận hành thông suốt, thúc đẩy kinh tế phát triển. Như vậy, vai trò
của nhà nước trong bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường hết sức quan trọng và nặng nề,
vừa phải tiến hành đổi mới, cách thức điều hành từ chỗ trước đây vốn quen với cơ chế cũ
sang cách thức điều hành, quản lý theo cơ chế mới, nguyên tắc mới nhằm thiết lập mối
quan hệ hợp lý giữa nhà nước - thị trường - doanh nghiệp, vừa phải liên tục hoàn thiện
phương pháp, công cụ và kỹ thuật điều hành trong điều kiện vừa chuyển đổi, vừa hội nhập,
vừa phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước phải thực
hiện vai trò là người đại diện cho nhân dân để quản lý nền kinh tế vì lợi ích của đất nước
và nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.

Câu 5: Chức năng quản lý kinh tế của nhà nước, những hạn chế trong công tác
quản lý kinh tế của nhà nước, của các cơ quan quản lý kinh tế của nhà nước.

I. Chức năng quản lý kinh tế của nhà nước.

1. Chức năng bảo vệ lợi ích giai cấp.

Để bảo vệ lợi ích giai cấp trong quản lý nhà nước về kinh tế, nhà nước trước hết
phải thiết lập và bảo vệ chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý tối ưu, xây

- 11 -
hội để can thiệp vào các quan hệ thù lao cho người lao động, xây dựng chế độ đóng góp
của công dân vào công quỹ quốc gia như các thể chế về thuế, phí, lệ phí và các loại đóng
góp có tính chất nghĩa vụ khác.

3. Hỗ trợ doanh nhân lập thân, lập nghiệp trên lĩnh vực kinh tế:

Nhà nước là nhân tố không thể thiếu được đối với mọi công dân làm kinh tế, nhà
nước thực hiện chức năng này có ý nghĩa lớn cho sự củng cố nhà nước, tạo nên sự tin
tưởng và biết ơn nhà nước trong lòng dân.

Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nhân trên các mặt như hỗ trợ công dân ý chí làm giàu;
hỗ trợ về tri thức cho công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế; hỗ trợ về phương tiện sản
xuất kinh doanh và hỗ trợ doanh nhân về môi trường kinh doanh.

Để hỗ trợ công dân về những mặt trên, Nhà nước phải tiến hành các hoạt động quản
lý sau:

- Tuyên truyền giới thiệu giúp cho công dân biết được thế nào là cuộc sống giàu có,
đầy đủ, sung sướng để từ đó gây dựng và nuôi chí làm giàu trong nhân dân.

- Xây dựng và ban hành đường lối chính trị, hệ thống pháp luật có tính khoa học và
thực tiễn cao, đủ mức để công dân có cơ sở tin tưởng vào sự ổn định chế độ chính trị, pháp
luật, xã hội, ở thái độ trước sau như một của nhà nước và cộng đồng đối với người biết làm
giàu.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân học tập để có đủ tri thức dựng nghiệp.

- Định hướng cho mọi hoạt động của doanh nhân.



Công sản là tài sản công, nhà nước là người quản lý và sử dụng, tuy nhiên nhà nước
không trực tiếp mà giao ủy quyền trực tiếp quản lý và sử dụng. Nhà nước thực hiện chức
năng này nhằm bảo vệ công sản đồng thời khai thác nguồn tài sản công. - 12 -
Khi giao quyền về quản lý trực tiếp và sử dụng chính người được giao quyền này có
thể tham ô, lãng phí đồng thời có các nguy cơ tổn thất tự nhiên. Do vậy công sản cần được
bảo vệ. Bên cạnh đó, nhà nước phải là người sử dụng công sản với tính chất như là 1 công
cụ quản lý, phải làm cho kinh tế nhà nước thực sự là vũ khí lợi hại của nhà nước trong
quản lý nhà nước về kinh tế nói riêng, quản lý xã hội nói chung.
II. Những hạn chế trong công tác quản lý kinh tế của nhà nước, của các cơ quan
quản lý kinh tế của nhà nước.

Từ khi đổi mới đến nay, với chức năng của mình, nhà nước đã kịp thời ban hành và
từng bước đưa vào cuộc sống một hệ thống luật pháp khá đầy đủ theo hướng đổi mới, tạo
khuôn khổ pháp lý cơ bản cho nền kinh tế vận hành và phát triển với tốc độ cao trong một
thời gian dài. Huy động được nguồn lực tài chính khá lớn để chủ động đầu tư phát triển các
lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ bản; chuyển đổi cách thức định hướng, hướng dẫn từ kiểu trực
tiếp trước đây sang kiểu gián tiếp: Nhà nước chủ yếu quản lý kinh tế vĩ mô, tăng cường sử
dụng các chính sách kinh tế như tài chính, tiền tệ. Thực hiẹn tốt việc điều tiết, đảm bảo các
tiêu chí công bằng xã hội trong điều kiện, trình độ phát triển kinh tế còn thấp. Bước đầu
làm quen và từng bước đổi mới phương pháp kiểm tra, kiểm soát phù hợp với điều kiện thị
trường.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình đổi mới, quản lý nhà
nước về kinh tế còn nhiều mặt hạn chế và yếu kém:

+ Thứ nhất, quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới, chưa


II. Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ:

1. Quản lý nhà nước theo ngành:
Ngành là 1 tập hợp các đơn vị kinh tế có 1 số điểm chung về đầu vào, đầu ra hay cơ
sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ.
Nhà nước phải quản lý theo ngành bởi vì các đơn vị cùng ngành thường có các vấn
đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, lao động, nguyên liệu, tiêu thụ giống nhau cần được giải
quyết 1 cách thống nhất trên cơ sở hợp tác với nhau hoặc so 1 trung tâm quản lý nhất định.

Quản lý nhà nước theo ngành bao gồm các hoạt động sau: - 13 -
+ Định hướng đầu tư xây dựng XD lực lượng của ngành, chống sự mất cân đối trong
cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân.

+ Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung cho toàn
ngành, bảo hộ sản xuất ngành nội địa.

+ Thống nhất hoá, tiêu chuẩn hoá quy cách, chất lượng hàng hoá và dịch vụ, hình
thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan có thẩm quyền ban
bố.

+ Thực hiện các chính sách quốc gia trong phát triển nguồn nhân lực, nhiên liệu, trí
tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn ngành.

+ Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, pháp qui, thể chế kinh tế theo
chuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành hệ
thống văn bản pháp luật quản lý ngành.

đối này tùy thuộc vào phong tục tập quán và quỹ thu nhập, quỹ tiêu dùng, sức mua và khả
năng thanh toán của cộng đồng dân cư. Người liên kết hành động của các đơn vị liên ngành
trên địa bàn không là ai khác chính quyền lãnh thổ.
+ Hai là, các đơn vị kinh tế cần thống nhất hành động trong việc xây dựng kết cấu hạ
tầng cho kinh tế và dân sự của bản thân sao cho mỗi đơn vị được đảm bảo tốt nhất về hậu
cần nhưng không cản trở đơn vị khác. Đơn vị kinh tế nào cũng cần kết cấu hạ tầng như cấp
thoát nước, giao thông, liên lạc, cần địa thế thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
giao dịch của mình nhưng không 1 đơn vị kinh tế nào có thể tự túc được các nhu cầu trên
của bản thân mà không cản trở đơn vị bạn, cản trở dân cư. Do vậy, cần phải có 1 chủ thể
quản lý theo địa bàn để tổ chức việc giải quyết các vấn đề trên 1 cách tối ưu.
c. Nội dung quản lý nhà nước theo lãnh thổ:

+ Quản lý nhà nước của cơ quan quản lý ngành trên lãnh thổ, đây thực chất là sự
quản lý của cơ quan quản lý ngành được thực hiện bằng các cơ quan chuyên môn đặt theo
lãnh thổ. - 14 -
+ Quản lý nhà nước của chính quyền lãnh thổ với những nội dung sau:

- Định hướng đầu ra cho các đơn vị kinh tế sao cho cân đối hài hoà về lượng, chất,
thời gian trong sự tương đồng với nhau và với nhu cầu cũng như khả năng tiếp nhận của
người tiêu dùng trên lãnh thổ, xét theo khả năng thu nhập cũng như thị hiếu, vị hiếu của
dân cư trên lãnh thổ.

- Tổ chức trực tiếp hay gián tiếp việc xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc tầm lãnh thổ đó
để đảm bảo chung cho tập đoàn kinh tế liên ngành đóng trên lãnh thổ.

3. Kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và lãnh thổ:



Phương pháp quản lý kinh tế là tổng thể các cách thức và biện pháp quản lý có mối
quan hệ hữu cơ với nhau. Trong hoạt động quản lý kinh tế nhà nước có thể và cần phải
thực hiện đồng thời 3 phương pháp chủ yếu, đó là:

+ Phương pháp cưỡng chế.
+ Phương pháp kích thích kinh tế.
+ Phương pháp thuyết phục, giáo dục.

II. Phương pháp kích thích kinh tế.

1. Phương pháp kinh tế là cách tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích
kinh tế để cho đối tượng quản lý lựa chọn phương án hoạt động sản xuát kinh doanh có
hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.

2. Đặc điểm của phương pháp kinh tế là tác động, điều chỉnh hành vi của chủ thể
kinh tế không phải bằng cưỡng chế, mệnh lệnh hành chính mà bằng lợi ích. Có nghĩa là
dùng cái lợi (lợi nhuận) mà các doanh nghiệp, doanh nhân ham muốn làm động lực để
hướng hành vi của họ đi theo mục đích mong muốn của nhà nước.

3. Nhà nước sử dụng các công cụ kích thích kinh tế:

+ Các công cụ của chính sách tài chính: Thuế và chi tiêu Chính phủ.
+ Các công cụ của chính sách tiền tệ: Kiểm soát mức cung tiền và lãi xuất.

- 15 -
+ Các công cụ của chính sách thu nhập: Giá cả và tiền lương.
+ Các công cụ của chính sách thương mại: Thuế nhập khẩu, trợ cấp xuất khẩu, tỷ giá
hối đoái, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế.


hoá, tiền tệ, quan hệ thị trường.

+ Phải thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp quản lý theo hướng mở rộng
quyền hạn cho cấp dưới.

+ Đòi hỏi cán bộ quản lý phải có 1 trình độ và năng lực về nhiều mặt.

* Ví dụ minh hoạ:

Câu 9: Hệ thống công cụ quản lý kinh tế. Có thể sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các
công cụ đó như thế nào? Ví dụ thực tế để phân tích cơ chế tác động của 1 công cụ vào
hoạt động của nền kinh tế mà anh (chị) nắm vững.

I. Hệ thống công cụ quản lý kinh tế:

1. Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý sử dụng
để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra.

2. Công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện mà nhà
nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý kinh tế của nhà nước nhằm đạt được các
mục tiêu đã xác định. Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác
động quản lý của nhà nước mà nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mình đến các
chủ thể, các thành viên tham gia hoạt động trong nền kinh tế.

3. Hệ thống công cụ quản lý kinh tế của nhà nước bao gồm các nhóm:

a. Công cụ thể hiện ý đồ, mục tiêu của quản lý:
+ Đường lối
+ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
+ Kế hoạch.


II. Sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các công cụ đó như thế nào?

III. Ví dụ thực tế để phân tích cơ chế tác động của 1 công cụ vào hoạt động của nền
kinh tế mà anh (chị) nắm vững.

Câu 10: Trình bày các công cụ chủ yếu của chính sách tài chính. Cho ví dụ
minh hoạ của 1 công cụ của chính sách này.

Trình bày các công cụ chủ yếu của chính sách tài chính:

1. Theo cách hiểu chung nhất chính sách tài chính là hệ thống các quan điểm, nguyên
tắc xử lý của nhà nước đối với các quan hệ tài chính quốc gia thông qua việc sử dụng các
công cụ tài chính, cụ thể là thuế và chi tiêu ngân sách. Trong kinh tế vĩ mô chính sách tài
chính là việc Chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công cộng để điều tiết mức chi tiêu
chung của nền kinh tế, đưa nền kinh tế về mức sản lượng tiềm năng.

Về nguyên tắc, Chính phủ sử dụng chính sách tài chính nhằm duy trì tổng cung của
toàn xã hội luôn tương ứng hoặc xấp xỉ sản lượng tiềm năng của nên kinh tế, thông qua đó
có thể loại bỏ được hiện tượng suy thoái hoặc tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế, đảm
bảo sự phát triển ổn định, cân bằng, bền vững.

Giả sử nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp, các nhà doanh
nghiệp tư nhân không muốn đầu tư thêm, người tiêu dùng không muốn chi tiêu thêm cho
tiêu dùng. Lúc này để mở rộng tổng cầu, Chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế,
nâng cao mức chi tiêu chung của nền kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong trạng
thái phát đạt quá mức, lạm phát tăng lên, Chính phủ có thể giảm chi tiêu và tăng thuế, nhờ
đó mức chi tiêu chung giảm đi, sản lượng giảm theo và lạm phát sẽ chững lại.

Như vậy, mục tiêu của chính sách tài chính là nhằm đảm bảo tăng trưởng ổn định.


Sự xuất hiện nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nhà nước tồn
tại và thực hiện chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền lực chính trị để ban hành
những quyết định pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối lại 1 phần của cải của xã hội
và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước. Sự xuất hiện sản phẩm thặng dư trong xã
hội và cơ sở chủ yếu tạo khả năng và nguồn thu để thuế tồn tại, phát triển. Như vậy, thuế là
phạm trù lịch sử và là 1 tất yếu khách quan xuất phát từ nhu cầu đáp ứng chức năng của
nhà nước. Thuế phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của
nhà nước. Thuế được nhà nước sử dụng như 1 công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần điều chỉnh kinh tế và điều hoà thu nhập.

Thuế là khoản thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.

+ Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế.
+ Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã
hội.

Khi nền kinh tế ở trạng thái suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao, tổng cầu giảm, các doanh
nghiệp giảm đầu tư, dân cư giảm tiêu dùng, Nhà nước giảm thuế cho dân, nhờ đó làm tăng
thu nhập khả dụng, doanh nhân lại tăng đầu tư, dân cư lại tăng tiêu dùng, tổng cầu lại tăng
thúc đẩy cung, kinh tế sẽ ra khỏi suy thoái.

Khi nền kinh tế ở trạng thái nóng, cầu tăng hơn cung, Nhà nước có thể tăng thuế để
hạn chế mức tiêu dùng của toàn xã hội. Khi đó giá cả sẽ hạ, cung sẽ giảm, nền kinh tế trở
lại mức tăng trưởng ổn định.

Câu 11: Trình bày các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ.

1. Chính sách tiền tệ là hệ thống quan điểm, nguyên tắc do nhà nước đề ra để chỉ đạo
việc xây dựng các giải pháp tiền tệ nhằm ổn định nền kinh tế quốc dân. Theo lý thuyết

thu hẹp được khối lượng tín dụng. Ngược lại, cần bơm tiền vào lưu thông cho phù hợp với
mức tăng trưởng của nền kinh tế, hay bù lượng tiền thiếu hụt do lạm phát giá khi chưa
ngăn chặn được, Ngân hàng nhà nước mua lại các chứng chỉ có giá của Chính phủ. Nhờ
vậy, 1 khối lượng tiền được phát hành vào lưu thông để mở rộng tín dụng, thúc đẩy đầu tư,
giảm bớt thất nghiệp.

Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến tăng trưởng sản lượng về mặt ngắn
hạn, song do tác động đến đầu tư nên nó cũng có ảnh hưởng đến sản lượng tiềm năng về
mặt dài hạn.

Ví dụ: Lãi suất.

Lãi suất là số so sánh giữa số tiền phải trả thêm mà vốn được sử dụng trong 1 khoảng
thời gian nhất định.

Vai trò của lãi suất: Giúp cho các doanh nghiệp đầu tư 1 cách có hiệu quả; là công cụ
điều tiết vĩ mô nền kinh tế; là công cụ thu hút vốn đầu tư.

Khi lãi suất thay đổi, nó tác động nhiều đến hoạt động của nền kinh tế:

+ Lãi suất tăng - nhu cầu tiền giảm - đầu tư giảm- sản lượng giảm- nền kinh tế

+ Lãi suất giảm - nhu cầu tiền tăng - đầu tư tăng - sản lượng tăng - nền kinh tế

Nhà nước vận dụng công cụ lãi suất:

+ Khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp nhiều, mở rộng chính sách tiền tệ, thực hiện
chính sách tiền tệ nới lỏng, làm cho cung tiền tăng, giảm lãi suất. Khi lãi suất giảm, cung
tiền tăng, đầu tư sẽ tăng lên, thì sản lượng cũng sẽ tăng theo, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp
giảm. Ví dụ: Thông qua nghiệp vụ thị trường mở - mua trái phiếu, giảm tỷ lệ dự trữ bắt

để tác động vào nền kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Các yếu tố cấu thành cơ chế quản lý kinh tế bao gồm: Mục tiêu của quản lý kinh tế,
chức năng, nguyên tắc, phương thức, các công cụ và hướng vận dụng chúng trong quản lý
kinh tế.

II. Những nội dung đổi mới cơ chế quản lý hiện nay so với cơ chế quản lý kinh tế
kế hoạch hoá tập trung trước đây:

1. Về mục tiêu:

+ Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây là nhằm xây dựng 1 nền
kinh tế XHCN, có lực lượng sản xuất hiện đại, quan hệ sản xuất tiến tiến. Trong đó, mọi
thành viên trong xã hội đều được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và khẳng định phải
xây dựng ngay 1 nền kinh tế chỉ có 1 thành phần kinh tế với 2 hình thức sở hữu toàn dân
và tập thể.

+ Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay là xây dựng 1 nền kinh tế XHCN, dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Và khẳng định để đạt được mục tiêu đó cần
phải xây dựng 1 nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu và
nhiều thành phần kinh tế.

2. Về chức năng quản lý:

+ Trước đây, Nhà nước can thiệp 1 cách trực tiếp, toàn diện, triệt để và sâu rộng vào
mọi lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế. Nhà nước đóng vai trò người chỉ huy trực tiếp tất
cả các hoạt động kinh tế. Các cơ quan Nhà nước tập trung trong tay mình cả 3 quyền chi
phối, đó là quyền quản lý nhà nước về hành chính kinh tế, quyền của chủ sở hữu nhà nước
đối với các doanh nghiệp và quyền quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp.

hiện chế độ hạch toán thực chất thể hiện trên 4 nguyên tắc: tự bù đắp và có lãi; đảm bảo
tính độc lập về tài chính; chịu trách nhiệm vật chất và được khuyến khích bằng lợi ích vật
chất; thực hiện giám đốc bằng đồng tiền đối với hoạt động của doanh nghiệp.

5. Về phương pháp quản lý:

+ Trước đây, dựa vào mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, các phương pháp rất ít được
vận dụng.

+ Nay có sự kết hợp đồng bộ các phương pháp, đó là: phương pháp hành chính,
phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục.

6. Về công cụ quản lý:

+ Trước đây, chủ yếu sử dụng công cụ kế hoạch pháp lệnh mang tính áp đặt từ cấp
trên xuống cấp dưới trong việc giao nhiệm vụ sản xuất kinh doanh bằng 1 hệ thống chỉ tiêu
kế hoạch pháp lệnh.

+ Nay nhà nước sử dụng 1 hệ thống đồng bộ các công cụ kinh tế vĩ mô để quản lý
nền kinh tế, đó là: Đường lối phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, pháp lệnh kinh tế, các chính sách kinh tế và các
công cụ của các chính sách kinh tế.

Câu 13: Khái niệm và các yếu tố cấu thành của cơ chế quản lý kinh tế. Trình
bày những nội dung cần được thực hiện để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở Việt Nam

I. Khái niệm và các yếu tố cấu thành của cơ chế quản lý kinh tế.

1. Cơ chế là 1 khái niệm chỉ sự diễn biến của quá trình vận hành nội tại của 1 hệ
thống, trong đó có sự tương tác giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành nên hệ thống trong

chung so với các hướng cụ thể hành động.

Trong quản lý, cần phải có nguyên tắc, bởi vì mỗi cấp quản lý bên trên không thể và
cũng không cần chỉ ra phương hướng hành động quá cụ thể cho cấp dưới, đồng thời cũng
không phó mặc cho cấp dưới tuỳ ý hành động. Do vậy người quản lý phải đề ra hướng
hành động cho mọi cấp dưới ở 1 mức nào đó. Cái mức không quá cụ thể đó được gọi là
nguyên tắc. Trong quản lý về kinh tế bao gồm những nguyên tắc sau:

+ Tập trung dân chủ.
+ Kết hợp quản lý nhà nước về kinh tế theo ngành và theo lãnh thổ.
+ Phân biệt quản lý nhà nước về kinh tế với quản trị kinh doanh.
+ Bảo vệ quyền lợi và quyền làm chủ cho người lao động.
+ Tăng cường pháp chế XHCN trong quản lý kinh tế.

2. Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế: Phương pháp quản lý là tổng
thể các cách thức và biện pháp quản lý, có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong hoạt động
quản lý kinh tế, nhà nước có thể và cần thực hiện đồng thời 3 phương pháp sau:

+ Phương pháp cưỡng chế: Thực chất là dùng sự thiệt hại làm áp lực để buộc đối
tượng tuân thủ theo mục tiêu quản lý của nhà nước, được dùng khi cần điều chỉnh các hành
vi mà hậu quả của nó có thể gây ra thiệt hại cho cộng đồng và cho nhà nước.

+ Phương pháp kích thích: bản chất của kích thích là dùng lợi ích làm động lực để
khiến đối tượng vì muốn có lợi ích mà tuân theo mục tiêu quản lý do nhà nước đề ra.
Phương pháp này được dùng khi cần điều chỉnh các hành vi không có nguy cơ gây hậu quả
xấu cho cộng đồng, cho nhà nước hoặc chưa đủ điều kiện áp dụng phương pháp cưỡng chế.

+ Phương pháp giáo dục thuyết phục: bản chất là tạo ra sự giác ngộ trong đối tượng
quản lý để đối tượng quản lý tự quản lý, tự thân vận động theo chân lý, đạo lý, pháp lý, cần
được áp dụng phương pháp này trong mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tương, bởi vì suy cho cùng

vụ quản lý trong nội bộ bộ máy, nâng cao trình độ công chức.

Tổ chức và hoạt động của chủ thể quản lý phải phù hợp với khách thể quản lý. Do
vậy, khi đối tượng quản lý có sự thay đổi thì chủ thể quản lý cũng phải thay đổi theo.
Những đổi mới của đối tượng quản lý trong quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta trong
thời gian qua đã có ảnh hưởng đến chủ thể quản lý là nhà nước trên các mặt sau:

+ Làm thay đổi vị trí của nhà nước đối với các doanh nghiệp.
+ Làm thay đổi chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế.
+ Làm thay đổi khối lượng công tác quản lý.
+ Làm thay đổi yêu cầu đối với các phương thức, phương pháp, biện pháp quản lý.

Do những thay đổi của đối tượng quản lý, công cuộc đổi mới quản lý nhà nước về
kinh tế cần phải nhằm vào các phương diện và thay đổi chúng theo các hướng sau:

1. Đổi mới chức năng nhiệm vụ quản lý của nhà nước:

+ Nhà nước phải tập trung vào chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội trong kinh
tế, coi đây là chức năng căn bản của quản lý nhà nước về kinh tế, như vậy với chức năng
này trong nền kinh tế đa sở hữu, quản lý của nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất
của nền kinh tế, do vậy, dù muốn hay không nhà nước cũng không có quyền can thiệp vào
nền kinh tế như 1 ông chủ mà chỉ có thể như 1 trọng tài, 1 nhạc trưởng đứng ngoài cuộc
chơi để điều chỉnh người trong cuộc thực hiện cuộc chơi kinh tế sao cho hợp lý, hợp tình.

+ Nhà nước phải đặc biệt coi trọng và thực hiện tốt chức năng hỗ trợ công dân lập
thân, lập nghiệp về kinh tế, coi đó là 1 trong những nét đặc thù của sự đổi mới chức năng
quản lý nhà nước về kinh tế so với trước thời kỳ đổi mới. Chức năng này chiếm 1 phần lớn
công sức của nhà nước, là chức năng thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của nhà nước. Nhờ
thực hiện tốt chức năng này mà nhà nước có uy tín với nhân dân, nền chính trị được ổn
định.

quản lý, khi chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế đã thay đổi thì cơ cấu bộ máy
nhà nước ta để quản lý nhà nước về kinh tế cần phải được đổi mới theo hướng sau:

+ Thực hiện tốt nguyên tắc "tập trung-dân chủ".
+ Tách quản lý nhà nước khỏi quản trị kinh doanh.
+ Kết hợp tốt quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ, tinh giảm đầu mối, xoá
bỏ chồng chéo.

Chương II

Câu 14: Trình bày khái niệm doanh nghiệp nhà nước. Nội dung chủ yếu của
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước.

I. Trình bày khái niệm doanh nghiệp nhà nước:

1. Theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003: Doanh nghiệp nhà nước là "tổ
chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,
được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn".

Như vậy, với việc phân loại doanh nghiệp nhà nước chúng ta có thể thấy có 1 điểm
khác biệt khá lớn, đó là theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995, doanh nghiệp nhà
nước chỉ tồn tại dưới dạng doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, được tổ chức bằng hình
thức doanh nghiệp nhà nước độc lập và tổng công ty nhà nước, nhưng hiện nay doanh
nghiệp nhà nước có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, đó là doanh nghiệp nhà nước có
100% vốn của nhà nước và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước do
nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp.
Và doanh nghiệp nhà nước được tổ chức dưới nhiều hình thức như sau:

+ Công ty nhà nước: là doanh nghiệp do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thành


- 24 -
+ Công ty TNHH nhà nước 1 thành viên là công ty TNHH do nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo qui định của Luật doanh
nghiệp.

+ Công ty THNN nhà nước có 2 thành viên trở lên là công ty TNHH trong đó tất cả
các thành viên đều là công ty nhà nước hay có thành viên là công ty nhà nước và thành
viên khác là tổ chức được nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo qui
định của Luật doanh nghiệp.

II. Nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước:

1. Xây dựng chiến lược qui hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển hệ thống
doanh nghiệp nhà nước.

+ Vị trí và tầm quan trọng: Đây là bước mở dầu của toàn bộ quá trình quản lý nhà
nước đối với doanh nghiệp nhà nước, phải có định hướng này mới có thể tiến hành được
hoạt động đầu tư xây dựng doanh nghiệp nhà nước.

+ Những sản phẩm quản lý cơ bản cần tạo được qua nội dung này: Khi thực hiện nội
dung trên, công tác quản lý nhà nước phải tạo ra được các sản phẩm quản lý như:

- Những chỉ tiêu thể hiện nhiệm vụ riêng của hệ thống doanh nghiệp nhà nước.

- Mô hình tổng thể lực lượng doanh nghiệp nhà nước cần có để dảm nhận những
nhiệm vụ nói trên, được thể hiện thành các dự án doanh nghiệp nhà nước cụ thể.

- Phần tăng, giảm lực lượng doanh nghiệp nhà nước so với mô hình trên, trong đó có
những doanh nghiệp nhà nước mới cần xây dựng, bổ sung mới bằng vốn nhà nước và các


- Nội dung này được tiến hành với 2 nội dung chính là tổng kết, đánh giá hệ thống
pháp luật, thể chế hiện hành, chỉ ra những bất cập và những tình tiết không khả thi, sự cần
thiết phải sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ.Trên cơ sở đó đưa ra những qui định mới phù hợp
với tình hình và nhiệm vụ mới của doanh nghiệp và của các cơ quan nhà nước trong việc
quản lý các doanh nghiệp. - 25 -
3. Tổ chức đầu tư xây dựng doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch, dự án đã
lập:

a. Mục tiêu, yêu cầu: Phải tạo ra được kết quả như sau: Biến các kế hoạch, dự án xây
dựng mới, xây dựng lại, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước thành hệ thống doanh
nghiệp nhà nước mới, công ty cổ phần nhà nước, công ty hoặc doanh nghiệp tư nhân trên
thực tế.

b. Nội dung: được chia thành 2 loại việc chính:

+ Xây dựng mới , xây dựng lại, chỉnh đốn doanh nghiệp nhà nước: Toàn bộ hoạt
động này được tiến hành theo trình tự quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

+ Chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước: được tiến hành theo các qui định về
tiến hành giải thể và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.

4. Khai thác, sử dụng các doanh nghiệp nhà nước vào việc thực hiện các nhiệm
vụ chính của nhà nước:

a. Bản chất: Đây chính là việc sử dụng các doanh nghiệp nhà nước vào việc thực
hiện các nhiệm vụ kinh tế mà nhà nước thấy rằng những nhiệm vụ đó cần cho việc thực

đạo, trong đó các doanh nghiệp nhà nước là 1 bộ phận chính yếu. Hôi nghị lần thứ 3 BCH
TW khoá IX đã khẳng định: "Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững
định hướng XHCN, doanh nghiệp nhà nước phải không ngừng được đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng
để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để
kinh tế nhà nước thực hiện chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là chủ
lực trong hội nhập kinh tế". Vai trò trọng yếu của doanh nghiệp nhà nước thể hiện ở các
nội dung sau:

+ Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để nhà nước giữ vững sự ổn định xã
hội, điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN.

+ Mở đường hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng
nhanh và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status