MỤC LỤC
Bảng 1.1. Phân loại và cấu trúc một số penicillin 3
Bảng 1.2. Phân loại và cấu trúc một số cephalosporin 5
Bảng 1.3. Hằng số axit của các kháng sinh nghiên cứu 6
1.2. Tình hình lạm dụng kháng sinh ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay 7
Hình 2.1. Sơ đồ nguyên tắc cấu tạo của hệ điện di mao quản 16
Hình 2.2. Cấu trúc của các Mixen và dòng EOF trong MEKC 20
Từ phương trình Hi = k1.Ci khi tăng nồng độ chất phân tích thì chiều
cao pic sắc ký cũng tăng lên, song lý thuyết chỉ ra rằng tỉ lê đó chỉ đúng
trong một khoảng nhất định. Vì vậy chúng tôi phải khảo sát khoảng
tuyến tính của chất phân tích. 48
Bảng 3.8 Chiều cao pic β-Lactam tại các nồng độ khác nhau. 48
Bảng 3.9 Giới hạn phát hiện của phương pháp 51
Bảng 3.13: Đánh giá độ lặp lại của phương pháp phân tích 55
MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề sức khỏe của con người
ngày càng được chú trọng đặc biệt là các sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe
β-Lactam là thuốc kháng sinh tổng hợp quan trọng chữa bệnh cho con người, thú
y từ khi chúng được giới thiệu trên thị trường vào năm 1938 và là loại kháng sinh được
dùng nhiều nhất hiện nay. Liều lượng và cách dùng kháng sinh không đúng sẽ dễ bị vi
khuẩn nhờn thuốc, kháng thuốc, từ đó việc chữa trị bệnh càng khó khăn. Ngoài ra còn
gây lãng phí cho người bệnh vì có các bệnh do virut không chữa được bằng kháng sinh
nhưng vẫn dùng kháng sinh, gây khó khăn cho việc chuẩn đoán các bệnh và ảnh hưởng
sức khỏe của người bệnh. Hàm lượng lớn kháng sinh trong máu gây ra các bệnh về thận,
1
đặc biệt ở người cao tuổi. Vì vậy kiểm soát và phân tích thuốc kháng sinh đối với người
bệnh là biện pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng chúng.
Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tách và xác định đồng thời các
kháng sinh β-Lactam trong các mẫu dược phẩm, sinh học, thực phẩm và môi trường chủ
yếu là các công trình phân tích bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC. Phương pháp
HPLC là phương pháp tách chọn lọc, độ nhạy cao, lượng mẫu bơm ít thời gian phân tích
CH
3
N
H
O
CO
R
COOM
2
3
4
1
56
7
Hình 1.1. Công thức cấu tạo các kháng sinh penicillin
Tên gọi chung công thức của các penicillin khi chưa có gốc R là: (2S,5R,6R 3,3-
dimethyl-7-oxo-4-thia-1-azabicyclo[3.2.0]heptane-2-carboxylic acid
Khi thay thế R bằng các gốc khác nhau, những cacbon bất đối có cấu hình 2S,
5R, 6R ta có các penicilin có độ bền, dược động học và phổ kháng khuẩn khác nhau. Với
M là gốc cation thường là: K, Na, H.
Nhóm kháng sinh penicillin được chia thành 3 nhóm chính với hoạt tính khác
nhau.
Bảng 1.1. Phân loại và cấu trúc một số penicillin
Tên kháng sinh R Hoạt tính
Nhóm penicillin tự
nhiên
Penicillin
G (PENG)
Benzathin
CH
Là các Penicillin bán
tổng hợp. Phổ hẹp như
nhóm I. Kháng
penicilliiase, không tác
động vào vòng β –
Lactam được.
Nhóm penicillin phổ rộng
Ampicillin
(AMP)
CH-
NH2NH2
6-([(2R)-2-amino-2-
phenylacetyl]amino)
Amoxicilli
n (AMO)
CH-
NH2NH2
HO
6-{[(2R)-2-amino-2-(4-
hydroxyphenyl)-acetyl]amino}
Phổ rộng, tác dụng cả
khuẩn gram (+) và (-).
Không kháng β-
lactamase và
penicilliiase
* Các cephalosporin
Các cephalosporin cấu trúc chung gồm 2 vòng: vòng β-Lactam 4 cạnh gắn với 1
dị vòng 6 cạnh, những cacbon bất đối có cấu hình 6R, 7R. Khác nhau bởi các gốc R
N
H
yếu nhất trên gram (-). Không bền và
dễ bị β-lactamase phá hủy
Cephalexin
(CEP)
CH-
NH
2
H -CH
3
III: Tác dụng tốt trên vi khuẩn gram
(-), trên vi khuẩn gram (+) thì tác
dụng kém penicillin và
cephalosporin thế hệ I. Bền với β-
lactamase
Cefixim
(CEF)
S
N
N
NH
2
HOOCCH
2
O
H -CH=CH
2
Tính chất:
Các β-lactam thường ở dạng bột kết tinh màu trắng, dạng axit ít tan trong nước,
dạng muối natri và kali dễ tan; tan được trong metanol và một số dung môi hữu cơ phân
cực vừa phải. Tan trong dung dịch axit và kiềm loãng do đa phần chứa đồng thời nhóm –
trình tổng hợp peptidoglycan không được thực hiện. Sinh tổng hợp vách tế bào bị ngừng
lại. Ít tác dụng trên vi khuẩn gram (-). Mặc khác, các penicillin còn hoạt hóa enzym tự
phân giải murein hydroxylase làm tăng phân hủy vách tế bào, kết quả là vi khuẩn bị tiêu
diệt.
Ngăn cản xây dựng và giảm độ bền của mang tế bào vi khuẩn nên chủ yếu kìm
hãm sự tồn tại và phát triển của vi khuẩn. Các kháng sinh β-lactam có hoạt phổ rộng.
Kháng thuốc:
Vi khuẩn sinh ra các β-lactamase, là enzim có tác dụng mở vòng β-lactam, theo
phản ứng ái nhân vào nhóm C=O, làm kháng sinh mất tác dụng. Tất cả các cách kháng
không sinh ra β-lactamase để thực hiện gọi là kháng gián tiếp (được gọi là kháng
methicillin).
Độc tính:
6
Các kháng sinh β-lactam độc tính thấp, nhưng cũng dễ gây dị ứng thuốc: dị ứng,
mày đay, vàng da, gây độc với thận, rối loạn tiêu hóa…nguy hiểm nhất là sốc phản vệ..
Thuốc không dùng cho trẻ sơ sinh và trong thời kỳ cho con bú. Chống chỉ định dị
ứng với thành phần của thuốc.
1.2. Tình hình lạm dụng kháng sinh ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay
Như trên cho thấy, có nhiều loại kháng sinh khác nhau, tác động bằng các cơ chế
khác nhau đối với các vi trùng khác nhau. Kháng sinh chỉ có tác dụng với các bệnh do vi
trùng (bacteria), không có tác dụng với các bệnh do siêu vi (virus). Để điều trị bệnh
nhiễm trùng cần biết loại vi trùng gây bệnh để chọn kháng sinh thích hợp. Vì thiếu hiểu
biết và vì tin tưởng sai lầm, nên ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát
triển, người ta đã dùng kháng sinh quá nhiều, cả khi không cần thiết, không đúng chỉ
định và không đúng cách.
Năm 2000, các bác sĩ Hoa kỳ viết 160 triệu toa thuốc kháng sinh cho 275 triệu
người dân, một nửa đến 2/3 số toa đó được coi là không cần thiết.Theo R. Gonzales
[6,26], 3/4 số kháng sinh dùng ở ngoại chẩn là cho viêm đường hô hấp trên trong khi
60% các trường hợp viêm đường hô hấp trên là do siêu vi, không cần và không điều trị
được bằng kháng sinh. Dùng cephalosporins bừa bãi khiến enterococus trở nên đề kháng
Sự Đề Kháng Kháng Sinh”. Kế hoạch đề cập đến mọi hoạt động y tế của tất cả các quốc
gia đã phát triển cũng như đang phát triển: Phòng thí nghiệm phải tăng cường khả năng
chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng, giúp chẩn đoán nhanh chóng và chính xác, đo lường độ
nhạy của kháng sinh, đo nồng độ kháng sinh trong máu. Ngành dược cần cung cấp đầy
đủ thuốc thiết yếu, ngăn ngứa sự lưu hành của các thuốc giả, 5% lượng thuốc lưu hành
tại các nước đang phát triển là thuốc giả mạo, không đúng phẩm chất, hàm lượng hoặc
không có hoạt chất……
8
Nếu ngăn ngừa được sự phát triển của các vi trùng kháng thuốc chúng ta sẽ bảo
vệ được môi trường sống, duy trì được sự hữu hiêu của kháng sinh, hạn chế được chi phí
về y tế và cứu đươc nhiều sinh mạng.
1.3. Các phương pháp phân tích định lượng β-lactam
1.3.1. Phương pháp quang học
Phương pháp đo quang là phương pháp phân tích dựa trên tính chất quang học
của chất cần phân tích như tính hấp thụ quang, tính phát quang… Các phương pháp này
đơn giản, dễ tiến hành, thông dụng, được ứng dụng nhiều khi xác định β-lactam, đặc biệt
trong dược phẩm.
Các β-lactam hấp thụ UV nhưng không nhiều cực đại hấp thụ, chúng cũng tạo
phức với một số ion kim loại giúp nâng cao độ nhạy của phép đo. Trong nhiều trường
hợp, các β-lactam được thủy phân thành các chất đơn giản hơn để phân tích.
Các phương pháp phát quang có thể dùng xác định các β-lactam với độ nhạy khá
cao dựa trên đặc tính tạo phức với ion kim loại hay phản ứng quang hóa của các β-
lactam.
A. Fernández-González và cộng sự [11] dùng Cu
2+
thủy phân và tạo phức với
AMP, với bước sóng kích thích 343nm, phát xạ 420nm có giới hạn phát hiện thu được
4.10
-7
M (0.16 mg/l). Phương pháp này kết hợp phương pháp dòng chảy cho hiệu quả và
Trong những năm gần đây, phương pháp HPLC đã đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong việc tách và phân tích các chất trong mọi lĩnh vực khác nhau, nhất là
trong việc tách và phân tích lượng vết các chất. Phương pháp HPLC với cột tách pha đảo
được sử dụng rất rộng rãi để xác định các kháng sinh β-lactam trong các loại mẫu khác
nhau do có nhiều ưu thế so với các phương pháp khác vì có độ chính xác, độ nhạy, độ
lặp lại cao, khoảng tuyến tính rộng…
Detector ghép nối trong máy HPLC cho phép phát hiện sự xuất hiện chất sau khi
rửa giải. Hiện nay có rất nhiều loại detector được sử dụng cho mục đích này đã mở rộng
khả năng phân tích được rất nhiều loại chất bằng phương pháp HPLC. Đối với phân tích
dư lượng, detector khối phổ (MS) là một sự lựa chọn ưu tiên do có thể phát hiện và phân
tích chất trong các đối tượng phức tạp.
Theo [29], Blanchflower WJ và cộng sự dùng HPLC – MS phân tích penicillin V,
PENG, OXA, CLO, dicloxacillin trong thịt, thận và sữa. Điều kiện chạy sắc ký: cột
10
Inertsil ODS2
(4,6 mm×150 mm, 5 μm); pha động: ACN – (C
2
H
5
)
3
N 0,5% (45/55), dùng
nafcillin làm nội chuẩn đạt giới hạn phát hiện trong sữa 2-10 μg/kg, trong thịt 25-100 μg/
kg.
J.M. Cha và cộng sự [19] dùng phương pháp HPLC – MS để phân tích β-lactam
trong nước sông và nước thải. Điều kiện chạy sắc ký: cột Xterra MS C
18
(2.1 mm×50
mm, 2.5 μm); pha động: A = axit focmic 0,1%, B = Metanol (MeOH), C = Acetonitril
tách cao, thời gian tách ngắn, lượng mẫu tiêu tốn ít. Phương pháp đã được ứng dụng để
tách và xác định các kháng sinh β-lactam trong nhiều đối tượng mẫu khác nhau.
L. Nozal, L. Arce1,A.R´ıos, M. Valcárcel [21] sử dụng phương pháp điện di mao
quản điện động học kiểu Mixen (MEKC) với thành phần dung dịch đệm điện di gồm 40
mM đệm Borat, 100 mM SDS pH 8.5. Tiến hành phân tích tại thế điện di 10 kV, nhiệt
độ 20
0
C, thời gian bơm mẫu 10s. Phương pháp cho phép tách 6 kháng sinh gồm: AMO,
AMP, PENG, OXA, penicillin V và CLO ứng dụng phân tích trong mẫu nước thải của
trang trại chăn nuôi. Giới hạn phát hiện từ 0.14 đến 0.27 mg/l, độ lệch chuẩn tương đối
thời gian lưu từ 0.25 đến 0.86%, diện tích pic 1.3 đến 4.15%. Độ thu hồi trên 96%.
Biyang Deng và cộng sự [15] đã sử dụng phương pháp điện di với detector điện
quang hóa xác định AMO trong nước tiểu người với giới hạn phát hiện thấp 0.31 μg/l,
khoảng tuyến tính rộng 1 μg/l – 8 mg/l cùng độ thu hồi cao 95.77%, độ lệch chuẩn tương
đối không lớn hơn 2.2% và thời gian phân tích ngắn 6 phút/ mẫu.
Attila Gaspar và cộng sự [14] đã tách và xác định thành công 14 kháng sinh họ
cephalosporin bằng phương pháp điện di mao quản vùng (capillary zone electrophoresis
– CZE). Quá trình tách dùng đệm photphat 25 mM có pH = 6.8. Phương pháp này tách
được 14 kháng sinh trong vòng 20 phút, giới hạn phát hiện 14 kháng sinh cefalosporin C,
cefoxitin, cefazolin, cefadroxil, cefoperazon, cefamandol, cefaclor, CEP, CEF,
ceftibuten, cefuroxim, ceftazidim, cefotaxim, ceftriaxon với giới hạn phát hiện 0.42 –
1.62 mg/l. Trong đó CEP và CEF có giới hạn phát hiện tương ứng 1.62 và 0.89 mg/l;
khoảng tuyến tính 5 – 200 mg/l. Mục đích của phương pháp được ứng dụng để nghiên
12
cứu độ bền của kháng sinh họ Cephalosporins trong nước tại nhiệt độ khác nhau (+25,
+4 và -18
0
C). Kết quả cho thấy các kháng sinh giảm nồng độ không lớn hơn 20% tại
nhiệt độ phòng sau khi pha loãng.
M.I.Bailon-Perez và cộng sự [22] sử dụng phương pháp CZE và detector UV –
(AMO), cephalexin (CEP), cefixim (CEF) là các kháng sinh β-lactam được sử dụng phổ
biến hiện nay.
2.1.2. Nội dung nghiên cứu
Nội dung đề tài cần giải quyết là:
14
- Lựa chọn phương pháp nghiên cứu là phương pháp điện di mao quản điện động
học kiểu Mixen (MEKC) với detector DAD
- Nghiên cứu chọn điều kiện tối ưu tách các kháng sinh β-lactam có thể
tách và xác định đồng thời các kháng sinh β-lactam như: pH, nồng độ
chất điện ly, điện thế, nhiệt độ….
- Đánh gía thống kê phương pháp phân tích
- Áp dụng phân tích một số mẫu thuốc và mẫu máu
- Đánh giá ưu khuyết điểm của phương pháp 25
0
C
2.2. Giới thiệu chung về phương pháp Điện di mao quản [7,8,20]
Để thực hiện được nhiệm vụ của luận văn, kỹ thuật tách được chọn là phương
pháp điện di mao quản điện động học kiểu Mixen (MEKC)
2.2.1. Nguyên tắc của phương pháp điện di mao quản
- Nguyên tắc của sự tách: là dựa trên cơ sở tính chất điện di (sự di chuyển -
Mobility) của các phần tử chất tan (các ion chất tan, chất phân tích) trong mao quản
(đường kính 25 - 100 µm ID) trên nền của dung dịch chất điện giải và có chất đệm pH
thích hợp, dưới tác dụng của một từ trường điện E nhất định được cung cấp bởi một
nguồn thế cao một chiều (V: 15 - 40 kV) đặt vào hai đầu mao quản. Nghĩa là CEC là kỹ
thuật tách được thực hiện trong mao quản nhờ lực từ trường điện E điều khiển sự tách
của các chất. Việc dùng cột mao quản có nhiều ưu việt, như tốn ít mẫu và các hoá chất
khác phục vụ cho sự tách, nhưng số đĩa hiệu dụng N
ef
lớn, sự tách các chất xẩy ra nhanh
và hiệu quả cao.
pha tĩnh giả (Mixen, trong hệ MEKC),
7. Hiệu ứng nhiệt Jun, làm mao quản nóng lên,
8. Sự phân tán, gradient và truyền nhiệt từ tâm mao quản ra xung quanh.
9. Sự di chuyển (sự điện di) của các chất (như các ion âm, ion dương, và phần tử
trung tính) trong mao quản. Đây là quá trình chính tạo ra sự sắc ký của các chất.
Nhưng các quá trình trên (1-8) lại có tương tác và ảnh hưởng đến quá trình 9, nó có thể
làm tốt và cũng có thể làm xấu quá trình điện di chuyển này của chất.
Đó là các quá trình luôn xẩy ra trong mao quản của HPCEC. Trong 9 quá trình
xẩy ra đó, chỉ có quá trình 9 là dẫn đến sự tách của các chất, nhưng các quá trình khác
(1-8) lại ảnh hưởng đến quá trình 9, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp. Vì thế, muốn có kết
quả điện di tốt, nhất thiết chúng ta phải luôn xem xét tất cả các quá trình đó và các
yếu tố liên quan đến các quá trình đó trong mao quản. Tức là phải tối ứu hoá các
điều kiện điện di cho một loại đối tượng mẫu và các chất cần xác định, để có được
hiệu quả tách cao.
2.2.4. Sự phân loại hay các kiểu (mode) của phương pháp điện di mao quản
Sắc ký điện di mao quản rất đa dạng, nhiều kiểu, từ đơn giản đến hoàn chỉnh và phức
tạp, nhưng tuỳ theo cơ chế, bản chất, và đặc điểm của sự tách (sự điện di) xẩy ra trong
ống mao quản mà người ta thường phân chia thành các loại hay các kiểu (Mode) khác
17
nhau, và gán cho mỗi kiểu một tên riêng, để dễ hiểu, hay phân biệt và sử dụng chúng cho
thích hợp. Cụ thể các kiểu đó là:
1. Điện di mao quản cổ điển (Capillary Electrophoresis: CE)
2. Điện di mao quản vùng (Capillary Zone Electrophoresis: CZE)
3. Điện di mao quản điện động học kiểu Mixen (Micell), (Micellary Capillary Electro-
Kenetic:MEK hay MCEK).
4. Điện di mao quản Gel-Filter (sàng lọc hay rây phân tử), (Capillary Gel
Electrophoresis: Gel-CE),
5. Điện di mao quản hội tụ đẳng điện (Capillary Iso-electric Focusing : CIEF).
6. Điện di mao quản đẳng tốc độ (Capillary Iso-Tacho-Phoresis: CITP).
2.2.5. Phương pháp điện di mao quản điện động học kiểu Mixen (MEKC)
sẽ có một hằng số phân
bố K
i
nhất định trong điều kiện đó. Nếu các K
i
của các chất tan là khác nhau rõ rệt thì sẽ
có được kết quả sắc kí điện di tốt.
Phương pháp MEKC dùng để tách các chất phân tích có điện tích và không có
điện tích. Đối với các chất có điện tích, các Mixen loại này chuyển động hoặc là cùng
chiều hoặc là ngược chiều với dòng EOF, là tuỳ thuộc vào điện tích của chất hoạt động
bề mặt và cấu trúc của Mixen . Các chất hoạt động bề mặt Aniônic, ví dụ như SDS, sẽ di
chuyển về Anốt (cực dương), nghĩa là ngược chiều với hướng của dòng EOF. Trong
dung dịch đệm điện di có pH trung tính và kiềm, khi dòng EOF di chuyển nhanh hơn tốc
độ của Mixen , thì sự điện di thực (net movement) của Mixen là theo hướng của dòng
EOF. Trong khi di chuyển như thế, các Mixen có thể tương tác với các phần tử chất tan
(chất phân tích) như kiểu phân bố của sắc ký cột lỏng rắn (R-LC) theo cả tương tác ưa
nước, tương tác kị nước và tương tác tĩnh điện, để tạo ra quá trình sắc ký của các chất
mẫu, khi chạy qua cột mao quản trong quá trình điện di.
19
Hình 2.2. Cấu trúc của các Mixen và dòng EOF trong MEKC
: dòng EOF. O: Chất hoạt động bề mặt. ′: Chất tan (chất PT).⇒ : Dòng điện di của chất
Đối với các phần tử chất tan trung tính, nó chỉ là sự phân bố của chất tan vào
trong Mixen và ở ngoài Mixen (pha động điện di) theo một cân bằng động học có hằng
số phân bố K
i
nhất định trong điều kiện đã chọn. Chính sự phân bố theo kiểu cân bằng
động học này gây ra (tạo ra) sự lưu giữ khác nhau của các chất tan, và tạo ra sự tách sắc
ký các chất phân tích theo kiểu Mixen. Vì thế các Mixen trong ống mao quản của kỹ
thuật tách này được gọi là pha tĩnh giả. Nhiều chất tan tương tác với Mixen khá bền, nó
tồn tại trong Mixen dài hơn (lâu hơn) sự di chuyển của nó, khi các Mixen mang nó (các
)] = K
i
.(V
MC
/V
MP
) (1)
Trong đó:
t
i
: Thời gian lưu của chất tan.
t
0
: Thời gian không lưu giữ của chất.
t
MC
: Thời gian không lưu giữ của Mixen.
K
i
: Hệ số phân bố nhiệt động của chất tan giữa hai pha (V
MC
và V
MP
).
Với V
MC
: Thể tích của pha Mixen , và V
MP
: Thể tích của pha động.
Và tỷ số q = (V
MC
.( 1 + k
i
’) ] / k
i
’ ] (3)
Nghĩa là thời gian lưu t
R
có quan hệ chặt chẽ với hệ số dung tích k
i
’. Khi hệ số k
i
’ lớn,
thì thời gian lưu t
i
cũng lớn. Mặt khác, trong MEKC, tỷ số pha q là phụ thuộc vào nồng
độ của chất hoạt động bề mặt trong mao quản, và quan hệ này được biểu diễn bởi công
thức sau đây.
q = [V.( C
SP
- C
MC
)] / [ 1 – v
mc
.(C
SP
– C
MC
)] (4)
Trong đó:
e
+ µ
MC
).E (6)
Cùng với các tham số t
R
, k
i
’ , R
ij
đã nói ở trên, hệ số phân bố nhiệt động K
i
của chất tan trong hệ MEKC, cũng là một đại lượng quan trọng có liên quan đến các quá
trình xẩy ra trong mao quản và được xác định theo biểu thức sau.
lnK
i
= (∆H
0
/R.T) + ( ∆S
0
/R ) (7)
Trong đó: ∆H
0
, ∆S
0
là Entanpi và Entropi tiêu chuẩn của chất tan. R là hằng số
khí, và T là nhiệt độ (
oK
) của cột mao quản. Biểu thức này cho chúng ta thấy hằng số
phân bố Ki luôn luôn phụ thuộc vào nhiệt độ. Nó cũng là một hằng số nhiệt động.
t
i
= [k
2
’/(k
2
’+ 1)].{[(1 – t
0
/t
mc
)] / [1 + k
1
.( t
0
/t
mc
)]} (11)
Trong đó: k
’
i
: hệ số dung tích
22
t
i
: Thời gian lưu của chất tan.
t
0
: Thời gian không lưu giữ của chất
t
mc
độ của dòng EOF. Nói chung, các hệ đệm điện di có pH tương đối cao, thường được sử
dụng để duy trì dòng EOF có tốc độ đủ lớn và đảm bảo hướng di chuyển ổn định của các
Mixen.
Bảng 2.1. Các chất hoạt động bề mặt dùng trong MEKC
Loại chất Ví dụ CMC (mM) Số phần tử kết tụ (Mixen)
23
Anionic SDS 14 62
Cationic DTAB 14 50
1,3 78
Non-Ionic Octylglucoside - -
(không ionic)
n-Dodecyl-β-D-maltoside
0,16 -
Triton-X 0,24 140
Ionic kép CHAPS 8 10
(Zwitterionic) CHAPSO 8 11
Bile Salts Axít Chlolic 14 2-4
2.2.6. Phân tích định lượng trong phương pháp điện di mao quản
Theo lý thuyết sắc ký, trong một điều kiện sắc ký xác định đã chọn, thì thời gian
lưu của chất là đại lượng đặc trưng để định tính (phát hiện) các chất. Còn chiều cao H
của pic sắc ký hay diện tích S của pic là có liên quan chặt chẽ đến nồng độ C
x
của chất.
Trong một vùng nồng độ nhất định và không lớn, thì chúng ta luôn có biểu thức xác định
mối quan hệ đó là:
H
i
= k
1
.C
(Đức) với detector DAD, kết nối với
phần mềm HP chemstation
- Mao quản silica trần – loại bubble cell, đường kính 50 µm, chiều dài 64.5 cm,
chiều dài hiệu dụng 58 cm của hãng HP (Đức)
24
- Mắc trắc quang UV – 1601PC của hãng Shimadzu
- Máy đo pH TITROLINE của hãng SCHOTT – Đức
- Bể siêu âm, máy ly tâm, hệ thống bơm chân không, cân phân tích, giấy lọc 0.45
μm; 0.2 μm của hãng Millipore (USA)
- Các dụng cụ thí nghiệm thông dụng khác của Phòng thí nghiệm phân tích
2.3.2. Hóa chất
- Các chất chuẩn PENG (Na), AMP.3H
2
O, AMO.3H
2
O, CLO (Na), CEP.H
2
O
,
CEF, OXA do Viện kiểm nghiệm Bộ Y tế ( 48 Hai Bà Trưng – Hà Nội) cung cấp
- Nước deion được lọc qua giấy lọc 0.45µm của hãng Millipore (USA)
- Axít Boric H
3
BO
3
, muối natri tetraborat Na
2
B
4
O
3
BO
3
,
giá trị pH thay đổi cho phép ± 0.05 và được đo sau khi thêm SDS. Dung dịch được bảo
quản ở nhiệt độ thường
- Dung dịch chuẩn được pha trong nước deion từ các chất chuẩn sau đó đem siêu
âm 15 phút được dung dịch nồng độ 1000 mg/l. Dung dịch 1000 mg/l được pha loãng 10
lần thành 100 mg/l.( 1000 mg/l bảo quản trong 2 tháng và 100 mg/l bảo quản 1 tháng).
Các dung dịch nồng độ thấp được pha từ dung dịch 100 mg/l và sử dụng trong ngày.
Dung dịch được bảo quản trong tủ lạnh 4
0
C, tránh ánh sáng trực tiếp.
25