dinh dưỡng cho đối tượng tiểu học - Pdf 25

MỤC LỤC
1.Các đặc điểm sinh lý của đối tượng tiểu học: 3
1.1. Đặc điểm về mặt cơ thể: 3
1.2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống: 4
1.2.1 Hoạt động của học sinh tiểu học: 4
1.2.2 Những thay đổi kèm theo: 5
1.3. Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ) 5
1.3.1 Nhận thức cảm tính: 5
1.3.2. Nhận thức lý tính: 5
1.3.3 Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học: 7
1.3.4 Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học: 8
1.3.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học: 8
1.3.6. Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học: 9
1.3.7. Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu học: 10
2.Nhu cầu dinh dưỡng của đối tượng tiểu học: 10
2.1.Nhu cầu về nǎng lượng và chất đạm ở lứa tuổi này như sau: 10
2.2.Các nguyên tắc để xây dựng chế độ ăn cho trẻ: 12
2.2.1. Thức ăn phải có đủ 4 nhóm chất: bột đường, chất đạm, chất béo, chất xơ: 12
2.2.2. Nước : 12
2.2.3. Thực phẩm an toàn: 13
2.3.Chế độ ăn cho trẻ giai đoạn nhi đồng (tiểu học): 15
3.Một số lưu ý khi cung cấp dinh dưỡng cho đối tượng tiểu học: 17
3.1.Một số lưu ý trong chế độ dinh dưỡng cho trẻ suy dinh dưỡng: 19
3.2.Một số lưu ý trong chế độ dinh dưỡng cho trẻ béo phì: 20
Kết luận: 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
Lời mở đầu:
Dinh dưỡng là một vấn đề quan trọng có thể nói là vào bậc nhất trong cuộc sống
của mỗi con người. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng này lại quá thông dụng, đến mức hầu
như người ta không còn chú ý đến vai trò của nó trong cuộc sống. Điều này có thể tạm

Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận
động như chạy, nhảy, nô đùa,
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các
em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng. Do đó,
các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ,
Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg. Nếu trẻ
vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng đạt
15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ). Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ
có thể xê dịch khoảng 4-5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1-2 kg. Tim của trẻ đập nhanh
khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ
tuần hoàn chưa hoàn chỉnh.
1.2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống:
1.2.1 Hoạt động của học sinh tiểu học:
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ
đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học
hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về
chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt
động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt
động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt
động khác như:
+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối
tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò
chơi vận động.
+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia
đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa, Ngoài ra, trẻ còn còn tham gia lao động
tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 4
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường,

động. Tư duy mở rộng giới hạn của hoạt động nhận thức, đi sâu vào bản chất của sự vật,
hiện tượng và tìm ra những mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng với nhau. Tư duy mở
rộng giới hạn của hoạt động nhận thức, đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng và tìm
ra những mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng.
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát.
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát
hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông
học sinh tiểu học.
* Đặc diểm tư duy của lứa tuổi tiểu học:
-Giai đoạn 1 ( 6 – 7 tuổi ): Tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế + Trẻ học
chủ yếu bằng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng hoặc
những hình ảnh trực quan.
+ Những khái quát của trẻ về sự vật hiện tượng ở giai đoạn này chủ yếu dựa vào
những dấu hiệu cụ thể nằm trên bề mặt của đối tượng hoặc những dấu hiệu thuộc công
dụng và chức năng.
+ Tư duy còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tổng thể.
+ Tư duy phân tích bằng đầu hình thành nhưng còn yếu.
-Giai đoạn 2 ( 8 – 12 tuổi ): Tư duy trực quan hình tượng:
+ Trẻ nắm được các mối quan hệ của khái niệm.
+ Những thao tác về tư duy như phân loại, phân hạng tính toán, không gian, thời
gian, được hình thành và phát triển mạnh. ( Đến cuối giai đoạn 2, tư duy ngôn ngữ bắt
đầu hình thành. Theo lý thuyết phát triển trí tuệ của Piaget, thì đây được gọi là giai đoạn
vận dụng năng lực tư duy cụ thể (concrete operational stage) với hai đặc điểm nổi bật là
trẻ am hiểu nguyên lý bảo tồn và khái niệm nghịch đảo. Tuy nhiên năng lực tư duy của trẻ
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 6
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
còn bị hạn chế bởi sự ràn buộc với những thật tại vật chất cụ thể. Trẻ gặp khó khăn trong
tư duy trừu tượng.
* Tưởng tượng :
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng
tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định
phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực
về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một
bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất
hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để
làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định.
1.3.5 Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:
Trí nhớ có nghĩa là ghi nhớ, cũng là quá trình ghi lại những kí ức hoặc sự vật đã
xảy ra trong não
Phương thức hiệu của việc ghi và tái hiện tài liệu của học sinh không phải do ngẫu
nhiên, mà do trẻ học được dưới sự chỉ dẫn của thầy cô giáo.
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 8
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
Thời gian đầu trẻ đi học tiểu học (lớp 1 và 2), khả năng ghi nhớ của trẻ còn rất máy móc.
Cùng với việc hình thành các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa và tự kiểm tra, trí nhớ chủ
định của trẻ (giai đoạn cuối tuổi tiểu học) phát triển và mang lại hiệu quả trong học tập
hơn là trí nhớ không chủ định.
1.3.6. Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:
Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của
người lớn (học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để được
ông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn
yếu. Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó
khăn.
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 9
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành
mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở
thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng
thú nhất thời.

7.Sữa 400 – 500ml 400 – 500ml
8.Đường 10 – 15g 15 – 20 g
9.Rau xanh 250 – 300g 300 – 500g
10. Quả chín 150 – 200g 200 – 300g
Quá trình hấp thu dưỡng chất vô cùng quan trọng, nhất là ở trẻ em, khi nhu cầu về
phát triển, tăng trưởng cao hơn so với người lớn. Lứa tuổi tiểu học (6-12 tuổi) là lúc trẻ
tập trung phát triển khả năng tư duy, trí nhớ, các kỹ năng đọc, viết, tính toán…Do đó, trẻ
cần có một chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng, học tập hợp lý nhằm tối ưu hóa sự phát triển.
Từ 6 tuổi trẻ em bắt đầu đi học, các
chất dinh dưỡng cung cấp hằng ngày cho trẻ
qua thức ăn không chỉ để trẻ phát triển về thể
chất, mà còn cung cấp năng lượng cho trẻ học
tập. Vì vậy ăn uống hợp lý ở lứa tuổi này
giúp trẻ thông minh, khỏe mạnh và phòng
chống được bệnh tật.
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 11
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
Nhu cầu về năng lượng và chất đạm ở lứa tuổi tiểu học như sau: 6 tuổi: Năng
lượng 1600; chất đạm 36g. 7- 9 tuổi: Năng lượng 1800; chất đạm 40g. 10-12 tuổi: Năng
lượng 2100-2200, chất đạm 50g. Mỗi năm trẻ 6-12 tuổi tăng từ 2-3kg và 5-8cm. Trẻ cần
cung cấp 1600-2200 kcal, 36-50g đạm, 25-30g béo,
500- 700mg canxi/ ngày (Bảng Nhu cầu Dinh
dưỡng khuyến nghị cho người Việt nam). Việc
cung cấp quá thiếu hay thừa chất dinh dưỡng đều
gây hậu quả không tốt cho trẻ. Trẻ béo phì hoặc
suy dinh dưỡng đều học kém, khó tập trung, trí nhớ
giảm.
2.2.Các nguyên tắc để xây dựng chế độ ăn cho trẻ:
Nguyên tắc chung để xây dựng chế độ ăn cho trẻ tốt nhất là là tuân thủ theo 3
nguyên tắc của các nhà nghiên cứu khoa hoc Abbott (Hoa Kỳ) là :

dùng thêm 2 bữa phụ.
Với bữa ăn chính thì cần đủ 4 nhóm thực phẩm (nhóm giàu chất bột, nhóm giàu
chất béo, nhóm giàu chất đạm và nhóm giàu vitamin, khoáng, chất xơ) là nhằm cung cấp
đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ. Với bữa phụ có thể dùng các món ăn gọn nhẹ,
được chế biến sẵn như: bánh bông lan, sữa, chè, khoai
Tiếp theo là cần đảm bảo nhu cầu can-xi, vì can-xi là thành phần quan trọng
trong cấu trúc xương, giúp xương phát triển vững chắc và giúp trẻ phát triển chiều cao.
Can-xi được cơ thể hấp thu tốt từ sữa, mỗi ngày cần cho trẻ uống 500-600ml sữa. Can-xi
còn có nhiều trong những loại thực phẩm như: cua, ốc, tôm tép
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 13
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
Cần cho trẻ dùng thực phẩm giàu lysin, bởi lysin là acid amin góp phần quan trọng
để tăng trưởng chiều cao cho trẻ. Những thực phẩm giàu lysin gồm có: thịt, cá, trứng,
sữa, các loại đậu, đậu nành Cần cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm để tránh thiếu hụt lysin.
Dùng nhiều thực phẩm giàu chất sắt, vì sắt là nguyên liệu để tạo máu. Nếu cơ thể
trẻ thiếu sắt sẽ dẫn đến bệnh thiếu
máu do thiếu sắt, làm chậm tăng trưởng,
ảnh hưởng đến sức khỏe, sức học, khả
năng tư duy, sáng tạo ở trẻ. Thực phẩm
có chứa nhiều chất sắt gồm có: gan,
huyết, trứng, thịt, cá, rau dền
Ăn nhiều thực phẩm giàu chất
kẽm, bởi kẽm rất cần thiết cho những
hoạt động chuyển hóa của cơ thể, giúp phân chia tế bào, thúc đẩy sự tăng trưởng của cơ
thể.
Thiếu kẽm sẽ dẫn đến trẻ biếng ăn, chuyển hóa và trao đổi chất của cơ thể cũng bị
kém đi
Cần sử dụng muối i-ốt trong chế biến thức ăn. I-ốt là nguyên liệu tạo nên nội tiết tố
tuyến giáp, tác động lên hoạt động của nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể, thúc đẩy sự
tăng trưởng. Thiếu i-ốt sẽ dẫn đến trẻ phát triển chậm về thể chất và tâm thần. Thực phẩm

Dầu mỡ cũng cần cho bữa ăn của trẻ. Dầu mỡ giúp cho thức ăn ngon hơn, cung cấp
năng lượng cao và là dung môi giúp hấp thu các vitamin A, D, E, K là những vitamin cần
cho sự phát triển của trẻ. Nên cho trẻ ăn cả dầu và mỡ.
Các chất khoáng và vitamin cũng rất cần thiết cho trẻ ở lứa tuổi này. Chất khoáng
cần cho sự tạo xương, tạo máu và đem lại sự lành mạnh cho các hoạt động chức năng sinh
lý của các bộ phận trong cơ thể. Hàng
ngày trẻ 6-10 tuổi cần 400-500 mg
canxi, nguồn cung cấp canxi không
thiếu nhưng vấn đề là cần tỉ lệ thích hợp
giữa canxi và photpho mới giúp canxi
được hấp thu tốt, tỉ lệ Ca/P tốt nhất là
1,5-2. Để đạt được tỉ lệ canxi/P thích
hợp bữa ăn của trẻ cần có sữa, tôm, cua,
cá thường xuyên.
Ưu tiên cho trẻ nguồn thức ăn động vật (thịt, cá, tôm, trứng…) là nhằm đảm bảo
đủ sắt cho cơ thể. Sắt trong nguồn thức ăn này có hàm lượng cao và dễ hấp thu.
Mọi vitamin đều cần cho trẻ, đặc biệt về nhu cầu vitaminA và vitaminC. Nhu cầu
vitaminA của trẻ lứa tuổi nhi đồng như người lớn từ 400-500 mcg/ngày. VitaminA chính
cống chỉ có trong thức ăn động vật (thịt, trứng, cá, tôm, gan, tim…), tiền vitaminA
(caroten) có nhiều trong rau, củ, quả có màu vàng, đỏ, da cam. Khi vào cơ thể caroten có
thể được chuyển thành Vitamin A, nhưng trẻ em có nhược điểm là hấp thu caroten rất
thấp nhất là khi bữa ăn có quá ít dầu mỡ.
VitaminC cùng với vitaminA rất cần cho sự phát triển, sự tạo máu, tăng cường hệ
miễn dịch. Nhu cầu vitaminC ở tuổi nhi đồng cần từ 55-60mg/ngày và phải được cung
cấp đủ hàng ngày. Ở nước ta rau quả vừa là nguồn cung cấp vitaminA, vitaminC cùng
một số chất khoáng và vitamin khác. Để đảm bảo nhu cầu vitamin cần cho trẻ ăn rau, quả
thường xuyên, nên cho ăn nhiều loại rau, quả theo mùa.
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 16
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
Lượng đạm cần có đủ vì chất đạm tham gia vào cấu trúc mọi tế bào, cái lõi của sự

bữa ăn của trẻ. Khi trẻ mắc bệnh, cần thiết phải đưa trẻ đến BS khám bệnh và chú ý tuân
thủ các chỉ định điều trị của BS, không nên tự ý bỏ khám, thêm hoặc bớt thuốc hoặc nóng
ruột chuyển đổi liên tục nhiều phương pháp điều trị có thể làm bệnh kéo dài. Phải luôn
nhớ rằng tình trạng dinh dưỡng trẻ em xấu đi tỉ lệ thuận với thời gian mắc bệnh. Khi trẻ
bệnh, thường hệ tiêu hóa làm việc kém đi nên trẻ biếng ăn hơn ngày thường. Đừng nên
hốt hoảng bắt ép trẻ ăn đủ lượng thức ăn hàng ngày bằng mọi cách. Nên chia các bữa ăn
ra làm nhiều bữa nhỏ, có thể cho ăn lỏng nhẹ hơn như cháo, súp, sữa. Cũng nên tránh một
thái độ hoàn toàn ngược lại là quá kiêng cữ, không cho trẻ ăn đủ chất trong khi bệnh, làm
cho tình trạng dinh dưỡng của bé xấu đi nhanh chóng và bệnh có thể kéo dài hơn. Sau mỗi
đợt bệnh, nên chú ý tăng thêm bữa phụ cho trẻ để bù lại năng lượng đã mất đi trong quá
trình bệnh.
Lứa tuổi này trẻ đã hoàn toàn ăn cùng với gia đình, tuy nhiên các bà mẹ cần lưu ý
một số điểm như sau:
- Cho trẻ ăn no và nhiều vào bữa sáng (để tránh ăn quà vặt ở đường phố, hoặc một
số trẻ ăn quá ít, nhịn sáng sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, thậm chí hạ đường huyết
trong giờ học)
- Nên cho trẻ ăn nhiều loại thực
phẩm khác nhau, tránh ăn một vài loại
nhất định.
- Ăn đúng bữa, không ăn vặt,
không ăn bánh, kẹo, nước ngọt trước
bữa ăn.
- Không nên nấu thức ăn quá
mặn, tập thói quen ăn nhạt.
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 18
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
- Không nên ăn quá nhiều bánh kẹo, nước ngọt vì dễ bị sâu răng. Ðến bữa ăn nên
chia suất ăn riêng cho trẻ, để tránh ăn quá ít hoặc quá nhiều.
- Tập thói quen uống nước kể cả khi không khát, lượng nước nên uống một lít một
ngày.

Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
3.2.Một số lưu ý trong chế độ dinh dưỡng cho trẻ béo phì:
- Khẩu phần ăn của trẻ cần cân đối, hợp lý, nên phối hợp nhiều loại thức ăn, tránh ăn
một loại thực phẩm nào đó.
- Nếu uống sữa nên uống không có đường, trẻ lớn nên uống sữa gầy (sữa bột tách bơ).
Không nên uống sữa đặc có đường.
- Chế biến thức ăn: Hạn chế các món rán, xào, nên làm các món luộc, hấp, kho.
- Nên nhai kỹ và ăn chậm, ăn đều đặn, không bỏ bữa, không để trẻ quá đói, vì nếu bị quá
đói, trẻ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích lũy nhanh hơn.
- Nên ăn nhiều vào bữa sáng để tránh ăn vặt ở trường, giảm ăn về chiều và tối.
- Nên ăn nhiều rau xanh, quả ít ngọt. Giảm bớt gạo thay bằng khoai, ngô là những thức
ăn cơ bản giàu chất xơ .
- Không cho trẻ uống các loại nước ngọt có gas.
- Hạn chế các loại bánh kẹo, đường mật, kem, sữa đặc có đường.
- Không nên dự trự sẵn các loại thức ăn giàu năng lượng như: Bơ, pho mát, bánh, kẹo,
chocoat, kem, nước ngọt trong nhà.
- Không nên cho trẻ ăn vào lúc tối trước khi đi ngủ.
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 20
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
Kết luận:
Nhu cầu về dinh dưỡng của lứa tuổi học đường có vai trò rất quan trọng nhằm đảm
bảo không chỉ cho sự phát triển của cơ thể trẻ mà còn đáp ứng được các hoạt động thể lực
đa dạng và khả năng học tập của các em.
Mỗi một lứa tuổi có đặc điểm sinh lý và bệnh lý riêng , nếu áp dụng chế độ chăm
sóc và nuôi dưỡng đúng, trẻ sẽ có một sức khoẻ tốt. Để xác định trẻ đã đủ chất dinh
dưỡng hay chưa cách tốt nhất là theo dõi cân nặng và khám sức của trẻ mỗi tháng để can
thiệp kịp thời, tránh để hậu quả lâu dài.
GVHD:ThS.Trần Thị Thu Hương Page 21
Dinh dưỡng cho trẻ trong độ tuổi tiểu học
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status