Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Tổng Cty Thép VN giai đoạn (2004- 2008)- Thực trạng và giải pháp - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Thép là vật tư chiến lược không thể thiếu của ngành công nghiệp, xây dựng và
quốc phòng, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Ngành thép được xác định là ngành công nghiệp được ưu tiên phát
triển. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, ngành thép đang gặp rất nhiều khó khăn do
những nguyên nhân chủ quan và khách quan như: năng lực sản xuất còn yếu kém,
trang thiết bị còn lạc hậu, những biến động của thị trường thế giới... Để đối phó với
tình hình đó, không thể thiếu được sự chỉ đạo và hỗ trợ từ nhà nước; cũng như sự
phối hợp, liên kết giữa các đơn vị sản xuất trong nước.
Tổng công ty Thép Việt Nam được thành lập từ những năm đầu thập kỷ 90, là
đơn vị có vai trò tiên phong, dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất thép của nước ta. Hàng
năm, Tổng công ty Thép Việt Nam đã cung ứng cho thị trường trong nước một lượng
thép lớn; đáp ứng tương đối nhu cầu về thép trong nước; nộp ngân sách hàng trăm tỷ
đồng. Trong những năm qua, Tổng công ty luôn chú trọng đầu tư mở rộng quy mô,
nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng
cao đáng kể năng lực cạnh tranh và củng cố uy tín trên thị trường.
Sau một thời gian thực tập tại Tổng công ty, được sự giúp đỡ từ các anh chị,
cô chú trong Tổng công ty cũng như sự hướng dẫn của Thạc sĩ Phan Thu Hiền, em đã
tổng hợp một số báo cáo phân tích và nghiên cứu để rút ra được những nhận định
chung về Tổng công ty, về tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình đầu tư phát
triển tại Tổng công ty. Qua đó em đã lựa chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Đầu tư
nâng cao năng lực cạnh tranh tại Tổng công ty Thép Việt Nam giai đoạn (2004-
2008)- Thực trạng và giải pháp”.
Đề tài của em gồm 2 chương:
Chương I: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Tổng công ty
Thép Việt Nam.
Chương II: Một số giải pháp tăng cường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh
của Tổng công ty Thép Việt Nam.
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
1

và với người tiêu dùng là tiện ích tiêu dùng.
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có
nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh
nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia
vv..điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệp
hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một
quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân ...
- Ở Phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống mỹ
thì. Cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị
trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các
đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng đợc thu nhập thực tế của
người dân nứơc đó.
- Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì
định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là" Khả năng của nước đó đạt được
những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội
(GDP) tính trên đầu người theo thời gian.
Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các
điểm hội tụ chung sau đây.
Cạnh tranh là cố gắng nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình trong môi
trường cạnh tranh. Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:
- Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể có
cùng các mục đích, mục tiên và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng
mà chủ thể cùng hớng đến chiếm đoạt. Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên
bán, đó là các loại sản phẩm tưng tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của
khách hàng mà các chủ thể tham gia canh tranh đều có thể làm ra và đợc người mua

tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế tương đối bền vững cà các đặc
trưng kinh tế khác.
* Ngành: Khả năng của một ngành tồn tại và phát triển bền vững, các đặc
trưng kinh tế, khi các quá trình kinh tế nội sinh thay thế lẫn nhau.
* Doanh nghiệp: Khả năng bù đắp chi phí duy trì lợi nhuận được đo bằng thị
phần của sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp đó trên thị trường.
Các doanh nghiệp của Việt Nam có đặc trưng đều chủ yếu là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, các điều kiện về vốn, năng lực công nghệ và thị trường vẫn còn
thấp, điều này đã cản trở nhiều cơ hội kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhưng mặt
khác, đối với các doanh nghiệp nhỏ khi môi trường kinh doanh mở cửa tính đa dạng
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của nhu cầu cũng tạo ra nhiều nhóm khách hàng có nhu cầu tại chỗ riêng biệt để
chuyển đổi, hơn nữa các doanh nghiệp vừa cà nhỏ thường có tính linh hoạt cao, dễ
thích nghi với các điều kiện kinh tế chính trị thay đổi. Như vậy, bên cạnh những mặt
hạn chế, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn có thể phát huy những lợi thế về tính độc
đáo đơn nhất và đáp ứng các nhu cầu tại địa phương mình.
Một số chỉ số so sánh năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp:
- Chỉ số về công suất: năng suất lao động tổng hợp, năng suất lao động của
từng nhân tố cấu thành nên sản phẩm.
- Chỉ số về công nghệ: chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, mức độ
hiện đại hóa các máy móc thiết bị…
- Chỉ số đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, chính sách marketing
+ Sản phẩm: Chất lượng sản phẩm, sự khác biệt giữa các sản phẩm như thế
nào, giá trị thương hiệu, mức độ cải tiến, mức độ phát triển và cung ứng những sản
phẩm mới.
+ Giá: độ linh hoạt, sự mềm dẻo trong các quyết định điều chỉnh giá…
+ Hình thức tiêu thụ và phân phối sản phẩm: Thiết kế và kiểm soát các kênh
phân phối, hạ tầng cơ sở tại các kênh phân phối, hiệu quả hoạt động tại đó…

2.2.Yếu tố bên trong
Năng lực tài chính, cơ sở vật chất, nhân sự, marketing, điều hành quản trị kinh
doanh, cơ cấu tổ chức sản xuất, văn hóa tổ chức của công ty, hoạt động R&D, uy tín,
danh tiếng của công ty và sản phẩm do công ty cung ứng đều là những yếu tố cần
quan tâm khi nghiên cứu các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
công ty.
Như vậy toàn bộ các nhân tố bên trong và bên ngoài này đã tạo ra nguồn sức
mạnh từ bên trong giúp công ty phát triển năng lực cạnh tranh của mình. Điều này
càng được thể hiện rõ trên mô hình chứa giá trị sau:
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mô hình giá trị sản phẩm:
Hệ thống các chỉ số của công ty
Năng lực tài chính
Quản trị nguồn nhân lực
Phát triển khoa học công nghệ
Thể chế hành chính
Hậu
cần
đầu
vào
Tổ chức
SX- KD
Hậu
cần đầu
ra
Marketing Dịch vụ
sau bán
(Nguồn: Tạp chí cộng sản số 21 (141) năm 2007)

Ngành thép Việt Nam manh nha từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX với mẻ
gang đầu tiên của khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên do phía Trung Quốc trợ giúp.
Mặc dù năm 1963 mẻ gang đầu tiên được ra đời những mãi đến năm 1975, Việt Nam
mới có được sản phẩm thép cán. Sau đó, thời kỳ 1976- 1989 là thời gian mà ngành
thép không có bước tiến đáng kể, chỉ phát triển ở mức cầm chừng. Nguyên nhân của
sự phát triển cầm chừng này phải kể đến tình hình khó khăn của nền kinh tế, đất nước
rơi vào cuộc khủng hoảng, nông nghiệp được ưu tiên trước nhất. Bên cạnh đó, Việt
Nam là nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, được ưu tiên nhập khẩu thép với giá rẻ
từ Liên Xô cũ và các nước XHCN khác. Do thép nhập khẩu rẻ hơn nhiều so với sản
xuất trong nước nên Việt Nam chọn phương án nhập khẩu thép để đáp ứng nhu cầu
trong nước, vì vậy mà ngành thép không phát triển. Sản lượng chỉ duy trì ở mức
40.000- 85.000 tấn/năm.
Do thực hiện chủ trường đổi mới kinh tế và chính sách mở cửa của Chính phủ,
thời kỳ 1989- 1995, ngành thép đã bắt đầu có bước tăng trưởng đáng kể, sản lượng
thép sản xuất trong nước vượt ngưỡng 100.000 tấn/năm. Đánh dấu sự phát triển vượt
bậc của ngành thép là sự ra đời của Tổng công ty Thép Việt Nam vào năm 1990.
Tổng công ty được thành lập với mục đích thống nhất quản lý ngành thép quốc doanh
trong cả nước. Thời kỳ này, ngành Thép Việt Nam như được thay da đổi thịt, xuất
hiện nhiều dự án đầu tư theo chiều sâu và liên doanh với đối tác nước ngoài được
thực hiện. Ngành Thép Việt Nam cũng thu hút được sự quan tâm từ các ngành trọng
điểm khác của nền kinh tế như ngành cơ khí, xây dựng, quốc phòng…tham gia đầu
tư dự án nhỏ sản xuất thép để phục vụ sự phát triển của chính ngành mình. Sản lượng
thép cán của ngành Thép năm 1995 đạt 450.000 tấn/năm, tương đương tăng gấp 4 lần
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
so với năm 1990. Theo mô hình tổng công ty 91, tháng 4/1995, Tổng công ty Thép
Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất giữa Tổng công ty Thép Việt Nam và
Tổng công ty kim khí.
Giai đoạn 1996- 2000, ngành Thép Việt Nam tăng trưởng với tốc độ cao và có

thép cán các loại và 1,2 – 1,5 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán.
Tính đến hết 2007, về căn bản ngành thép Việt Nam đã đạt được chỉ tiêu so
với kế hoạch đề ra. Sản lượng phôi thép năm 2007 đạt 782.000 tấn, thép cán đạt 2,2
triệu tấn, thấp hơn so với quy hoạch phát triển ngành phải đạt đến năm 2005. Tuy
rằng sản lượng mục tiêu chưa đạt được nhưng sản lượng thép tiêu thụ trong nước
năm 2007 đã tăng từ 10- 14% so với mức tiêu thụ năm 2006. Năm 2007, mức bình
quân về tiêu thụ thép của Việt Nam đạt xấp xỉ 100 kg/người/năm, mức được coi là
điểm khởi đầu giai đoạn phát triển công nghiệp các quốc gia. Mức tiêu thi này đã
vượt xa dự báo về mặt tăng trưởng, đưa Việt Nam trở thành thị trường có mức tiêu
thụ thép cao nhất thế giới.
Cuối năm 2007 và đầu năm 2008 do bùng nổ của xây dựng, giá thép trên thị
trường Thép thế giới tăng nhanh chóng. Tại Việt Nam, giá thép thời gian này tăng
gấp 4 lần so với thời gian trước đó và có lúc lên đến 18 triệu VND/tấn. Giá thép tăng
đẩy giá nhà thầu xây dựng và người tiêu dụng khốn đốn, ảnh hưởng nhiều đến nền
kinh tế.
Tuy có bước chuyển biến đáng kể trong phát triển ngành Thép nhưng ngành
Thép Việt Nam lại lệ thuộc 60% vào phôi thép thế giới. Nguồn tài nguyên trong nước
chưa tận dụng được, các sản phẩm Thép phục vụ hoạt động quốc phòng, đóng tàu
Việt Nam chưa thể sản xuất được và phải nhập khẩu từ nước ngoài. Việt Nam được
coi là nước có thuận lợi hơn so với một số nước trong khối ASEAN khi có nguồn
quặng sắt, trữ lượng than antraxit lớn. Tuy nhiên do cơ chế chính sách ưu đãi thúc
đẩy xây dựng nhà máy phôi còn hạn chế và do vốn đầu tư xây dựng nhà máy luyện
phôi luôn cao hơn nhiều lần so với cán thép. Hạn chế sự phụ thuộc vào phôi thép thế
giới, các doanh nghiệp Việt Nam dùng tới biện pháp là nhập phế liệu từ nước ngoài
về và sử dụng phế liệu cũ để tạo phôi thép. Chính vì vậy mà công nghệ cán có trước
công nghệ luyện. Đây là hướng đi tích cực khi nhà nước chưa có nhiều chính sách ưu
đãi thúc đẩy công nghệ sản xuất phôi thép. Ngành Thép Việt Nam vẫn ở tình trạng
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tổng Công ty Thép chuyên sản xuất gang thép với các cơ sở chủ lực là Công ty
Gang thép Thái Nguyên, Công ty Thép Miền Nam và Công ty Thép Đà Nẵng;
- Tổng Công ty Kim khí chuyên tổ chức kinh doanh kim khí với hệ thống tiêu thụ
rộng khắp tại các khu công nghiệp tập trung, các tỉnh, thành phố và vùng kinh tế
trọng điểm trong cả nước.
- Từ năm 1996- 2006, Tổng Công ty Thép Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo
mô hình Tổng Công ty 91. Đến ngày 1/7/2007, Tổng Công ty đã hoàn tất các thủ tục
pháp lý và các quy chế vận hành nội bộ chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty
mẹ - Công ty con theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Ngày thành lập Tổng công ty theo mô hình Tổng công ty 91 (29/4 hàng năm)
được Hội đồng quản trị Tổng công ty chọn làm ngày kỷ niệm thành lập Tổng công ty
Thép Việt Nam.
Tổng công ty Thép Việt Nam hiện nay kế tục sự nghiệp của các Tổng công ty
trước đây thuộc Bộ Công nghiệp. Tổng công ty được hình thành qua các thời kỳ, gắn
liền với lịch sử phát triển của đất nước và của ngành công nghiệp luyện kim. Đó là sự
kết hợp, sáp nhập, hợp nhất nhiều doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị trong ngành sản xuất
thép và kinh doanh kim khí của Nhà nước trong những thập kỷ qua.
2.Lĩnh vực hoạt động chủ yếu.
2.1.Kinh doanh xuất nhập khẩu
Về nhập khẩu: Hàng năm Tổng công ty Thép Việt Nam nhập về một khối
lượng lớn các mặt hàng kim khí trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa
đủ lượng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước như thép tấm dầy, thép lá các loại;
thép hình, thép ống cỡ lớn; thép ống không hàn; thép hợp kim cho cơ khí chế tạo
máy, kim loại màu.
Về xuất khẩu: Hàng xuất khẩu chủ yếu là gang đúc và các sản phẩm đúc từ
gang. Từ năm 2000, Tổng công ty Thép Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu thép xây
dựng sang một số nước trong khu vực như Campuchia, Lào và gần đây là I Rắc.
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
13

Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu chịu lửa, thuỷ tinh, gốm sứ…và các
ngành công nghiệp khác; Sản xuất gạch chịu lửa Samot loại A, B; Sản xuất và cung
cấp vữa xây Samot các loại, bột khuôn đúc từ nguyên liệu của Trúc Thôn; Sản xuất
đất đèn các loại phục vụ công nghiệp và dân dụng.
2.4.Xây lắp chế tạo và sửa chữa thiết bị
Công ty cơ điện luyện kim chuyên sản xuất tấm sóng Amiang- xi măng; Khai
thác đá các loại phục vụ ngành Công nghiệp, ngành xây dựng và giao thông; Chuyên
sản xuất xi măng mác PCB30, PCB40, phục vụ trong xây dựng và giao thông; Chế
tạo, sửa chữa và lắp đặt các thiết bị luyện kim và khai khoáng; Xây dựng và chế tạo
các công trình công nghiệp và dân dụng; Chế tạo lắp đặt sửa chữa kết cấu thép các
công trình công nghiệp và dân dụng; xây mới, sửa chữa các loại lò công nghiệp; Lắp
đặt sửa chữa các loại đường ống dân dụng và công nghiệp với mọi áp lực; Đại tu, sửa
chữa lắp đặt động cơ điện cao thê, hạ thế công suất đến 2500 Kw, điện thế đến 6 Kv;
Chỉnh rơle và kiểm định các thiết bị điện cao, hạ thế.
2.5.Kinh doanh các sản phẩm kim khí
Công ty Kim khí Hà Nội, công ty kim khí thành phố Hồ Chí Minh chuyên kinh
doanh kim khí, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất của ngành thép; Tổ chức sản
xuất gia công (hoặc liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước) để sản
xuất các sản phẩm bằng thép; Kinh doanh các dịch vụ về giao nhận, vận chuyển, kho
bãi, nhà xưởng, cho thuê văn phòng, các hoạt động phụ trợ cho sản xuất kinh doanh
và các dịch vụ đại lý, kí gửi các mặt hàng.
Ngoài ra, công ty kinh doanh thép và vật tư Hà Nội,công ty kinh doanh thép và
thiết bị công nghiệp, công ty kim khí vật tư tổng hợp Miền trung có các hoạt động
mua bán kim khí chính phẩm, thép tròn, tấm, góc, hình và các loại vật tư thiết bị
Công nghiệp; Mua bán các loại vật tư phế liệu, máy móc thiết bị cũ, sản xuất gia
công, chế biến vật tư thứ liệu, tân trang, phục hồi, sửa chữa máy móc thiết bị cũ; xuất
nhập khẩu và nhận uỷ thác xuất nhập khẩu các loại mặt hàng máy móc công, nông

ứng lao động sang Đài Loan, Nhật Bản, Trung đông…. Với cơ cấu ngành nghề
phong phú: lao động công xưởng, xây dựng, giúp việc gia đình, đào tạo tu nghiệp
sinh…
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
3.1.Cơ cấu tổ chức
Biểu đồ 1: Sơ đồ tổ chức Tổng công ty
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát

Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
17
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phòng tổ chức lao
động
Văn phòng
Phòng kế toán- tài
chính
Phòng kỹ thuật an
toàn
Phòng đâu tư phát
triển
Phòng kinh doanh-
XNK
Phòng bất động sản
Phòng thị trường
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vụ, các đơn vị trực thuộc Tổng công ty theo chương trình, kế hoạch làm việc và thực
hiện công tác pháp chế, công tác hành chính, quản trị cơ quan; tham mưu giúp Tổng
giám đốc công tác quản lý, khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công
tác quản lý, điều hành của Tổng công ty.
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Phòng Tài chính Kế toán
Là phòng chuyên môn nghiệp vụ tham mưu giúp Tổng giám đốc, Hội đồng
quản trị Tổng công ty quản lý điều hành lĩnh vực tài chính, kế toán của Tổng công ty
theo các quy định của pháp luật hiện hành và của Tổng công ty.
• Phòng Kế hoạch và Hợp tác Quốc tế
Là phòng chuyên môn nghiệp vụ tham mưu giúp Tổng giám đốc, Hội đồng
quản trị Tổng công ty quản lý điều hành lĩnh vực xây dựng kế hoạch và tổng hợp tình
hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của Tổng công ty; Xây dựng chương
trình hợp tác quốc tế của Tổng công ty theo các quy định của pháp luật hiện hành và
của Tổng công ty.
• Phòng vật tư xuất nhập khẩu
Là phòng chuyên môn nghiệp vụ tham mưu giúp Tổng giám đốc, Hội đồng
quản trị Tổng công ty quản lý điều hành lĩnh vực xuất nhập khẩu nguyên liệu, sản
phẩm,vật tư, hàng hoá phục vụ sản xuất kinh doanh của Tổng công ty.
• Phòng Thị trường
Là phòng chuyên môn nghiệp vụ tham mưu giúp Tổng giám đốc, Hội đồng
quản trị Tổng công ty quản lý điều hành lĩnh vực nghiên cứu,đánh giá tác động của
thị trường thép trong khu vực và thế giới đến tinh hình sản xuất kinh doanh thép
trong nước, kinh doanh các sản phẩm của Tổng công ty.
• Phòng đầu tư phát triển
Là phòng chuyên môn nghiệp vụ tham mưu giúp Tổng giám đốc, Hội đồng
quản trị Tổng công ty quản lý điều hành lĩnh vực đầu tư phát triển của Tổng công ty

(Đơn vị: Tấn)
Sản phẩm 2004 2005 2006 2007 2008
Sản lượng phôi thép 650.000 660.000 710.895 781.984 882.882
Tốc độ tăng giảm liên
hoàn
1,23% 0,24% 7,7% +10% 6,9%
Sản lượng thép cán 1.030.000 1.203.000 1.937.000 2.214.000 2.171.000
Tốc độ tăng giảm liên
hoàn
+12,5% +16,8% 61% +14,3% -1,4%
(Nguồn: Tổng công ty Thép Việt Nam)
Thị trường thép trong nước chịu ảnh hưởng lớn từ thị trường thép thế giới.
Khi thị trường thép thế giới có nhiều biến động sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thị trường
Trần Thị Thanh Loan_KTĐT 47A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong nước, từ đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng
công ty. Thời kỳ 2004- 2008, thị trường thép thế giới và trong nước không ngừng
biến động, diễn biến phức tạp và do vậy kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty cũng không ổn định, có lúc tăng trưởng cao, nhưng cũng có lúc sụt giảm mạnh.
Bảng 2: Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Thép Việt Nam
(giai đoạn 2004-2008)
(Đơn vị: tỷ đồng)
Stt Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007 2008
1 Giá trị
sản xuất
công
nghiệp

22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trường nội địa, tác động xấu tới tâm lý người tiêu dùng, gây sức ép về giá trên thị
trường. Những tháng cuối năm 2007, do Chính phủ Trung Quốc điều chỉnh chính
sách hạn chế xuất khẩu phôi và nguyên liệu sản xuất thép nên nguồn cung khan hiếm,
giá cả tăng cao. Tuy vậy, nhờ có sự chỉ đạo, hỗ trợ có hiệu quả của Chính phủ, Bộ
công thương và các cơ quan quản lý cấp trên cùng với nỗ lực phát huy nội lực, Tổng
công ty Thép Việt Nam đã hoàn thành và đạt vượt mức kế hoạch đề ra. Liên tục trong
2 năm 2006 và 2007, cả doanh thu và lợi nhuận đều tăng và đạt mức cao so với
những năm trước đó.
Năm 2008 thị trường thép thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường.
Đặc biệt, 7 tháng đầu năm 2008, giá cả nhiều mặt hàng chiến lược tăng 40- 60% so
với cuối năm 2007 như: xăng dầu, vàng, kim loại, lương thực, sắt thép và nguyên liệu
sản xuất thép, thêm vào đó là chính sách giữ gìn tài nguyên bảo vệ môi trường, hạn
chế xuất khẩu thép và nguyên liệu của các nước đã tạo nên sự khan hiếm và giá cả
tăng vọt chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ qua. Thị trường thép trong nước tăng
trưởng mạnh trong 7 tháng đầu năm, tuy nhiên do Chính phủ áp dụng nhiều biện
pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô kìm chế lạm phát như: thắt chặt tín dụng, cắt giảm
các dự án đầu tư xây dựng cơ bản…cùng với việc giá thép và nguyên liệu thế giới
liên tục giảm, tác động mạnh tới tâm lý người tiêu dùng trong nước nên nhu cầu tiêu
thụ thép trong nước 5 tháng cuối năm giảm mạnh, trong khi tồn kho thành phẩm và
nguyên liệu giá cao còn nhiều đã dẫn tới thua lỗ và khó khăn về tài chính cho nhiều
đơn vị sản xuất thép và Tổng công ty Thép Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
III.Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Thép
Việt Nam
1.Khái quát về hoạt động đầu tư của Tổng công ty Thép Việt Nam (giai đoạn 2004-
2008)
1.1.Vốn –Nguồn vốn
1.1.1. Quy mô vốn đầu tư
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung cũng như hoạt động đầu

thực hiện (tỷ
đồng)
Giá trị gia
tăng
(tỷ đồng)
Tốc độ tăng
định gốc
(%)
Tốc độ tăng
liên hoàn
(%)
1 2004 2.137,572 - 100 -
2 2005 788,770 -1.348,802 -63,1% -63,1%
3 2006 328,072 -460,698 -84,65% -58,41%
4 2007 355,33 +27,258 -83,38% +8,31%
5 2008 1.128,86 +773,53 -47,2% +217,7%
6 Tổng số 4738,604 - - -
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng công ty đã triển khai thực hiện hàng loạt các dự án quan trọng, trong đó có 36
dự án chuyển tiếp và 17 dự án khởi công mới; sau đó là năm 2008 với số vốn đầu tư
lên tới 1.128,86 tỷ đồng, tăng 217,7% so với năm 2007, tổng số dự án thực hiện đầu
tư trong năm : 51 dự án trong đó có 06 dự án nhóm A, 07 dự án nhóm B và 38 dự án
nhóm C. Thấp nhất là năm 2006, giảm 58,61% so với năm 2005 do số dự án thực
hiện đầu tư trong năm là 40 dự án trong đó có 3 dự án nhóm A, 3 dự án nhóm B và
36 dự án nhóm C. Có thể nói Tổng công ty đã có sự quan tâm, đầu tư thích đáng để
nâng cao năng lực sản xuất, tuy nhiên trong thời gian tới, Tổng công ty cần phải có
chiến lược đầu tư và tăng cường đầu tư hơn nữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
1.1.2. Cơ cấu vốn đầu tư
Nguồn vốn của Tổng công ty Thép Việt Nam gồm các nguồn sau: Nguồn vốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status