TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
NĂNG LỰC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY
XUẤT KHẨU VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2011
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên : Bùi Thế Tuấn
Mã sinh viên : 0851010662
Lớp : Anh 15 - Khối 7 KT
Khóa : 47
Người hướng dẫn khoa học : Ths. Nguyễn Thị Tường Anh
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
2
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ST
T
Các ký hiệu
viết tắt
Nghĩa đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
1 AMA
American Marketing
Association
Hiệp hội Marketing Hoa
Kỳ
2 ASEAN
triển kinh tế
14 OTEXA
Office of Textiles and
Apparel
Cơ quan Dệt may thuộc Bộ
Thương mại Hoa Kỳ
3
15 R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
16 UNIDO
United Nationns Industrial
Development Organization
Tổ chức Phát triển Công
nghiệp Liên hợp quốc
17 VIETRADE
Vietnam Trade Promotion
Agency
Cục xúc tiến Thương mại
Việt Nam
18 VINATEX
Vietnam National Textile
and Garment Group
Tập đoàn Dệt may Việt
Nam
19 VITAS
Vietnam Textile and
Apparel Association
Hiệp hội Dệt May Việt
Nam
20 WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế Thế giới
21 WTO World Trade Organization
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là đánh giá thực trạng về năng lực cạnh tranh của hàng
dệt may Việt Nam xuất khẩu trên thị trường quốc tế, trên cơ sở đó đề xuất một số
giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng này.
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng về năng lực cạnh tranh của
mặt hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế và các nhân tố ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh đó.
Về phạm vi nghiên cứu, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu thực trạng
năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang một số thị trường
xuất khẩu chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản trong giai đoạn 2006 - 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
đồng thời cũng sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê để đánh giá, so
sánh và giải quyết các vấn đề đã đặt ra.
Nguồn tư liệu, thông tin sử dụng trong khóa luận được lấy từ Tổng cục
thống kê Việt Nam, Hải quan Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam và các nguồn
thông tin chính thức khác từ Internet.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục các bảng biểu và danh mục
tài liệu tham khảo, khóa luận được trình bày trong 3 chương:
• Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của hàng dệt
may xuất khẩu
• Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam
giai đoạn 2006 - 2011
• Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực canh tranh hàng dệt may Việt
Nam xuất khẩu trên thị trường quốc tế
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu và tập thể các
thầy, cô giáo Trường Đại học Ngoại Thương, các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và
• Theo Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học (Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà Nội
2001, trang 42): “Cạnh tranh - sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay
quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà
không phải ai cũng có thể giành được”.
• Từ điển thuật ngữ kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992) định nghĩa: “Cạnh
tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm
tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về
phía mình; là hoạt động tranh đua giữa nhiều người sản xuất hàng hóa, giữa các
thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường bị chi phối bởi quan
hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.
• Theo như diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD), cạnh tranh được định nghĩa là: “Khả năng của các doanh
nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn
trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Tựu chung lại, xét một cách tổng quan: “Cạnh tranh là mối quan hệ kinh tế
mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau bằng mọi biện pháp kể cả nghệ thuật và
cả thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị
trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi
nhất, mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi ích”.
8
Như vậy, có nhiều cách thức tiếp cận về cạnh tranh, khóa luận này chỉ tập
trung nghiên cứu vào cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp trong nội bộ một ngành sản
phẩm cụ thể mà không đi vào nghiên cứu cạnh tranh giữa các ngành hàng.
1.1.1.2. Vai trò của cạnh tranh
• Đối với nền kinh tế
Vai trò của cạnh tranh ngày càng được khẳng định trong nền kinh tế hiện
nay. Dựa trên quy luật giá trị, cạnh tranh góp phần điều tiết lại quá trình sản xuất và
lưu thông hàng hóa, phân bổ đồng đều các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh
vực của nền kinh tế, nhờ đó khai thác được các tiềm năng, thu hút được vốn, khoa
học, kỹ thuật, công nghệ từ nhiều nguồn, mở rộng năng lực sản xuất.
trình độ, kiến thức về sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, cạnh tranh chính là
điều kiện tốt để chọn lọc được những doanh nghiệp kinh doanh giỏi, hình thành nên
đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ và lực lượng lao động lành nghề đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế, xã hội.
• Đối với người tiêu dùng
Một khi sự tự do cạnh tranh xuất hiện, người tiêu dùng có quyền tự do lựa
chọn sản phẩm, dịch vụ hoàn toàn theo ý muốn chủ quan của bản thân. Ngày nay,
nhờ có cạnh tranh, hàng hóa và dịch vụ có chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được
nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng dù là những nhu cầu nhỏ nhất. Bên cạnh
đó, đi cùng với quá trình cạnh tranh ngày càng khốc liệt, người tiêu dùng cũng có
vai trò trong việc tác động ngược trở lại quá trình sản xuất của doanh nghiệp để họ
có thể nhận được những sản phẩm tốt hơn hay được đáp ứng nhu cầu đa dạng hơn.
Ở một khía cạnh khác, các doanh nghiệp luôn đề cao vai trò của khách hàng
và sự cạnh tranh như là những yếu tố không thể tách rời trong quá trình tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy, nhờ có vai trò của cạnh tranh mà người
tiêu dùng thực sự được tôn trọng hơn. Bên cạnh đó, cạnh tranh cũng thúc đẩy và
nâng cao số lượng cũng như chất lượng sản phẩm, đem lại cho người tiêu dùng
những lợi ích cao nhất.
1.1.2. Một số lý thuyết và mô hình về năng lực cạnh tranh
Từ điển thuật ngữ kinh tế học (Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa Hà Nội,
2001, trang 349) đưa ra định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh
tranh; Tiếng Anh - Competitiveness Power) là khả năng giành được thị phần lớn
10
trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần
hay toàn bộ thị trường”.
Tóm lại, có thể hiểu, năng lực cạnh tranh là sức mạnh tương đối của một
chủ thể kinh tế này so với các chủ thể kinh tế khác. Kinh tế học thường phân loại
năng lực cạnh tranh thành ba loại theo chủ thể cũng như cấp độ sau: năng lực cạnh
tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh
của sản phẩm, dịch vụ. Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao đồng nghĩa với
4. Y tế và giáo dục tiểu học
Nhóm B
5. Đào tạo và giáo dục đại học
6. Hiệu quả thị trường hàng hóa
7. Thị trường lao động: Tính linh hoạt và
năng suất
8. Sự phát triển của thị trường tài chính
9. Khả năng đáp ứng về công nghệ
10. Quy mô thị trường
Nhóm C
11. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh doanh
12. Cải cách, đổi mới
(Nguồn: WEF - 2011)
1.1.2.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cho đến nay vẫn chưa
được hiểu một cách thống nhất. Bên cạnh đó, không ít ý kiến đưa ra đồng nhất năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh. Do đó, để có thể đưa ra
khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, chúng ta sẽ xem xét một
vài quan điểm như dưới đây.
Trong bài viết về “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, đăng trên tạp chí Lý luận - Chính
trị, số ra tháng 8 năm 2005, Ts Trần Thị Minh Châu cho rằng “năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp biểu hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì và mở
rộng thị phần, mức doanh lợi, lợi nhuận của doanh nghiệp trên thị trường trong
nước, khu vực và thế giới. Một quốc gia có nhiều doanh nghiệp có ưu thế cạnh
tranh trên thị trường quốc tế, có khả năng đổi mới về công nghệ sản xuất, phương
thức quản lý, xúc tiến thị trường và có môi trường kinh doanh thuận lợi phản ánh
khía cạnh nhất định của năng lực cạnh tranh quốc gia”. (Trần Thị Minh Châu,
2005, trang 51)
Trong khi đó, M. Porter đưa ra quan điểm như sau “trong nền kinh tế thị
trường, thương hiệu,
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế thì các
quan hệ thương mại cũng phát triển; theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi
hàng hóa. Sự mở rộng trao đổi thương mại tác động ngược trở lại quá trình sản xuất
của mỗi nước theo cả hai chiều: Kích thích gia tăng khối lượng hàng hóa được thị
trường chấp nhận và hạn chế sản xuất những hàng hóa mà thị trường không chấp
nhận. Như vậy, mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người
13
tiêu dùng phản ứng với các mức độ cao thấp khác nhau. Sự phản ứng của người tiêu
dùng thể hiện qua việc mua hay không mua sản phẩm đó. Đây là biểu hiện tổng
quát cuối cùng về sức cạnh tranh của sản phẩm đó. Nói cách khác, cạnh tranh giữa
các sản phẩm trên một thị trường là quá trình thể hiện khả năng hấp dẫn tiêu dùng
của các sản phẩm đối với khách hàng trên một thị trường cụ thể và trong một thời
gian nhất định.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể gắn với một doanh nghiệp, một
quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả các quốc gia, các doanh nghiệp. Đối với
một doanh nghiệp hoặc một ngành, một sản phẩm, năng lực cạnh tranh gắn với mục
tiêu duy trì sự tồn tại và thu được lợi nhuận trên thị trường và được thể hiện cụ thể
bằng lợi thế cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh quốc gia và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Một
quốc gia hay nền kinh tế có khả năng cạnh tranh tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp
tạo dựng được năng lực cạnh tranh tốt hơn trên thị trường thế giới. Nói cách khác,
năng lực cạnh tranh quốc gia là một nguồn hình thành năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, nó sẽ góp phần vào
việc nâng cao thu nhập và tác động tích cực đến môi trường cạnh tranh và do đó
góp phần vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
1.1.2.4. Lý thuyết về mô hình SWOT đánh giá năng lực cạnh tranh
SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh:
Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và Threats
(Nguy cơ). Đây là công cụ cực kỳ hữu ích giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra
Nhóm 1: Điểm mạnh (S) và Điểm yếu (W): là những nhân tố bên trong
được kiểm soát bởi chính doanh nghiệp như công tác quản lý, hoạt động marketing,
tài chính - kế toán, sản phẩm và sản xuất, Mục tiêu của doanh nghiệp là cố gắng
tận dụng điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu.
Nhóm 2: Cơ hội (O) và thách thức (T) đề cập đến những vấn đề về mặt kinh
tế, chính trị, xã hội, khoa học, công nghệ, các xu hướng cạnh tranh và các sự kiện
có thể đem lại lợi ích hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp. Cơ hội và thách thức vượt ra
khỏi khả năng kiểm soát của doanh nghiệp nên được gọi là những nhân tố tác động
từ bên ngoài.
Như vậy với việc sử dụng phân tích SWOT, các doanh nghiệp có thể hoạch
định được những chiến lược phát triển để nắm lấy cơ hội, nhằm tránh đi hoặc giảm
bớt những thách thức từ bên ngoài, bên cạnh đó, tận dụng điểm mạnh đồng thời
khắc phục những điểm còn yếu bên trong doanh nghiệp.
15
Việc áp dụng SWOT vào phân tích và dự báo kinh tế đã được sử dụng ở cả
cấp quốc gia, cấp ngành hay doanh nghiệp. Đây là một công cụ hữu hiệu giúp
chúng ta nhận diện và phân tích những xu hướng tác động trong thời gian tới khi
những số liệu định lượng không có đủ để tiến hành phân tích hồi quy định lượng.
Ngoài ra, trên cơ sở phân tích các yếu tố trong SWOT, căn cứ vào mục tiêu,
phương hướng phát triển kinh doanh, người ta có thể đưa ra những dự báo dựa trên
bốn loại kết hợp như sau:
Bảng 1.2: Lý thuyết mô hình SWOT
Điểm mạnh
(S)
Điểm yếu
(W)
Cơ hội
(O)
Phối hợp S - O
Nhằm sử dụng các mặt
thường được xuất khẩu sang các thị trường chính của Việt Nam như quần dài, quần
short, áo jacket, áo sơ mi, áo bông, áo thun
1.2.1.2. Đặc điểm của hàng dệt may trên thị trường
• Đặc điểm về nhu cầu và tiêu thụ
Khác với các loại hàng hóa khác, hàng dệt may được sử dụng một cách
thường xuyên, liên tục và là loại hàng hóa có tính toàn cầu hóa cao. Nó được sử
dụng ở mọi châu lục, mọi quốc gia, góp phần giải quyết nhu cầu về sinh hoạt cho
hơn 7 tỉ người trên trái đất mà không phân biệt tầng lớp, giai cấp, giàu nghèo,
không phân biệt giới tính, độ tuổi. Người tiêu dùng quan tâm đến sản phẩm dệt may
phụ thuộc vào hoàn cảnh, địa điểm hay thời gian khác nhau. Tuy nhiên, dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào thì người tiêu dùng vẫn phải sử dụng các sản phẩm dệt may
thường xuyên trong sinh hoạt, trong công việc, học tập cũng như các hoạt động
khác.
Sản phẩm dệt may không có hàng hóa thay thế, thể hiện qua việc không có
hàng hóa khác cạnh tranh trong nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng mà chỉ có các
nguyên phụ liệu tạo ra hàng dệt may được sử dụng thay thế cho nhau. Hay nói cách
khác, cạnh tranh giữa các hàng dệt may là chính là cạnh tranh trong việc sử dụng
các nguyên phụ liệu đầu vào và cách thức tạo ra các sản phẩm khác nhau. Sự cạnh
tranh giữa các sản phẩm dệt may trên thị trường chủ yếu là cạnh tranh về kiểu dáng,
mẫu mã, thiết kế chứ không có yếu tố cạnh tranh của hàng hóa thay thế. Đây là
một đặc điểm rất quan trọng của sản phẩm dệt may, nhờ có nó mà các doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh sẽ biết cách tìm ra những biện pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh qua con đường đa dạng hóa mẫu mã, kiểu dáng, thiết kế.
Sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa dạng tùy
thuộc vào đối tượng tiêu dùng. Người tiêu dùng trên thế giới khác nhau về văn hóa,
phong tục tập quán, tôn giáo, hay khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới tính,
tuổi tác sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục. Điều đó tác động đến việc
17
nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu của các nhóm người tiêu dùng nhằm
đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm.
trường lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì cho thấy hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp có hiệu quả, chiếm một vị trí ổn định và vượt trội hơn so
với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Thị phần của mỗi doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu dệt may trên một thị
trường được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu tiêu thụ hàng dệt may của bản
thân doanh nghiệp đó so với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh
dệt may trên thị trường đó. Mỗi một chủng loại sản phẩm dệt may thông thường sẽ
chiếm những mảng thị trường nhất định, những mảng thị trường đó chính là số
lượng khách hàng của doanh nghiệp.
Thị phần của doanh nghiệp xuất khẩu dệt may được tính theo công thức:
Trong đó:
- MS : Thị phần của doanh nghiệp
- R : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong một khoảng
thời gian nhất định
- TR : Tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường trong
một khoảng thời gian nhất định
Công thức trên tính thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp so với toàn bộ thị
trường. Ngoài ra để đánh giá vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, người ta còn
dùng chỉ tiêu thị phần tương đối, đó là tỷ lệ về doanh số bán hàng của doanh nghiệp
so với đối thủ cạnh tranh. Chỉ tiêu này cho biết vị thế của doanh nghiệp so với các
đối thủ cạnh tranh trên thị trường như thế nào.
Trong đó:
- R1 : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong một khoảng
thời gian nhất định
- R2 : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trong một
khoảng thời gian nhất định
Nếu hệ số thị phần trên lớn hơn 1 thì lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về doanh
nghiệp và ngược lại, nếu hệ số thị phần nhỏ hơn 1, doanh nghiệp sẽ không có lợi thế
cạnh tranh khi so sánh với đối thủ đang xét.
19
hoạt động xúc tiến thương mại. Đây là xu thế chung của các doanh nghiệp sản xuất
20
kinh doanh hàng dệt may trên thế giới nhằm tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm dệt
may, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
1.2.2.3. Giá cả của sản phẩm dệt may
Giá cả sản phẩm là một trong những yếu tố quan trọng trong chiến lược
cạnh tranh của mỗi một doanh nghiệp. Một khi doanh nghiệp xác định chiến lược
cạnh tranh thông qua giá cả thì doanh nghiệp sẽ phải tiến hành sản xuất với chi phí
thấp nhất có thể để giá cả hàng hóa, dịch vụ của mình thấp hơn so với các đối thủ
cạnh tranh trên thị trường. Cạnh tranh thông qua giá cả đem đến cho người tiêu
dùng nhiều sự lựa chọn hơn khi quyết định mua sản phẩm. Thông thường, có thể
thấy tâm lý chung của người tiêu dùng là sẽ lựa chọn những sản phẩm cùng loại,
cùng chất lượng, cùng các dịch vụ như nhau nhưng lại có giá rẻ hơn. Trong môi
trường xã hội có nhiều biến động như bất ổn về kinh tế hay chính trị như giai đoạn
hiện nay thì yếu tố giá cả sẽ thu hút được sự quan tâm cũng như cân nhắc kỹ lưỡng
của người tiêu dùng nhiều hơn. Do đó, đây là một yếu tố quan trọng trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng dệt may, nó tạo điều kiện cho sản phẩm dệt
may của doanh nghiệp ngày càng có chỗ đứng trên thị trường, hay nói cách khác là
sản phẩm của doanh nghiệp có vị trí cạnh tranh cao hơn.
Giá cả sản phẩm bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như nguyên vật liệu đầu
vào, chi phí vận chuyển, xếp dỡ, kho bãi, nhà xưởng, khấu hao máy móc thiết bị,
lương nhân công và các chi phí hoạt động khác. Ngoài ra, kênh phân phối càng lớn
thì chi phí của sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng sẽ càng cao.
Tuy giá cả sản phẩm không quyết định hoàn toàn tới năng lực cạnh tranh
của sản phẩm nhưng nó là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng
của người tiêu dùng. Vì thế, doanh nghiệp cần phải tiết kiệm các nguồn lực đầu vào,
sử dụng hợp lý các nhân tố trong quá trình sản xuất kinh doanh và phải xác định
cho mình một chiến lược giá phù hợp nhất.
1.2.2.4. Chất lượng của sản phẩm dệt may
Cũng như nhiều sản phẩm khác, bên cạnh giá cả thì chất lượng sản phẩm
dáng, chủng loại
Mẫu mã của sản phẩm là hình thức bên ngoài của sản phẩm đó. Nó được
thể hiện bởi các yếu tố như hình dáng, màu sắc, kích thước, của sản phẩm. Càng
ngày mẫu mã sản phẩm càng có vai trò lớn hơn trong quyết định mua hàng của
người tiêu dùng. Do đó, nó cũng tác động không nhỏ tới năng lực cạnh tranh của
sản phẩm. Mẫu mã phải mang tính thẩm mỹ và thời trang cao, khơi gợi trí tò mò và
tâm lý tiêu dùng của khách hàng. Đặc biệt, đối với những sản phẩm mang tính thời
22
trang như quần áo, giày dép, nội thất, thì mẫu mã là vô cùng quan trọng, bởi vì
các mặt hàng này có tính thời vụ hoặc bị ảnh hưởng bởi xu hướng thời trang, thị
hiếu của người tiêu dùng trong nước cũng như quốc tế. Cho nên, những nhà kinh
doanh mặt hàng này cần hết sức chú ý đến các nhân tố này mới có thể nâng cao
năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
1.2.2.6. Thương hiệu của sản phẩm dệt may
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA), “thương hiệu là một cái tên,
một từ ngữ, một ký hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ thiết kế hoặc tập hợp các yếu
tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một hoặc một nhóm
người bán với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.” (Vũ Đức Minh,
2009, trang 26 - 27). Hay nói một cách khác, thương hiệu thường được quan niệm
theo nghĩa rộng nhằm để phân biệt và thể hiện sự khác biệt giữa sản phẩm hoặc dịch
vụ của doanh nghiệp này với sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp khác.
Sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao đồng nghĩa với việc nó được người
tiêu dùng biết đến, hay nói một cách khác chính là thương hiệu của sản phẩm đó
được định hình trong tâm trí, suy nghĩ của người tiêu dùng. Lúc này, sản phẩm sẽ
chứng minh được cho khách hàng rằng những giá trị mà nó mang lại lớn hơn sản
phẩm của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Khi trong tâm trí của người tiêu
dùng đã có hình ảnh sản phẩm của doanh nghiệp và họ luôn đặt niềm tin vào sản
phẩm đó thì thương hiệu sẽ trở thành yếu tố lôi kéo khách hàng, giúp sản phẩm có
sức cạnh tranh cao, khẳng định được vị thế của mình khi cạnh tranh trên thị trường
chứ không chỉ nhờ yếu tố giá cả hay chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Chính
cho các hoạt động đầu tư, mở rộng kinh doanh và xuất khẩu. Đây là quy luật khách
quan trong mối quan hệ giữa chính trị, ngoại giao và phát triển kinh tế.
Trong khi đó, nhân tố luật pháp bao gồm các bộ luật, các quy định và tiêu
chuẩn đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng như các chính sách khuyến
khích hay hạn chế xuất khẩu hàng dệt may. Những quy định pháp lý này tạo ra hành
lang pháp lý thuận lợi và minh bạch cho hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng dệt may của một quốc gia khác. Một môi trường pháp lý đầy
đủ, đồng bộ vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của một quốc gia tiến
hành hoạt động xuất khẩu vừa điều chỉnh các hoạt động theo hướng quốc gia nhập
khẩu muốn đạt tới.
• Các nhân tố về văn hóa - xã hội
Các yếu tố đó là tình trạng việc làm, thất nghiệp, bình đẳng trong xã hội,
trình độ giáo dục, lối sống, phong tục tập quán, tâm lý xã hội, tâm lý tiêu dùng, tiết
24
kiệm, các độ tuổi trong xã hội của quốc gia nhập khẩu tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp quốc gia xuất khẩu, từ
đó hiệu quả kinh doanh cũng bị ảnh hưởng. Với một xã hội mà có trình độ văn hóa
cao sẽ thuận lợi trong việc xuất khẩu những hàng may mặc có chất lượng cao, kiểu
dáng mẫu mã đẹp, hiện đại. Một xã hội có tâm lý tiêu dùng hơn là tiết kiệm sẽ là
một thị trường lý tưởng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc.
1.2.3.2. Nhóm các nhân tố thị trường và ngành hàng dệt may
• Khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng là một nhân tố có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với các doanh nghiệp. Họ có thể ảnh hưởng, tác động làm tăng hoặc
giảm lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách đặt ra những yêu cầu chất lượng sản
phẩm cao hơn hoặc dịch vụ nhiều hơn với giá cả rẻ hơn. Trong khi đó, các doanh
nghiệp sản xuất đều mong muốn thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng, bởi
vì thỏa mãn tốt nhu cầu của người tiêu dùng đồng nghĩa với việc tỷ lệ thị phần mà
doanh nghiệp giành và duy trì được sẽ tăng lên.
Có thể khẳng định khách hàng là một bộ phận không thể tách rời trong quá
1.2.3.3. Nhóm nhân tố nội tại các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may
• Nguồn nhân lực
Lao động luôn là yếu tố đầu tiên cũng như là yếu tố cuối cùng tạo nên sự
thành hay bại của một doanh nghiệp, phải có nguồn nhân lực mới tạo ra sản phẩm
một cách trực tiếp hay gián tiếp. Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ là những
người quyết định các hoạt động sản xuất kinh doanh: sản xuất cái gì, sản xuất như
thế nào, sản xuất cho ai. Mỗi quyết định của họ có ý nghĩa hết sức quan trọng liên
quan đến sự tồn tại, phát triển hay diệt vong của doanh nghiệp. Trong khi đó, trình
độ tay nghề của lao động còn ảnh hưởng đến năng suất lao động của một người lao
động. Năng suất lao động thấp ngoài việc sẽ khiến cho giá thành cao mà còn có thể
không đồng đều về chất lượng. Những nhân tố này rõ ràng có ảnh hưởng trực tiếp
đến năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp.
• Năng lực sản xuất
Là một tiêu chí hết sức quan trọng trong việc phân tích môi trường doanh
nghiệp. Tùy thuộc vào mục tiêu và kế hoạch đề ra mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn
phương thức sản xuất, từ đó sẽ ảnh hưởng đến giá cả, đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Phân tích sản xuất bao gồm phân tích năng lực sản xuất, chi phí và
thời hạn sản xuất, việc phân bổ nguồn lực, các biện pháp sản xuất, phân tích cung
ứng và lưu kho, xác định quy mô tối ưu, đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục.
• Năng lực tài chính doanh nghiệp